Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2: CÔNG NGHỆ MPLS VPN

CHƯƠNG 2: CÔNG NGHỆ MPLS VPN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Đồ án tốt nghiệp đại học

các gói tin qua mạng thế hệ sau cũng như giải quyết các vấn đề liên quan tới khả năng

mở rộng cấp độ và hoạt động với các mạng Frame Relay và chế độ truyền tải không

đồng bộ ATM hiện nay để đáp ứng các nhu cầu dịch vụ của người sử dụng mạng.

Lịch sử phát triển MPLS

Điểm thành công của Internet ở chỗ các công nghệ của Internet được triển khai

và phát triển theo nhu cầu của thị trường. Internet không đưa ra các tiêu chuẩn theo kiểu

Recommendation như của ITU-T mà đưa ra các RFC (Request For Comments) với mục

đích cơng bố các giải pháp công nghệ đã đạt được và thu thập những đóng

Khi mạng Internet phát triển và mở rộng, lưu lượng Internet bùng nổ. Các ISP xử

lý bằng cách tăng dung lượng các kết nối và nâng cấp bộ định tuyến nhưng vẫn không

tránh khỏi nghẽn mạch. Lý do là các giao thức định tuyến thường hướng lưu lượng vào

cùng một số các kết nối nhất định dẫn đến kết nối này bị quá tải trong khi một số tài

nguyên khác không được sử dụng, mặc dù đã xuất hiện các phương pháp để nâng cao

tốc độ như sử dụng bảng định tuyến nhanh cho các gói tin quan trọng, tuy nhiên các gói

đến bộ định tuyến vẫn lớn hơn so với khả năng xử lý của bộ định tuyến vì vậy dẫn đến

tình trạng mất gói, mất kết nối... Đây là tình trạng phân bố tải khơng đồng đều và sử

dụng lãng phí tài ngun mạng Internet. Ngồi ra, với mạng Internet hiện nay, số lượng

người sử dụng ngày càng tăng, thiết bị thêm vào mạng ngày càng nhiều đồng nghĩa với

việc các bộ định tuyến lõi phải hoạt động nhiều hơn và việc mở rộng mạng là khó khăn.

Vào thập niên 90, các ISP phát triển mạng của họ theo mơ hình chồng lớp

(overlay) bằng cách đưa ra giao thức IP over ATM, cụ thể như sau:

 ATM là công nghệ connection-oriented, thiết lập các kênh ảo (Virtual

Circuit), tuyến ảo (Virtual Path) tạo thành một mạng logic nằm trên mạng vật

lý giúp định tuyến, phân bố tải đồng đều trên toàn mạng.

 Tuy nhiên, IP và ATM là hai cơng nghệ hồn tồn khác nhau, được thiết kế

cho những môi trường mạng khác nhau, khác nhau về giao thức, cách đánh

địa chỉ, định tuyến, báo hiệu, phân bố tài nguyên…

 Khi các ISP càng mở rộng mạng theo hướng IP over ATM, họ càng nhận rõ

nhược điểm của mơ hình này, đó là sự phức tạp của mạng lưới do phải duy trì

hoạt đơng của hai hệ thống thiết bị.

Bên cạnh đó, sự bùng nổ của mạng Internet dẫn tới xu hướng hội tụ các mạng

viễn thông khác như mạng thoại, truyền hình dựa trên Internet, giao thức IP trở thành

giao thức chủ đạo trong lĩnh vực mạng. Xu hướng của các ISP là thiết kế và sử dụng các



Đậu Văn Thắng – D13VT6



22



Đồ án tốt nghiệp đại học

Bộ định tuyến chuyên dụng, dung lượng chuyển tải lớn, hỗ trợ các giải pháp tích hợp,

chuyển mạch đa lớp cho mạng trục Internet và vì thế, nhu cầu cấp thiết trong bối cảnh

này là phải ra đời một công nghệ lai có khả năng kết hợp những đặc điểm tốt của chuyển

mạch kênh ATM và chuyển mạch gói IP.

Cơng nghệ MPLS ra đời trong bối cảnh này đáp ứng được nhu cầu của thị trường

đúng theo tiêu chí phát triển của Internet đã mang lại những lợi ích thiết thực, đánh dấu

một bước phát triển mới của mạng Internet trước xu thế tích hợp cơng nghệ thơng tin và

viễn thông (ICT - Information Communication Technology) trong thời kỳ mới.

