Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
III. Triệu chứng lâm sàng

III. Triệu chứng lâm sàng

Tải bản đầy đủ - 0trang

-



Tiền sử của bệnh nhân về tai mũi họng (viêm tai kéo dài), về thần



kinh, chấn thương (chấn thương sọ não), về ngộ độc (ngộ độc thuốc, đặc biệt là các

khgáng sinh độc với tai), về mạch máu, về dị ứng.



-



Đặc điểm diễn tiến và tần số cơn chóng mặt.



III.2. Triệu chứng khách quan

a) Rung giật nhãn cầu (nystagmus): là triệu chứng chủ yếu.

Rung giật nhãn cầu nhãn cầu do ngun nhân tiền đình thường đánh theo

nhịp. Đó là cử động của nhãn cầu theo nhịp gồm sự nối tiếp nhau giữa hai pha: pha

chậm đưa nhãn cầu sang một phía (do tác động của hệ tiền đình), kế đến là pha

nhanh đưa nhãn cầu theo chiều ngược lại, đưa mắt về vị trí nghỉ ngơi (do tác động

của chất lưới cầu não).

Khi có triệu chứng rung giật nhãn cầu, chúng ta cần xác định hướng, chiều

và mức độ của nó.



-



Hướng (direction): Rung giật nhãn cầu tiền đình được gọi tên theo



hướng đánh nhanh vì chiều này được thấy rõ nhất khi khám lâm sàng. Có thể là

rung giật nhãn cầu ngang, dọc hoặc xoay tròn (cùng chiều kim đồng hồ hoặc ngược

chiều kim đồng hồ), hoặc rung giật nhãn cầu hỗn hợp (ngang – xoay tròn).

Hướng của rung giật nhãn cầu phụ thuộc vào vòng bán khun bị kích thích,

tức là phụ thuộc vào vị trí của đầu trong lúc khám bệnh. Rung giật nhãn cầu được

tạo ra lúc đầu là do sự di chuyển của nội dịch: pha chậm của rung giật nhãn cầu

đánh theo hướng của dòng nội dịch.

Chóng mặt là hiện tượng bù trừà theo hướng ngược lại: hướng pha nhanh

của rung giật nhãn cầu



-



Chiều (sens): sang (P), sang (T) đối với nystagmus ngang, lên trên,



xuống dưới đối với nystagmus dọc, cùng chiều kim đồng hồ hoặc ngược chiều kim

đồng hồ đối với nystagmus xoay tròn.



-



Mức độ:



+ Độ I: xuất hiện nystagmus có chiều đánh cùng chiều với phía mà mắt liêc

sang bên đó. Ví dụ nystagmus đánh sang (P) khi mắt liếc sang (P).

+ Độ II: nystagmus xuất hiện cả khi mắt ở đường giữa.

+ Độ III: nystagmus đánh sang chiều ngược lại với phía mà mắt liếc sang. Ví

dụ nystagmus đánh sang (T) khi mắt liếc sang (P).

b) Rối loạn thăng bằng



*



Các rối loạn tĩnh trạng: chú ý đến sự di lệch của thân, trục cơ thể: sự



di lệch này đi theo hướng của dòng nội dịch.

Dấu Romberg: khi bệnh nhân đứng, hai chân khép lại, ta sẽ thấy thân mình

BN nghiêng về một bên, hiếm hơn là nghiêng ra phía trước hoặc phía sau nhưng

thuờng là cùng một phía đối với một bệnh nhân. Rối loạn này tăng lên khi bệnh

nhân nhắm mắt (dấu Romberg tiền đình). Nếu nặng hơn, bệnh nhân có thể bị té

ngã, đôi khi xảy ra đột ngột, lúc này đứng và đi không thể thực hiện được.

Nghiệm pháp đi bộ (Unterberger test): bệnh nhân đi bộ trên một điểm trong

một phút, hai tay đưa thẳng ra trước mặt, đầu gối chân co lên phải đưa lên cao, nếu

cần thiết cho bệnh nhân đếm cùng lúc để tránh tập trung, nếu có tổn thương tiền

đình bệnh nhân sẽ khởi đầu quay trục của mình theo một hướng đặc biệt, quay hơn

450 trong 50 bước là bệnh lý.

