Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 2.4: So sánh các chỉ tiêu của bộ phận năm 2011 và 2015

Hình 2.4: So sánh các chỉ tiêu của bộ phận năm 2011 và 2015

Tải bản đầy đủ - 0trang

107

Mục tiêu của nghiên cứu này là tìm hiểu xem mức độ công bố thông tin bộ phận

phụ thuộc như thế nào vào 5 nhân tố, qui mô doanh nghiệp, chủ thể kiểm toán, khả

năng sinh lời, sàn giao dịch niêm yết, ngành nghề kinh doanh, trên cơ sở dữ liệu là 50

DNNY trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam giai đoạn từ năm 2011 đến năm

2015. Như vậy, có 50 đơn vị và 5 giai đoạn, tởng cộng là 255 mẫu quan sát trong

nghiên cứu này.

Phân tích hồi quy tuyến tính năm 2015

Để đánh giá các ́u tớ ảnh hưởng tới mức độ công bố thông tin bộ phận của các

DNNY, tác giả sử dụng phương pháp hồi quy OLS trong q trình phân tích; và hiệu

chỉnh Robust để hiệu chỉnh các vấn đề về phương sai thay đổi.

Bảng 2.15: Kết quả hồi quy theo phương pháp OLS (bình phương bé nhất)

CCTT

SIZE

MAR

IND

AUDIT

ROA

_cons



Beta

0.101

0.044

-0.355

0.234

-1.820

-0.462



Robust

Std. Err.

0.025

0.090

0.126

0.121

0.534

0.244



t

4.000

0.490

-2.820

1.930

-3.410

-1.890



P-value

0.000

0.626

0.007

0.060

0.001

0.065



(Số liệu trích từ kết quả phân tích thống kê mơ tả theo phần mềm STATA, phụ lục số 6)

Bảng này cho thấy:

Thứ nhất, năm 2015, quy mơ doanh nghiệp (biến SIZE) có tác động cùng chiều

lên mức độ công bố thông tin bộ phận (p-value bằng 0.000 nhỏ hơn 0.05 và hệ số beta

dương), điều này cho thấy, quy mơ doanh nghiệp càng lớn thì mức độ công bố thông

tin bộ phận của doanh nghiệp càng nhiều.

Thứ hai, các doanh nghiệp tài chính xu hướng có mức độ cơng bớ thơng tin

cao hơn các doanh nghiệp phi tài chính (p-value của IND bằng 0.007 nhỏ hơn 0.05 và

hệ số beta âm).

Thứ ba, nhân tố khả năng sinh lời (biến ROA) ảnh hưởng ngược chiều lên

mức độ công bố thông tin (p-value bằng 0.001 nhỏ hơn 0.05 và hệ số beta âm),

điều này cho thấy, trong trường hợp tài sản không đổi, lợi nhuận sau thuế của

doanh nghiệp càng lớn thì doanh nghiệp có xu hướng cơng bớ thơng tin ít hơn; và

doanh nghiệp càng hoạt động tớt, mức sinh lời cao thì càng che giấu nhiều thông



108

tin về BCBP.

Cuối cùng là nhân tố chủ thể kiểm toán của đơn vị (biến AUDIT), doanh nghiệp

thuê các cơng ty kiểm tốn thuộc nhóm Big4 có xu hướng công bố thông tin nhiều hơn

so với doanh nghiệp không th các cơng ty kiểm tốn thuộc nhóm Big4. Tuy nhiên,

AUDIT chỉ có ý nghĩa ở mức 10% (p-value bằng 0.06 nhỏ hơn 0.1 nhưng lớn hơn

0.05), điều này cho thấy, xác suất xảy ra biến AUDIT không ảnh hưởng tới mức độ

cung cấp thơng tin có thể lên tới 6%, như vậy, biến AUDIT ảnh hưởng không rõ ràng

tới mức độ công bố thông tin so với biến SIZE, biến IND và biến ROA. Doanh nghiệp

được kiểm toán bởi Big 4 công bố nhiều thông tin về BCBP hơn, kết quả này cũng đã

được chứng minh trong nghiên cứu của Mishari và các cộng sự; điều này đồng nghĩa

với việc các công ty Big 4 tại Việt Nam đã quan tâm nhiều đến việc doanh nghiệp có

tuân thủ đầy đủ yêu cầu của VAS 28 nói riêng và hệ thớng chuẩn mực kế tốn nói

chung hay khơng.