Khái niệm MPLS

MPLS là công nghệ kết hợp những ưu điểm của định tuyến lớp ba trên IP và

chuyển mạch lớp hai trên ATM, cho phép truyền tải rất nhanh các gói trong mạng lõi và

định tuyến tốt trên mạng biên dựa trên nhãn.MPLS chuyển tiếp các gói trên mạng bằng

cách gán nhãn vào mỗi gói IP, tế bào ATM, hoặc frame lớp hai. Phương pháp chuyển

mạch nhãn giúp các bộ chuyển mạch quyết định chuyển tiếp tốt hơn việc định tuyến

phức tạp theo địa chỉ IP đích. MPLS cho phép các ISP cung cấp nhiều dịch vụ khác nhau

mà không cần phải bỏ đi cơ sở hạ tầng sẵn có. Cấu trúc MPLS có tính mềm dẻo khi cho

phép phối hợp với bất kỳ cơng nghệ lớp hai nào.

MPLS có khả năng mở rộng cao, triển khai hiệu quả các dịch vụ IP. Bằng việc

tích hợp MPLS vào kiến trúc mạng, các ISP có thể giảm chi phí, tăng lợi nhuận và đạt

được nhiều hiệu quả sử dụng mạng khác nhau.

Ý tưởng khi đưa ra MPLS là: “Định tuyến tại biên, chuyển mạch ở lõi”. Trong

cấu trúc của MPLS chia thành 2 mặt phẳng riêng biệt:

 Mặt phằng điều khiển (control plane): Tại đây các giao thức định tuyến lớp 3 thiết

lập các đường đi được sử dụng cho việc chuyển tiếp gói tin. Mặt phẳng điều khiển

đáp ứng cho việc tạo ra và duy trì thơng tin chuyển tiếp nhãn giữa các bộ định

tuyến chạy MPLS (còn gọi là binding ). Một số giao thức được sử dụng : OSPF,

BGP, LDP, RSVP ...

 Mặt phằng dữ liệu (data plane): Sử dụng cơ sở dữ liệu chuyển tiếp nhãn được duy

trì bởi các bộ định tuyến chạy MPLS để thức hiện việc chuyển tiếp các gói tin dựa

trên thơng tin nhãn.



Đậu Văn Thắng – D13VT6



23



Đồ án tốt nghiệp đại học



Hình 2.1. Cấu trúc hoạt động MPLS

Trong các mạng MPLS, các gói được gán nhãn tại biên của mạng và chúng được

định tuyến xuyên qua mạng dựa trên các nhãn đơn giản. Phương pháp này cho phép

định tuyến rõ ràng và đối xử phân biệt các gói trong khi vẫn giữ được các bộ định tuyến

ở lõi đơn giản.

Mặc dù thực tế rằng MPLS ban đầu được phát triển với mục đích để giải quyết

việc chuyển tiếp gói tin, nhưng lợi điểm chính của MPLS trong mơi trường mạng hiện

tại lại từ khả năng điều khiển lưu lượng của nó.

Một cách ngắn gọn, MPLS cho phép cung cấp các dịch vụ mềm dẻo, tận dụng

mạng tốt hơn, và đơn giản hoá kiến trúc mạng.Thêm vào đó, GMPLS (Generalized

MPLS) đang được nghiên cứu và phát triển sẽ cho phép MPLS chạy trực tiếp trên

DWDM mà không cần lớp trung gian nào.

 Lợi ích của MPLS:

 Làm việc với hầu hết các công nghệ liên kết dữ liệu.

 Tương thích với hầu hết các giao thức định tuyến và các công nghệ khác

liên quan đến Internet.

 Hoạt động độc lập với các giao thức định tuyến (routing protocol).

 Tìm đường đi linh hoạt dựa vào nhãn(label) cho trước.

 Hỗ trợ việc cấu hình quản trị và bảo trì hệ thống (OAM).

 Có thể hoạt động trong một mạng phân cấp.





Có tính tương thích cao.



 Đặc điểm mạng MPLS:



Đậu Văn Thắng – D13VT6



24



Đồ án tốt nghiệp đại học

 Khơng có MPLS API, cũng khơng có thành phần giao thức phía máy trạm.

 MPLS chỉ nằm trên các bộ định tuyến.

 MPLS là một giao thức độc lập nên có thể hoạt động với các giao thức

mạng khác IP như IPX, ATM, Frame-Relay, PPP hoặc trực tiếp với tầng

liên kết dữ liệu.

