Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bố cục của Luận án

Bố cục của Luận án

Tải bản đầy đủ - 0trang

23



Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC CÔNG BỐ THÔNG TIN

BÁO CÁO BỘ PHẬN TRONG HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH

TẠI CÁC DOANH NGHIỆP CỔ PHẦN NIÊM YẾT

1.1. TỔNG QUAN VỀ BÁO CÁO BỘ PHẬN TRONG HỆ THỐNG BÁO CÁO

TÀI CHÍNH



1.1.1. Thơng tin kế tốn và thơng tin báo cáo tài chính

Kế tốn là nghệ thuật thu nhận, xử lý và cung cấp thơng tin về tồn bộ tài sản

và sự vận động tài sản (hay tồn bộ thơng tin về tài sản và các hoạt động kinh tế tài

chính) trong DN nhằm cung cấp những thơng tin hữu ích cho việc ra các quyết

định kinh tế xã hội và đánh giá hiệu quả của các hoạt động trong DN. Theo Jan R

Wiliams và cộng sự, thơng tin kế tốn (TTKT) là phương tiện mà chúng ta sử dụng để

đo lường và truyền đạt thông tin về các hoạt động kinh tế. Cho dù chúng ta điều hành

DN, đầu tư vớn hay tính tốn sớ tiền lãi từ đầu tư… chúng ta đều tiếp cận

với các khái niệm kế toán và TTKT, (Jan R Wiliams, Susan F.Haka, Mark S.Bettner,

Joseph V.Carcello, 2008). Hay nói cách khác, TTKT là những thơng tin

có được do hệ thớng kế tốn cung cấp. Sản phẩm cuối cùng của TTKT là những

quyết định kinh tế hiệu quả từ việc sử dụng những TTKT đó của các nhóm đới

tượng khác nhau như cở đơng, ban giám đớc, chủ nợ, chính phủ, liên đồn lao

động hoặc những đới tượng khác có qùn lợi đới với DN. Các nhóm đối tượng

sử dụng TTKT với các nhu cầu thông tin khác nhau đã làm nảy sinh tính đa dạng

và phức tạp đối với nhu cầu thông tin cần cung cấp. Thơng tin kế tốn là những thơng

tin được trình bày trong các BCTC của DN, giữ vai trò kết nới một công ty với rất

nhiều đối tượng sử dụng thông tin khác nhau bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, nó

đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc cung cấp những thơng tin hữu ích, có

thể giúp cho người sử dụng thông tin ra quyết định một cách hợp lý, thỏa mãn mục tiêu

của họ.

Lập, lưu hành báo cáo kế tốn là giai đoạn cung cấp thơng tin và truyền thông

tin đến người ra quyết định. Các nhà quản trị, người sở hữu và người thuộc nội bộ

doanh nghiệp, người ngồi doanh nghiệp đều là những người có thể dùng thơng tin kế

tốn. Hệ thớng kế tốn phải cung cấp thông tin cho các nhà quản trị doanh nghiệp

cũng như những người ngoài doanh nghiệp quan tâm đến hoạt động tài chính của



24

doanh nghiệp. Mỡi người sử dụng sẽ yêu cầu loại thông tin khác nhau, tùy thuộc vào

loại quyết định người đó cần đưa ra. Để sử dụng có kết quả các thơng tin kế tốn,

người sử dụng phải hiểu được các sớ liệu kế tốn và biết kết hợp các sớ liệu đó, biết ý

nghĩa của chúng.

Thơng tin kế tốn là thuộc nhóm thơng tin về hoạt động của doanh nghiệp, phản

ánh hiệu quả của quá trình sản x́t, kinh doanh của doanh nghiệp. Thơng tin kế tốn

cung cấp cho các đới tượng sử dụng thơng tin cả trong và ngoài doanh nghiệp. Do vậy,

sự phân loại cơ bản đới với thơng tin kế tốn bao gờm thơng tin kế tốn tài chính và

thơng tin kế tốn quản trị.