Phân tích hồi quy tuyến tính giai đoạn 2011-2015

Dữ liệu sau khi thu thập sẽ được đưa vào phần mềm STATA để phân tích. Đới

với dữ liệu bảng (kết hợp dữ liệu theo chuỗi thời gian từ năm 2011 đến năm 2015 và

phân tích đới với 50 doanh nghiệp được chọn mẫu), có 2 mơ hình có thể sử dụng, tùy

đặc điểm phạm vi nghiên cứu:

Mơ hình Fixed effect chỉ ra sự khác nhau về các doanh nghiê ̣p thường có sự

tương quan giữa phần dư của mơ hình và các biến độc lập, nghĩa là các biến hay các

đặc trưng riêng của từng doanh nghiệp có liên quan đến các biến độc lập.

Mơ hình Random effect (REM), cũng giớng như mơ hình Fixed, chỉ ra sự khác

nhau giữa các doanh nghiệp nhưng khơng có mới liên quan nào giữa phần dư và các

biến độc lập. Do đó, hiê ̣n phương sai thay đởi được bỏ qua trong mơ hình REM.

Kiểm định Hausman sẽ giúp tìm ra mơ hình phù hợp với dữ liê ̣u nghiên cứu của

mình (REM hay FEM). Trong trường hợp kiểm định Hausman cho p-value lớn hơn

0.05 thì mơ hình Random effect là phù hợp và ngược lại, nếu p-value của kiểm định

Hausman nhỏ hơn 0.05 thì mơ hình Fixed effect là phù hợp.

Trong trường hợp mơ hình FEM hay REM gặp vấn đề, tác giả sẽ tiến hành

khắc phục bằng phương pháp ước lượng GMM sai phân (Difference Generalized

method of moments - GMM) của Arellano - Bond (1991). GMM cho phép khắc



109

phục những vi phạm dẫn đến tự tương quan, phương sai thay đổi và biến nội sinh,

nên kết quả ước lượng sẽ không sai, ổn định và hiệu quả nhất. Phương pháp

Arellano - Bond cũng có thể khắc phục hiệu ứng cố định hàm chứa sai số của mơ

hình (do đặc điểm, các biến doanh nghiệp được chọn mẫu nghiên cứu không thay

đổi theo thời gian cũng như vị trí địa lý, có thể tương quan với các biến giải thích

trong mơ hình) (Roodman, 2006).

Để kiểm định tính phù hợp của kết quả ước lượng theo phương pháp GMM,

kiểm định Sargan (hay còn được biết đến là kiểm định Hansen hay kiểm định J) và

Arellano-Bond đã được sử dụng. Kiểm định Sargan xác định tính phù hợp của các biến

đại diện sau ước lượng GMM, đây là kiểm định ràng buộc xác định quá mức (overidentifying restrictions). Kiểm định Sargan với giả thuyết H0 là biến công cụ ngoại

sinh, nghĩa là không tương quan với phương sai sai sớ của mơ hình, do đó giá trị Pvalue của thống kê Sargan càng lớn càng tốt. Kiểm định Arellano - Bond được đề xuất

bởi Arellano - Bond (1991), được dùng để kiểm tra tính chất tự tương quan sai sớ của

mơ hình GMM, dạng sai phân bậc 1, do đó, ch̃i sai phân khảo sát mặc nhiên có

tương quan bậc 1, AR(1), kết quả kiểm định được bỏ qua. Tương quan bậc 2, AR(2)

được kiểm định trên chuỗi sai phân của sai số để phát hiện hiện tượng tự tương quan

của sai số bậc 1, AR(1). Giả thuyết H0 của kiểm định Arellano - Bond là khơng có tự

tương quan và được áp dụng cho số dư sai phân.