 Định tuyến trong MPLS được dùng để tạo các luồng băng thông cố định

tương tự như kênh ảo của ATM hay Frame Relay.

 MPLS đơn giản hố q trình định tuyến, đồng thời tăng cường tính linh

động với các tầng trung gian.

2.2. Các thành phần trong MPLS

Các khái niệm cơ bản về MPLS

2.2.1.1. Nhãn (Label)

 Nhãn là một thực thể có độ dài ngắn và cố định khơng có cấu trúc bên trong.

Nhãn khơng trực tiếp mã hố thơng tin của mào đầu lớp mạng như địa chỉ

mạng.

 Nhãn là giá trị có chiều dài cố định dùng để nhận diện một FEC nào đó. Sự

kết hợp giữa FEC và nhãn được gọi là ánh xạ nhãn – FEC. Thường thì một

gói tin được ấn định một FEC (hoàn toàn hoặc một phần) dựa trên địa chỉ

đích lớp mạng của nó. Tuy nhiên nhãn khơng phải là mã hố của địa chỉ đó.

 MPLS được thiết kế để sử dụng ở bất kì mơi trường và hình thức đóng gói

lớp 2 nào. Hầu hết các hình thức đóng gói lớp 2 là dựa trên frame, và MPLS

chỉ đơn giản thêm vào nhãn 32 bit giữa mào đầu lớp 2 và lớp 3, gọi là shim

header. Phương thức đóng gói này gọi là Frame-mode MPLS.

 Chế độ khung (frame mode):



Hình 2.2. Nhãn MPLS trong chế độ khung

Trong phần mào đầu MPLS 32 bits bao gồm các trường mang thông tin:



Đậu Văn Thắng – D13VT6



25



Đồ án tốt nghiệp đại học

 Label: là nhãn thực sự, có chiều dài là 20 bit. Do đó ta có thể tạo ra được

220 –1 hay 1.048.575 giá trị nhãn khác nhau.

Các loại nhãn đặc biệt:

 Untagged: Gói MPLS đến được chuyển thành một gói IP và chuyển tiếp

đến đích. Nó được dùng trong thực thi MPLS VPN.

 Implicit-NullhayPOP: Nhãn này được gán khi nhãn trên cùng (Top label)

của gói MPLS đến bị bóc ra và gói MPLS hay IP được chuyển tiếp tới trạm

kế xi dòng. Giá trị của nhãn này là 3 (Trường nhãn 20 bit). Nhãn này

dùng trong MPLS cho những mạng kế cuối.

 Explicit-Null: Được gán để giữ giá trị Exp cho nhãn trên cùng (Top

label) của gói đến. Nhãn trên được hốn đổi với giá trị 0 và chuyển tiếp

như một gói MPLS tới trạm kế xi dòng. Nhãn này sử dụng khi thực

hiện QoS trong MPLS.

 Agggregate:Với nhãn này, gói MPLS đến bị bóc tất cả nhãn trong chồng

nhãn để trở thành gói IP và thực hiện tra cứu FIB để xác định giao tiếp ngõ

ra cho nó.

 Exp: trường Experimental có 3 bit, được dùng để định nghĩa lớp dịch vụ.

 S: bit S là bit bottom-of-stack (dưới cùng của chồng nhãn). Một gói tin có thể

có nhiều nhãn, nếu nhãn thêm vào chồng nhãn là cuối cùng thì bit này được

thiết lập lên 1.

 TTL: trường Time to live có 8 bit, trường này mang ý nghĩa giống như bên

IP. Tức là nó sẽ giảm đi 1 khi qua mỗi hop để ngăn chặn routing loop.

 Chế độ tế bào (cell mode):



Hình 2.3. Nhãn MPLS trong chế độ tế bào

 ATM là một trường hợp đặc biệt sử dụng cell có chiều dài cố định. Do đó

nhãn khơng thể được thêm vào trong mỗi cell. MPLS sử dụng các giá trị



Đậu Văn Thắng – D13VT6



26



Đồ án tốt nghiệp đại học

VPI/VCI trong mào đầu ATM để làm nhãn. Phương thức đóng gói này được

gọi là Cell-mode MPLS. Trong khi đó FrameRelay sử dụng DLCI làm nhãn.

 Trong chế độ tế bào, nhãn được mã hóa vào các trường VPI/VCI của tế bào.