Nghiệm pháp giơ thẳng hai tay: Bệnh nhân ở tư thế đứng thẳng, hai mắt

nhắm, hai tay đua thẳng ra trước, hai ngón trỏ nhắm vào hai ngón trỏ tương ứng

của người khám, ta ghi nhận có sự di lệch chậm trên mặt p[hẳng ngang theo

hướpng bên tiền đình bị bệnh đối với bênh lý tiền đình ngoại biên.



*

dịch



Rối loạn động trạng: sự di lệch của các chi theo hướng của dòng nội



Nghiệm pháp bước đi hình sao (Test Babinski-Weil): yêu cầu bệnh nhân

nhắm mắt, bước tới 5 bước sau đó lùi lại 5 bước lập lại nhiều lần khoảng 30 giây.

Nêu giảm chức năng tiền đình một bên bệnh nhân có khuynh hướng lệch về một

bên (bên bệnh) khi tiến lên và lệch theo hướng ngược lại khi lùi ra sau vẽ nên hình

ngơi sao.

Nghiệm pháp past pointing: Bệnh nhân giơ thẳng hai tay ra trước, ngón trỏ

chạm vào ngón trỏ của người khám, sau đó yêu cầu bệnh nhân nhắm mắt, đưa tay

lên và hạ xuống chạm vào tay người khám lần nữa. Đối với người có rối loạn tiền

đình hai ngón trỏ khơng chạm tay người khám mà bị di lệch sang một bên, chúng

ta ghi nhận độ di lệch đó. Càng làm nhiều lần, góc độ di lệch có thể càng tăng.

Trong khi khám luôn chú ý chiều của hướng đi lệch, hướng tay lệch và chiều

chậm của nystagmus xem có sự tương hợp, sự hài hòa hay khơng.



c



Nghiệm pháp nhiệt: đây là một nghiệm pháp dễ thực hiện, giúp



chúng ta đánh giá được hoạt động của từng cơ quan tiền đình riêng biệt. Cho BN

nằm ngửa, đầu nâng cao ở góc 300 độ, giữ ống bán khuyên bên ở vị trí thẳng đứng,

bơm vào tai bệnh nhân nước lạnh 33độ hoặc nước nóng 44độ trong thời gian

khoảng 40 giây, thời gian tối thiểu giữa hai lần thử là 5 phút, nước ấm ít gây khó

chịu hơn nước lạnh. Chú ý khám xem màng nhĩ có bị tổn thương trước khi làm

nghiệm pháp nhiệt (thủng màng nhĩ là chống chỉ định).

Ở bệnh nhân tiền đình bình thường, kích thích nước lạnh xuất hiện rung giật

nhãn cầu với chiều chậm hướng về tai kích và chiều nhanh theo hướng ngược lại.

Ở bệnh nhân tổn thương tiền đình một bên: kích thích khơng có rung giật

nhãn cầu, hay xuất hiện rung giật nhãn cầu chậm, có biên độ yếu và thời gian ngắn

hơn so với bên lành.



d



Nghiệm pháp ghế quay (Bárány): cho bệnh nhân ngồi trên một ghế



quay, đầu cúi ra phía trước một góc 30 độ, cho ghế quay 10 vòng trong 20 giây, sau



đó ngưng lại, quan sát các phản ứng xuất hiện. Nếu chiều quay của ghế là sang bên

phải thì sau khi ngưng quay bệnh nhân có rung giật nhãn cầu đánh ngang sang trái,

khi đứng ngã về bên trái, ngón tay lệch về bên trái.

Thường nghiệm pháp này dùng để khảo sát chức năng tiền đình hai bên ở

những bệnh nhân bị điếc hoàn toàn.



e



Nghiệm pháp Nylen-Bárány: khi bệnh nhân có chóng mặt tư thế lành



tính, nghiệm pháp này có mục đích làm tăng triệu chứng. Cho bệnh nhân ngồi quay

đầu sang phải, nhanh chóng cho bệnh nhân nằm ngửa đầu thấp hơn mặt phẳng

ngang một góc 300, quan sát có rung giật nhãn cầu và chóng mặt. Sau đó đưa bệnh

nhân ngồi dậy đầu vẫn tiếp tục dược giữ ở tư thế quay (P) quan sát xem bệnh nhân

có chóng mặt và rung giật nhãn cầu. Nghiệm pháp được lập lại với đầu và mắt

quay sang trái nằm xuống và nhìn thẳng nằm xuống.