Từ các nhận định trên về quy trình phân tích hời quy, tác giả sử dụng mơ hình

hời quy dữ liệu bảng, ban đầu tiến hành chạy hai mơ hình, Fixed effect (FEM),

Random effect (REM) và kiểm định Hausman để tìm ra mơ hình phù hợp với dữ liệu

nghiên cứu. Kết quả cho thấy, mơ hình REM phù hợp với dữ liệu nghiên cứu (p-value

của kiểm định Hausman bằng 0.3192, lớn hơn 0.05) (Bảng 2.16).



Bảng 2.16: Kết quả ước lượng mơ hình REM

SDI



Coef.



Std. Err.



z



P>z



SIZE



-0.003



0.004



-0.700



0.486



MAR



0.078



0.086



0.900



0.369



IND



0.103



0.116



0.890



0.374



110

AUDIT



0.003



0.045



0.060



0.952



ROA



0.002



0.002



1.220



0.221



_cons



0.287



0.081



3.530



0.000



Hausman test



0.3192



Tự tương quan



0.0184



(Số liệu trích từ kết quả phân tích thống kê mơ tả của phần mềm STATA)

Tuy nhiên mơ hình REM gặp phải vấn đề về tự tương quan với p-value của

kiểm định tự tương quan bằng 0.0184, nên tác giả tiến hành hiệu chỉnh qua mơ hình

GMM. (Bảng 2.17).

Bảng 2.17: Kết quả ước lượng hồi quy cho giai đoạn 2011 - 2015

SDI



beta



Std. Err.



z



p-value



SIZE



-0.00123



0.003865



-0.320



0.750



MAR



1.30399



0.372527



3.500



0.000



IND



-0.8282



0.491596



-1.680



0.092



AUDIT



0.008991



0.115778



0.080



0.938



ROA



-0.0015



0.007045



-0.210



0.831



_cons



-0.49041



0.199802



-2.450



0.014



Tự tương quan

AR(2)



0.565



Sargan test



0.430



(Số liệu trích từ kết quả phân tích thống kê mô tả của phần mềm STATA)

Từ kết quả phân tích hời quy xác định nhân tớ ảnh hưởng đến mức độ công bố

thông tin BCBP trong giai đoạn 2011-2015, một số kết luận như sau:

Trước hết, nhân tố sàn niêm yết (biến MAR) có tác động cùng chiều lên mức độ

công bố thông tin (p-value bằng 0.000, nhỏ hơn 0.05). 1 được mã hóa là các DNNY

trên sàn HOSE và 0 là các DNNY trên sàn HNX, kết quả chỉ ra rằng các DNNY trên

sàn HOSE sẽ có mức độ công bố thông tin bộ phận nhiều hơn sàn HNX.

Hơn nữa, nhân tố ngành nghề kinh doanh (biến IND) có tác động ngược chiều

lên mức độ cơng bớ thơng tin, tuy nhiên, ảnh hưởng này không rõ bằng nhân tố sàn

niêm yết (biến MAR) (p-value bằng 0.092, nhỏ hơn 0.1 và lớn hơn 0.05, điều này cho

thấy, xác suất IND không ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong cả giai đoạn



111

2011- 2015 có thể lên đến 9.2%). Mã hóa 1 là các doanh nghiệp tài chính và 0 là doanh

nghiệp hoạt động phi tài chính, như vậy, các doanh nghiệp hoạt động phi tài chính có

xu hướng công bố thông tin nhiều hơn so với doanh nghiệp tài chính trong cả giai đoạn

2011- 2015.

2.4. THẢO LUẬN TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU



2.4.1. Đánh giá thực trạng công bố thơng tin bộ phận trên báo cáo tài chính

của các doanh nghiệp cổ phần niêm yết

Trước hết, về mức độ tuân thủ quy định về công bố thông tin BCBP theo

CMKT VAS 28, kết quả nghiên cứu cho thấy, chỉ >60% doanh nghiệp công bố thông

tin bộ phận trên BCTC, chủ yếu là thông tin theo bộ phận kinh doanh, và chỉ chọn cơng

bớ thơng tin bộ phận chính yếu hoặc thứ yếu. Điều này chứng tỏ, các doanh nghiệp

chưa quan tâm đúng mức đến công bố thông tin bộ phận tuân thủ theo quy định, các

BCBP không công bố thông tin bộ phận theo khu vực địa lý và đầy đủ cả bộ phận

chính yếu, thứ yếu. Lý do là, các doanh nghiệp chỉ có một bộ phận và chỉ hoạt động

kinh doanh tại Việt Nam.