Sau khi việc trao đổi nhãn được thực hiện ở mặt phẳng điểu khiển, ở mặt

phẳng chuyển tiếp, bộ định tuyến ngõ vào chia nhỏ gói tin thành các tế bào

ATM, áp giá trị VPI/VCI thích hợp vào, rồi truyền các tế bào đi. Các ATM –

LSR trung gian vẫn chuyển tiếp các tế bào dựa trên giá trị VPI/VCI đến và

thông tin cổng đến như ATM switch thông thường. Cuối cùng, bộ định tuyến

ngõ ra gắn các tế bào lại thành một gói tin.

 Tế bào ATM gồm 5 bytes header và 48 bytes payload. Để chuyển tải gói

tin có kích thước lớn hơn 48 bytes từ lớp trên đưa xuống (ví dụ gói tin IP),

ATM phải chia gói tin thành nhiều phần nhỏ hơn, quá trình này gọi là phân

đoạn. Quá trình phân đoạn do lớp AAL (ATM Adaption Layer) đảm

nhiệm. Cụ thể, AAL5 PDU (ATM Adaptation Layer Type 5 Protocol Data

Unit) sẽ được chia thành nhiều đoạn 48 bytes, mỗi đoạn sẽ được thêm vào

5 bytes header để tạo thành một tế bào ATM.



Hình 2.4. Đơn vị dữ liệu giao thức lớp thích ứng ATM Layer 5

 Khi đóng gói gói tin có nhãn MPLS trên ATM switch, tồn bộ ngăn xếp

nhãn được đặt trong AAL5 PDU. Giá trị thực sự của nhãn trên đỉnh ngăn

xếp nhãn được đặt trong trường VPI/VCI. Khi các tế bào ATM đi đến cuối

LSP, nó sẽ được kết hợp lại thành gói tin IP bình thường. Nếu có nhiều

nhãn trong ngăn xếp nhãn, AAL5 PDU sẽ được phân đoạn lần nữa và nhãn

hiện hành trên đỉnh ngăn xếp sẽ được đặt vào trường VPI/VCI.



Đậu Văn Thắng – D13VT6



27



Đồ án tốt nghiệp đại học

2.2.1.2. Ngăn xếp nhãn (Label Stack)

Nhãn của gói tin đi ra gói là nhãn ngõ ra, tương tự cho nhãn của gói tin đi vào

gói là nhãn ngõ vào. Một gói tin có thể có cả nhãn ngõ ra và ngõ vào, có thể có nhãn

ngõ vào mà khơng có nhãn ngõ ra hoặc là ngược lại. Thường thường, một gói tin có thể

có nhiều nhãn được gọi là chồng nhãn (lable stack). Các nhãn trong chồng nhãn được tổ

chức theo kiểu chồng nhãn LIFO (last-in, first-out). Một gói tin khơng có gắn nhãn được

xem là có chiều sâu chồng nhãn bằng 0. Chiều sâu d của chồng nhãn tương ứng với

trình tự của nhãn trong chồng nhãn <1,2,3….,d-1,d> với nhãn 1 ở đáy chồng nhãn và

nhãn d ở đỉnh của chồng nhãn.



Hình 2.5. Ngăn xếp nhãn

Ở nhãn cuối cùng của ngăn xếp, giá trị S được thiết lập là 1, còn những nhãn còn

lại được thiết lập là 0.

Khi gói tin được gán nhiều hơn một nhãn thì tập hợp các nhãn đó được gọi là

ngăn xếp nhãn. Trong quá trình chuyển tiếp gói tin, nhãn ở đỉnh của ngăn xếp được sử

dụng để chuyển tiếp gói tin. Các nút mạng dựa vào giá trị của trường S để tìm ra gói tin

ở đỉnh ngăn xếp (ứng với S=1).