Ngồi ra còn phải khám thêm về thần kinh xem bệnh nhân có tổn thương dây

VIII thính lực, dây VII, dây V, tổn thương tiểu não, và các tổn thương về vận động,

cảm giác.

IV. Các nguyên nhân gây chóng mặt

1/ Hội chứng tiền đình ngoại biên

1.1. Cơn chóng mặt dữ dội xuất hiện cấp tính.

Trong trường hợp này chẩn đốn tổn thương tiền đình khơng có gì khó khăn

cả: chóng mặt rất rõ, thường là xoay tròn và nặng lên khi cử động đầu.

Chóng mặt đi kèm với buồn nơn, ói mửa và rối loạn thăng bằng (chóng mặt thường

gây nên té ngã, bệnh nhân đi chệnh choạng hoặc không thể đi được).

Khám lâm sàng ghi nhận có rung giật nhãn cầu và ngón tay chỉ lệch.

a) Hội chứng tiền đình ngoại biên đi kèm với nghe kém

Bệnh Ménière hay hội chứng Menière là bệnh lý gồm những cơn chóng mặt

lập đi lập lại phối hợp với ù tai và nghe kém dần dần tai bên bệnh. Lúc đầu ù



và/hoặc nghe kém có thể khơng xuất hiện trong những cơn đầu của bệnh. Nhưng

khi bệnh tiến triển thì các triệu chứng này xuất hiện đều đặn và cường độ tăng dần

lên trong cơn chóng mặt.

Cơn chóng mặt thường xảy ra đột ngột, kéo dài nhiều phút hoặc cả giờ đồng

hồ. Chóng mặt thường theo kiểu xoay tròn và ở mức độ nặng làm bệnh nhân khơng

thể đứng hoặc đi lại được. Chóng mặt thường đi kèm với buồn nôn, nôn mửa, ù tai,

cảm giác đầy cả tai, và giảm thính lực (cường độ có thể tăng dần trong cơn).

Khám lâm sàng ghi nhận rung giật nhãn cầu có hướng ngang (có khi kèm

thêm xoay tròn). Pha chậm của rung giật nhãn cầu cũng như hướng ngón tay chỉ

lệch, hướng nghiêng người trong nghiệm pháp Romberg đều cùng phía với tai

bệnh. Bệnh nhân có khuynh hướng nằm nghiêng, tai bệnh hướng lên trên (nằm áp

tai lành xuống mặt giường) và khơng thích nhìn sang bên lành vì động tác này làm

nặng thêm tình trạng chóng mặt và rung giật nhãn cầu.

Các cơn thay đổi rất nhiều về mức độ nặng nhẹ và về tần số xuất hiện. Cơn

có thể xảy ra nhiều lần trong tuần và nhiều tuần liên tiếp, hoặc có khi chỉ tái phát

sau nhiều năm khơng có cơn.

Trong các thể nhẹ của bệnh, bệnh nhân thường có cảm giác nặng đầu, kém

tập trung chứ khơng phải chóng mặt đúng nghĩa, và có thể bị chẩn đốn lầm là lo

lắng hoặc trầm cảm.

Bệnh thường gặp ở lứa tuổi 20 đến 50, nam nữ đều mắc bệnh như nhau

Cơ chế bệnh sinh chưa rõ, có thể là do tăng thể tích trong hệ thống nội dịch

do giảm sự hấp thu hoặc tắc nghẽn trong ống dẫn.

* Điều trị:

Điều trị trong cơn cấp: nằm tại giường là phương pháp điều trị tốt nhất vì

bệnh nhân có thể tìm ra một tư thế thích hợp để chóng mặt ít xảy ra nhất.

Trong những cơn kéo dài có thể dùng dimenhydrinate, cyclizine, meclizine.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

III. Triệu chứng lâm sàng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×