Thực tế là, các DNNY hiện nay ngày càng có xu hướng mở rộng giao dịch với

các doanh nghiệp nước ngoài. Việc mở rộng hoạt động kinh doanh ra thị trường quốc

tế đã tạo doanh thu lớn cho doanh nghiệp, thông tin công bố trên BCBP hiện nay của

các DNNY chưa phản ánh đầy đủ tình hình hoạt động kinh doanh của họ, chưa đủ hữu

ích với đới tượng sử dụng thơng tin, đặc biệt là nhà đầu tư. Mặc dù vậy, không thể phủ

nhận có sự tác động lớn từ quy định về công bố thông tin của cơ quan ban ngành đến

mức độ công bố thông tin bộ phận của các DNNY trên TTCK Việt Nam. Cụ thể, khi so

sánh thực trạng công bố thông tin trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015, mức độ

công bố thông tin bộ phận ở các DNNY đã được kiểm chứng là tăng.

Thông tư 155/2015 quy định, bắt buộc các DNNY công bố thông tin cụ thể, bao

gồm cả thông tin bộ phận, số lượng các DNNY công bố thông tin bộ phận đã tăng đáng

kể, ngồi ra, nội dung thơng tin cơng bớ cũng chi tiết, đầy đủ hơn. Có thể khẳng định,

các quy định pháp lý là một nhân tố quan trọng, ảnh hưởng đến hành vi cũng như sự

tuân thủ của doanh nghiệp.

Đối chiếu VAS 28 với thực trạng công bớ thơng tin hiện nay thì, ngồi chỉ tiêu

doanh thu và lợi nhuận bộ phận, các chỉ tiêu còn lại chưa được công bố thông tin đầy



112

đủ, đặc biệt là chỉ tiêu tài sản, nợ phải trả bộ phận, khấu hao, chi phí mua tài sản cớ

định, đều là những chỉ tiêu bắt buộc công bố theo quy định. Nhiều doanh nghiệp lý giải

nguyên nhân của thực trạng này là do không theo dõi bộ phận theo cách riêng lẻ, hoặc

là do khơng có bộ phận theo khu vực địa lý ở một số DNNY.

Chất lượng thông tin bộ phận cơng bớ của các DNNY còn sơ sài, mức độ tuân

thủ chuẩn mực và các quy định của các DNNY trên TTCK còn thấp, cho dù có sự gia

tăng cả về số lượng và chất lượng công bố thông tin bộ phận khi so sánh năm 2015 với

năm 2011. Điều này cho thấy, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và các cơ quan chức

năng trên TTCK mới chỉ ban hành quy định mà chưa có cách thức giám sát về mức độ,

chất lượng công bố thông tin bộ phận trong BCBP của các DNNY.

Các đối tượng sử dụng thông tin (nhà đầu tư, kiểm toán viên và bản thân

DNNY) khi tham gia vào phỏng vấn đều thừa nhận tính hữu ích của thông tin bộ phận

công bố trên thuyết minh của BCTC, nhưng do một sớ khó khăn và bất cập trong q

trình cơng bớ thơng tin bộ phận của DNNY nên mức độ cơng bớ còn thấp và chưa tuân

thủ đúng theo quy định. Kết quả nghiên cứu định tính thơng qua câu hỏi phỏng vấn bán

cấu trúc cho thấy, các doanh nghiệp không tuân thủ công bố thông tin bộ phận là do lo

sợ mất lợi thế cạnh tranh, và trong DNNY vẫn tồn tại một số vấn đề như: hệ thớng kế

tốn chưa được quan tâm xây dựng và hoàn thiện để theo dõi chi tiết và quản lý hiệu

quả dữ liệu liên quan đến từng bộ phận, việc ra quyết định phân bổ nguồn lực cũng như

đánh giá hiệu quả hoạt động của các bộ phận còn gặp nhiều khó khăn và chưa hiệu quả

do chưa được hỗ trợ bằng các thông tin riêng, hợp lý từ từng bộ phận.