Label Stack được sử dụng cho một số ứng dụng của MPLS

 MPLS VPNs (2 nhãn – nhãn ở đỉnh ngăn xếp được dùng để chuyển tiếp gói

tin trong core, nhãn thứ 2 để phân biệt các VPN)

 MPLS TE (2 nhãn)

 MPLS VPNs comined with MPLS TE (3 nhãn hoặc nhiều hơn)

2.2.1.3. Lớp chuyển tiếp tương đương FEC (Forwarding Equivalence Class)

FEC mơ tả sư kết hợp các gói tin có cùng địa chỉ đích của người nhận cuối thành

các lớp để có những chính sách xử lý tương ứng. Giá trị FEC trong gói tin có thể thiết

lập mức độ ưu tiên cho việc điều khiển gói nhằm hỗ trợ hiệu quả hoạt động của QoS

(Quality of Service). Đối với các dịch vụ khác nhau thì các FEC khác nhau với các thông

số ánh xạ khác nhau. Việc ánh xạ một gói vào một FEC có thể đạt được nhờ vào một số

thông số sau:

Đậu Văn Thắng – D13VT6



28



Đồ án tốt nghiệp đại học

 Địa chỉ IP nguồn, đích

 Cổng nguồn, đích

 Nhận dạng giao thức (PID)

 Luồng, …

FEC được ấn định ngay từ đầu vào của mạng MPLS và phụ thuộc vào hoạt động

của LSR ngõ vào, ra. Do đó thường thì các LSR ngõ vào và ra là các bộ định tuyến có

khả năng xử lý mạnh.



Hình 2.6. Lớp chuyển tiếp tương đương FEC

2.2.1.4. Miền MPLS (MPLS Domain)

Miền MPLS (MPLS Domain) là một tập hợp các nút mạng thực hiện hoạt động

định tuyến và chuyển tiếp MPLS. Một miền MPLS thường được quản lý và điều khiển

bởi một nhà quản trị.

2.2.1.5. Cơ sở thông tin nhãn (Label Information Base – LIB )

Là bảng kết nối trong LSR có chứa các giá trị nhãn/FEC được gán vào cổng ra

cũng như thơng tin về đóng gói phương tiện truyền, gỗm tất cả các binding láng giềng

gửi tới thông qua giao thức LDP.

2.2.1.6. Cơ sở thông tin chuyển tiếp, cơ sở thông tin chuyển tiếp nhãn

 FIB (Forwarding Information Based) : Cơ sở thơng tin chuyển tiếp

 Sẽ ánh xạ một gói tin IP khơng nhãn thành gói tin MPLS có nhãn ở bộ định

tuyến biên và ngược lại.

 Bảng này được hình thành từ bảng routing và các giao thức phân phối nhãn

LDP và bảng LFIB.

 LFIB (Label Forwarding Information Based): Cơ sở thông tin chuyển tiếp

nhãn:



Đậu Văn Thắng – D13VT6



29



Đồ án tốt nghiệp đại học

 Bảng chứa đựng thông tin các nhãn đến các mạng đích, một gói tin có nhãn

khi đi vào một bộ định tuyến nó sẽ sử dụng bảng tra LFIB để tìm ra hop kế

tiếp, ngõ ra của gói tin này có thể là gói tin có nhãn cũng có thể là gói tin

khơng nhãn.





Hai bảng tra FIB và LFIB có giá trị như bảng routing table trong mạng IP,

nhưng trong mạng IP thì bảng routing table có số entry rất lớn khoảng vài

ngàn, còn với FIB và LFIB số nhãn mà nó nắm giữa rất ít khoảng vài chục

là tối đa.



2.2.1.7. Bộ định tuyến chuyển mạch nhãn (Label Switching Router)

Bộ định tuyến chuyển mạch nhãn LSR là thiết bị chuyển mạch hay thiết bị định

tuyến sử dụng trong mạng MPLS để chuyển các gói tin bằng thủ tục phân phối nhãn. Có

một số loại LSR như LSR, LSR-ATM….



Hình 2.7. LSR trong miền MPLS

 Đường chuyển mạch nhãn – LSP (Label Switching Path) :

Là tuyến tạo ra từ đầu vào đến đầu ra của mạng MPLS dùng để chuyển tiếp gói

của một FEC nào đó sử dụng cơ chế hoán đổi nhãn. Các tuyến chuyển mạch nhãn chứa

một chuỗi các nhãn tại tất cả các nút dọc theo tuyến từ nguồn tới đích. LSP được thiết

lập trước khi truyền dữ liệu hoặc trong khi xác định luồng dữ liệu nào đó. Các nhãn

được phân phối bằng các giao thức như LDP, RSVP. Mỗi gói dữ liệu được đóng gói lại

và mang các nhãn trong suốt thời gian di chuyển từ nguồn tới đích. Chuyển mạch dữ

liệu tốc độ cao hồn tồn có thể thực hiện dựa theo phương pháp này, vì các nhãn có độ

dài cố định được chèn vào phần đầu của gói tin hoặc tế bào và có thể được sử dụng bởi

phần cứng để chuyển mạch nhanh các gói giữa các liên kết.

Đậu Văn Thắng – D13VT6



30



Đồ án tốt nghiệp đại học

Căn cứ vào vị trí và chức năng của LSR có thể phân thành các loại chính sau đây:

 LSR biên (Edge LSR): Nằm ở biên của mạng MPLS, LSR này tiếp nhận hay gửi

đi các gói thơng tin từ hay đến mạng khác (IP, Frame Relay,...). LSR biên gán hay

loại bỏ nhãn cho các gói thơng tin đến hoặc đi khỏi mạng MPLS. Các LSR này có

thể là Ingress Router (bộ định tuyến lối vào) hay Egress Router (bộ định tuyến lối

ra).



Hình 2.8: Kiến trúc Edge LSR

 ATM-LSR: Chạy giao thức MPLS trong mặt phẳng điều khiển để thiết lập các

kênh ảo ATM, thực hiện chuyển tiếp các gói tin có gắn nhãn như là các tế bào

ATM .

 LSR: Chuyển tiếp gói tin có nhãn



Hình 2.9: Kiến trúc LSR

Bảng 2.1 sau đây mô tả các loại LSR và chức năng của chúng:



Đậu Văn Thắng – D13VT6



31



Đồ án tốt nghiệp đại học



Loại LSR



Bảng 2.1: Các loại LSR và chức năng của chúng.

Chức năng thực hiện



LSR



Chuyển tiếp gói có nhãn

Nhận gói IP, kiểm tra lại lớp 3 và đặt vào ngăn xếp nhãn trước

khi gửi gói vào mạng.



LSR biên

Nhận gói tin có nhãn, loại bỏ nhãn, kiểm tra lại lớp 3 và chuyển

tiếp gói IP đến node tiếp theo.

ATM-LSR



Sử dụng giao thức MPLS trong mạng điều khiển để thiết lập

kênh ảo ATM. Chuyển tiếp tế bào đến nút ATM-LSR tiếp theo

Nhận gói có nhãn hoặc khơng nhãn, phân vào các tế bào ATM

và gửi các tế bào đến nút ATM-LSR tiếp theo.



ATM-LSR biên

Nhận các tế bào ATM từ ATM-LSR cận kề, tái tạo các gói từ

các tế bào ATM và chuyển tiếp gói có nhãn hoặc khơng nhãn.

Dựa trên kiến trúc và phân loại LSR có thể thấy các LSR thực hiện 3 chức năng

cơ bản sau:

Trao đổi thông tin định tuyến: Mỗi MPLS node chạy một hoặc nhiều giao thức

định tuyến IP như OSPF, BGP (hoặc có thể sử dụng định tuyến tĩnh) để trao đổi thông

tin định tuyến với MPLS node khác trong mạng. Mỗi node MPLS (bao gồm cả ATM

switch) là một bộ định tuyến chạy IP trong mặt phẳng điều khiển. Bảng định tuyến IP

được sử dụng để quyết định việc trao đổi nhãn, tại đó các node MPLS cận kề trao đổi

nhãn với nhau theo từng subnet riêng biệt có trong bảng định tuyến. Việc trao đổi nhãn

này đươc thực hiện bằng 2 giao thức là TDP và LDP. TDP (Tag Distribution Protocol)

là sản phẩm của Cisco, LDP (Label Distribution Protocol) là phiên bản của TDP nhưng

do IETF tạo nên, tiến trình trao đổi trên xây dựng thành bảng cơ sở dữ liệu nhãn (LIB).

Tiến trình điều khiển định tuyến IP MPLS sử dụng việc trao đổi nhãn với các node

MPLS để xây dựng thành cơ sở dữ liệu chuyển tiếp nhãn (LFIB), đây là cơ sở dữ liệu

của mặt phẳng dữ liệu được sử dụng để chuyển tiếp các gói tin có gắn nhãn qua mạng

MPLS.

Trao đổi nhãn (insert, swap, remove):

 Insert: Thực hiện tại các LSR biên đầu vào, phần được chèn vào gói tin là

nhãn (label) hoặc ngăn xếp nhãn (label stack).



Đậu Văn Thắng – D13VT6



32



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2: CÔNG NGHỆ MPLS VPN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×