Bên cạnh đó, để đưa ra được giải pháp hữu ích, nhằm nâng cao mức độ cơng bố

thông tin bộ phận của các DNNY, tác giả xin được đưa một số đánh giá về ảnh hưởng

của các nhân tớ thuộc đặc tính doanh nghiệp đến mức độ công bố thông tin bộ phận

trên BCTC của các DNNY như sau:

Thứ nhất, kết quả phân tích chứng minh rằng, có mới tương quan giữa mức độ

cơng bớ thơng tin BCBP và nhân tố qui mô doanh nghiệp (biến SIZE), khả năng sinh

lời (biến ROA). Cụ thể, doanh nghiệp có qui mơ lớn sẽ sẵn sàng CBTT nhưng doanh

nghiệp có khả năng sinh lời cao lại công bố thông tin ít hơn. Ban lãnh đạo doanh

nghiệp không muốn công bố nhiều thông tin bộ phận do lo ngại những thông tin này

ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp, gây bất lợi cho khả năng cạnh tranh của

doanh nghiệp. Lý giải này cũng được một số chuyên gia cũng cho là DNNY khi cơng



113

bớ chi tiết BCBP có thể gặp bất lợi trong cạnh tranh. Kết quả thể hiện sự hợp lý, khi mà

một sớ doanh nghiệp có giá trị tài sản lớn, vớn nhiều, có nhiều cở đơng và áp lực công

bố thông tin cho nhà đầu tư cao, làm tốt công tác công bố thông tin là yêu cầu cần thiết

nhằm đáp ứng yêu cầu của cổ đơng các doanh nghiệp này (ví dụ như các doanh nghiệp

như VNM, DPM, REE). Tuy nhiên, khi phân tích đến nhân tố về khă năng sinh lời

(được đo lường bằng biến ROA), lúc này tồn tại mối quan hệ trái chiều. Kết quả cho

thấy những doanh nghiệp làm ăn có lãi lại có xu hướng che giấu thơng tin nhiều hơn

các doanh nghiệp khác, kết quả này có thể lý giải cho sự phản biện về tính bất lợi khi

cơng bố quá chi tiết thông tin về kết quả và rủi ro của từng bộ phận trong doanh

nghiệp. Từ kết quả này, có thể lưu ý đới với các cơ quan quản lý TTCK và các doanh

nghiệp kiểm toán, cần lưu ý đến những doanh nghiệp có khả năng sinh lời cao, cớ tình

che dấu hay hạn chế cơng bớ thông tin. Rõ ràng, hành vi che dấu thông tin của các

DNNY là nhằm bảo vệ lợi thế cạnh tranh của mình. Các cơ quản lý TTCK và cơng ty

kiểm tốn cần có những đánh giá thận trọng hơn với các DNNY làm ăn có lãi nhưng

chưa minh bạch thơng tin, để có cơ chế giám sát chặt chẽ. Về phía nhà đầu tư, cần có

những đánh giá tồn diện và đầy đủ hơn với tình hình tài chính của các DNNY khi

quyết định đầu tư. Cần đề cao cảnh giác đối với các thông tin công bố từ DNNY làm

ăn có lãi (cao). Khi doanh nghiệp có dấu hiệu che đậy thơng tin so với các DNNY khác

thì cần lưu ý, đây có thể là hành vi che đậy dấu hiệu của tình trạng hoạt động kém hiệu

quả. Tất cả những hành vi này của doanh nghiệp đều dẫn đến sự bất ổn của TTCK.

Thứ hai, về mối tương quan giữa doanh nghiệp kiểm tốn với mức độ cơng bớ

thơng tin BCBP cho thấy, các doanh nghiệp kiểm tốn lớn thường cớ gắng nâng cao uy

tín, chất lượng của mình cũng như nâng cao chất lượng đánh giá của BCTC hàng năm

bằng cách yêu cầu khách hàng công bố thêm thơng tin BCTC. Doanh nghiệp kiểm tốn

lớn có nhiều khách hàng, ít phụ thuộc kinh tế vào một hay một vài khách hàng nào đó,

mà khách hàng tự tìm đến họ vì uy tín mà họ đã tạo lập được trên thị trường. Trong khi

đó, doanh nghiệp kiểm tốn nhỏ thường phụ thuộc kinh tế vào khách hàng, mất khách

hàng sẽ gây khó khăn cho họ, vì thế đơi khi họ không kiên quyết hoặc làm ngơ trong

yêu cầu khách hàng cung cấp thêm thông tin.

Theo lý thuyết đại diện, việc tìm đến doanh nghiệp kiểm tốn lớn, uy tín như

một cách giảm chi phí vớn - chi phí ủy nhiệm (trong trường hợp doanh nghiệp muốn

vay vốn), hay nhằm giảm chi phí ủy nhiệm và tăng vai trò giám sát hành vi mà nhà

quản lý có thể thực hiện để điều chỉnh thơng tin theo hướng có lợi cho mình.



114

Theo lý thút thơng tin hữu ích, có sự mất cân đối về nắm bắt thông tin giữa

các đối tượng trong và ngồi doanh nghiệp. Trên TTCK, những đới tượng bên ngồi,

thường là các nhà đầu tư có xu hướng dựa vào thơng tin kế tốn như một tài liệu quan

trọng hỗ trợ cho việc ra các quyết định kinh tế (ví dụ như quyết định cho vay của các

ngân hàng, việc ký kết các hợp đồng kinh tế, mua bán cổ phần, đầu tư vào một doanh

nghiệp mới,...

Như vậy thì, BCTC được kiểm tốn bởi các doanh nghiệp kiểm tốn lớn, uy tín

sẽ được đới tượng sử dụng thơng tin tin tưởng hơn. Tìm đến cơng ty kiểm tốn lớn như

một lời khẳng định với cở đơng về tính minh bạch trong kết quả kiểm tốn và độ tin

cậy của thơng tin tài chính mà doanh nghiệp cơng bớ. Quy mơ của doanh nghiệp kiểm

tốn hay uy tín của doanh nghiệp kiểm tốn có ảnh hưởng lớn đến mức độ minh bạch

thơng tin tài chính nói chung và mức độ cơng bớ thơng tin BCBP nói riêng của các

DNNY. Chất lượng kiểm toán được nhà đầu tư đánh giá cao khi xem xét mức độ công

bố thông tin tài chính, do vậy, tăng cường chất lượng kiểm tốn, nâng cao tiêu chuẩn

chất lượng của các doanh nghiệp kiểm toán khi kiểm toán cho DNNY là một trong

những giải pháp quan trọng. Ngoài ra, cần ban hành đầy đủ các chuẩn mực kiểm toán

Việt Nam cũng như tiếp cận dần với các chuẩn mực kiểm tốn q́c tế, nhằm nâng cao

chất lượng của các cuộc kiểm toán, đây là nội dung quan trọng mà cơ quan chức năng,

cụ thể là Bộ Tài chính cần quan tâm.

Thứ ba, về yếu tố niêm yết trên sàn HOSE, kết quả nghiên cứu cho thấy, ́u tớ

này có ảnh hưởng thuận chiều với mức độ cơng bớ thơng tin BCBP. Như vậy có thể

khẳng định, ́u tớ mang tính pháp lý quy định về thơng tin tài chính bắt buộc phải

cung cấp từ sàn niêm yết ảnh hưởng đến việc công khai thông tin từ DNNY. Có sự

khác biệt đáng kể về mức độ công bố thông tin giữa giai đoạn từ năm 2011 đến năm

2015 với riêng năm 2015. Trong năm 2015, đã có sự thay đởi đột biến trong quy định

về công bố thông tin, do Thông tư 155/2015 ra đời. Trong năm này, quy mô doanh

nghiệp càng lớn, càng công bố nhiều thông tin hơn, do quy định mới về cơng bớ thơng

tin của Ủy ban Chứng khốn Nhà nước, thực trạng này cũng một phần là do sự khác

biệt về tác động của ROA. Nhóm doanh nghiệp thuê các cơng ty kiểm tốn thuộc nhóm

Big4 có xu hướng cơng bố thông tin nhiều hơn doanh nghiệp khác. Số lượng doanh

nghiệp th các cơng ty kiểm tốn thuộc nhóm Big4 trong giai đoạn trước còn hạn chế

so với năm 2015.



115

Tóm lại, kết quả nghiên cứu thực nghiệm đã củng cố thêm lý thút đại diện, lý

thút thơng tin hữu ích trong điều kiện thực tế của TTCK Việt Nam, nhưng trên hết,

kết quả này đã nhận được sự đồng thuận từ các chuyên gia đại diện cho nhà đầu tư,

kiểm tốn viên, doanh nghiệp lập và trình bày BCTC.

2.4.2. Ngun nhân của thực trạng công bố thông tin bộ phận trong báo

cáo tài chính tại các doanh nghiệp cổ phần niêm yết

Sau hơn 10 năm áp dụng VAS 28 và những quy định về cơng bớ thơng tin

BCTC nói chung có sự thay đởi bở sung liên tục từ khi TTCK ra đời, các DNNY trên

sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam vẫn chưa tuân thủ đầy đủ quy định về công bố

thông tin bộ phận, do một số nguyên nhân như sau:

Các văn bản pháp quy về chuẩn mực kế tốn vẫn chưa hồn thiện, quy định còn

chung chung, chưa rõ ràng, nhất quán. Chuẩn mực kế toán từ khi ban hành đến nay vẫn

chưa được cập nhật và thay đổi cho phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế trong

nước và thế giới. Một số tập đồn có quy mơ lớn, cơ cấu tở chức phức tạp, hoạt động ở

nhiều khu vực địa lý, nhiều lĩnh vực hoạt động, nên việc thu thập số liệu báo cáo, theo

dõi, quản lý và tổng hợp thông tin mất nhiều thời gian, đòi hỏi phải đầu tư cho hệ thớng

quản lý thơng tin chun nghiệp.

Năng lực kế tốn viên tại Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, trình độ chun

mơn, kinh nghiệm thực tế về kế tốn quản trị chưa nhiều, do đó gặp khó khăn trong xử

lý sớ liệu BCBP. Nhà quản lý chưa quan tâm nhiều đến đào tạo đội ngũ cán bộ kế toán,

nên nghiệp vụ, kỹ năng chưa cao, chưa tiếp cận được hay tiếp cận được nhưng chưa

nhiều thơng tin mới về kế tốn.

Ban lãnh đạo doanh nghiệp không muốn công bố nhiều thông tin bộ phận, do lo

ngại những thông tin này sẽ ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, đến sự

phát triển của doanh nghiệp. Cụ thể, nếu kết quả kinh doanh của doanh nghiệp khơng

tớt thì việc cơng bố thông tin bộ phận sẽ gây bất lợi trong việc thu hút vốn đầu tư, cũng

như ảnh hưởng đến danh tiếng của doanh nghiệp, hiệu quả làm việc của ban lãnh đạo

giảm sút.

Việc áp dụng hệ thống thông tin kế tốn và ứng dụng cơng nghệ thơng tin vào

q trình quản lý, thu thập, xử lý thơng tin, dữ liệu kế toán chưa được đầu tư đúng

mức. Xử lý dữ liệu thủ công làm mất nhiều thời gian, nhân lực, kết quả thì khơng

chính xác.



116

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2



Qua kết quả một số nghiên cứu được thực hiện ở chương này có thể thấy, các

DNNY trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam chưa tuân thủ đầy đủ những yêu cầu

bắt buộc về công bố thông tin bộ phận, BCBP trong VAS 28. Các ́u tớ ảnh hưởng

đến việc trình bày BCBP gồm: quy mô doanh nghiệp, chủ thể doanh nghiệp kiểm toán,

khả năng sinh lời, ngành nghề hoạt động và sàn niêm yết.

Kết quả nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng cho thấy, mức độ công

bố thông tin BCBP trong BCTC của các DNNY chịu ảnh hưởng lớn từ các nhân tố

như: Quy mô doanh nghiệp, chủ thể kiểm toán, sàn nơi doanh nghiệp niêm yết, khả

năng sinh lời của doanh nghiệp. Từ kết quả cho thấy một số hiện trạng về công bố

thông tin BCBP trên BCTC của các DNNY như sau:

Thứ nhất, đánh giá về mức độ công bố thông tin BCBP trên BCTC của DNNY

trên TTCK Việt Nam là thấp, qua phạm vi thời gian nghiên cứu của luận án. Trong sớ

các DNNY có công bố thông tin BCBP, chỉ công bố một cách sơ sài, chưa phản ảnh

chính thức và trung thực kết quả của từng bộ phận theo quy định của chuẩn mực kế

toán Việt Nam VAS 28. Luận án cũng làm rõ được một số lý do các DNNY này chưa

tuân thủ, đó là, sự khó khăn trong việc hiểu và áp dụng quy định của VAS 28 và sự lo

lắng về mất đi lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp khi công bố các thông tin này trên

BCTC.

Thứ hai, kết quả chứng minh có mới quan hệ ảnh hưởng giữa các nhân tớ về đặc

tính của doanh nghiệp như quy mơ doanh nghiệp, chủ thể kiểm tốn, sàn niêm ́t và

khả năng sinh lời, ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin.

Thứ ba, dựa trên ý kiến các chuyên gia thảo luận, kết quả gợi ý cho định hướng

hoàn thiện việc công bố thông tin BCBP từ quan niệm của nhà quản trị, nhằm giảm

thiểu những khó khăn khi lập và cơng bớ thơng tin BCBP tại các DNNY.

Tóm lại, kết quả từ đánh gía thực trạng việc cơng bố thông tin BCBP ở các

DNNY là cơ sở cho những kiến nghị, nhằm hồn thiện việc cơng bớ thơng tin BCBP

tại các DNNY ở các nội dung chương tiếp sau.



117



Chương 3

HỒN THIỆN VIỆC CƠNG BỐ THƠNG TIN

BÁO CÁO BỘ PHẬN TRONG HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH

TẠI CÁC DOANH NGHIỆP CỔ PHẦN NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM

3.1. SỰ CẦN THIẾT HỒN THIỆN CƠNG BỐ THƠNG TIN BÁO CÁO BỘ

PHẬN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CỔ PHẦN NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG



CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Từ kết quả thực trạng đánh giá mức độ tuân thủ quy định về công bố thông tin

BCBP trên BCTC và kết quả phân tích nhân tớ ảnh hưởng đến mức độ công bố thông

tin này tại các DNNY trên TTCK Việt trong thời gian vừa qua, mức độ tuân thủ quy

định chưa cao và có sự ảnh hưởng rõ ràng về nội dung quy định bắt buộc đến mức độ

cơng bớ thơng tin BCBP. Vì vậy, trước khi đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện việc

công bố thông tin BCBP tại các doanh nghiệp, tác giả đưa ra dẫn chứng khách quan

cũng như chủ quan từ định hướng phát triển TTCK trong tương lai dẫn đến u cầu

phải hồn thiện cơng bớ thơng tin BCTC của DNNY trên thị trường cũng như lợi ích

đem lại cho bản thân doanh nghiệp từ công bố thông tin BCTC cũng như công bố

thông tin BCBP trên BCTC.

3.1.1. Yêu cầu của thị trường đối với việc hoàn thiện việc công bố thông tin

của doanh nghiệp cổ phần niêm yết

3.1.1.1. Định hướng phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn

2012 - 2020

Trong Dự thảo Chiến lược Phát triển TTCK Việt Nam đến năm 2020, Ủy ban

Chứng khoán Nhà nước đã chỉ rõ, để đẩy nhanh tiến trình đa dạng hoá hàng hoá giao

dịch trên TTCK, tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam từng bước tiếp cận thị

trường tài chính q́c tế, niêm ́t trên TTCK q́c tế, thì doanh nghiệp phải khơng

ngừng cải thiện năng lực quản lý, hồ nhập chuẩn mực kế tốn q́c tế, đáp ứng được

yêu cầu công bố thông tin minh bạch, phù hợp với thông lệ quốc tế, thu hẹp khoảng

cách phát triển của Việt Nam và thế giới.

Định hướng phát triển TTCK Việt Nam giai đoạn 2012 - 2020 đã được nêu rõ

trong Quyết định 252/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, với nội dung liên quan đến

việc vận hành và phát triển TTCK, hướng đến:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 2.4: So sánh các chỉ tiêu của bộ phận năm 2011 và 2015

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x