Thơng tin kế tốn tài chính hay thơng tin BCTC ngồi cung cấp các thơng tin về

tình hình tài chính cho ban lãnh đạo doanh nghiệp, còn cung cấp cho các đới tượng bên

ngồi như nhà đầu tư, cơ quan thuế, chủ nợ,... Về đặc điểm, thông tin kế tốn tài chính

là loại thơng tin thực tế về các hoạt động kinh tế đã diễn ra, có độ tin cậy cao (các bằng

chứng tin cậy, khách quan, là chứng từ đã chứng minh được điều này), là thông tin có

giá trị về mặt pháp lý (được các cơ quan chức năng sử dụng để quản lý). Về tình hình

tài chính, thơng tin kế tốn phản ánh tình hình tài sản; tình hình nợ phải trả; tình hình

vớn chủ sở hữu; doanh thu, thu nhập khác, chi phí, lãi và lỡ. Về kết quả hoạt động,

thơng tin kế tốn cho thấy doanh nghiệp có vận hành tớt hay khơng, lĩnh vực nào mang

lại thành công, lĩnh vực nào không mang lại thành công cho doanh nghiệp, điểm mạnh

và điểm ́u về tình hình tài chính của doanh nghiệp, cần phải thay đởi gì để cải thiện

tình hình của doanh nghiệp để gia tăng giá trị doanh nghiệp.

Thông tin BCTC có vai trò là thơng tin về sự kiện kinh tế phát sinh từ các hoạt

động của doanh nghiệp, được trình bày tớt nhất qua mơ hình thơng tin, trên các báo cáo

tài chính. Thơng tin BCTC là những thơng tin giải thích q trình lập BCTC và thơng

tin khác của doanh nghiệp đã được kiểm toán. Kiểm toán viên là người xem xét độc

lập, chứng nhận những báo cáo này, xem chúng có được trình bày trung thực, đúng với

tình hình và kết quả hoạt động của doanh nghiệp hay khơng và có phù hợp với ngun

tắc kế tốn đã được thừa nhận hay khơng.

Thơng tin kế tốn quản trị là thông tin quản lý, không phải thông tin tài

chính đơn th̀n. Thơng tin kế tốn quản trị hướng đến cung cấp thông tin cho nhà

quản trị, ban lãnh đạo doanh nghiệp nhằm đưa ra các quyết định kinh doanh trong

doanh nghiệp.



25

Đề cập đến vai trò của thơng tin kế tốn, có thể khẳng định thơng tin kế tốn được

tạo ra nhằm hỡ trợ cho nhiều đới tượng có nhu cầu sử dụng thông tin khác nhau. Thông

tin kế tốn đáng tin cậy nên các đới tượng sử dụng thơng tin có thể đặt niềm tin vào đó để

đưa ra quyết định. Để đánh giá độ tin cậy này, người sử dụng thông tin dựa trên hai đặc

trưng quan trọng của thơng tin là, tính trung thực và có thể kiểm tra, tính trung thực của

thơng tin kế tốn có quan hệ tương tác với đặc trưng “có thể kiểm tra”, tác động đến tính

hữu ích của thơng tin. Việc cơng bớ thơng tin kế tốn về lâu dài sẽ giúp cho TTCK hoạt

động minh bạch hơn, phục vụ tốt hơn cho yêu cầu của tất cả các cổ đông trong doanh

nghiệp, cũng như các đối tượng sự dụng thông tin khác trên thị trường.

Đối với nhà quản trị doanh nghiệp, họ sử dụng thơng tin kế tốn để xác định

mục tiêu kinh doanh, đưa ra quyết định, đánh giá thực hiện mục tiêu và điều chỉnh để

hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao hơn. Vai trò của kế tốn trong cung cấp thơng

tin cho các nhà quản trị là liên kết các quá trình quản lý với nhau và liên kết doanh

nghiệp với mơi trường bên ngồi.

Đối với chủ sở hữu, họ quan tâm đến lợi tức sinh ra từ vớn kinh doanh, vì đây là

căn cứ để họ đưa ra các quyết định cần thiết bao gồm cả quyết định phân chia cổ tức.

Đồng thời, qua việc xem xét thơng tin trên báo cáo kế tốn, họ có thể đánh giá năng

lực, trách nhiệm của các bộ phận quản lý trong doanh nghiệp là tốt hay xấu.

Đối với nhà đầu tư (NĐT), thơng tin kế tốn là sơ sở để ra các quyết định đầu

tư, mục tiêu chính của nhà đầu tư là ln ḿn đầu tư vào doanh nghiệp có tỷ lệ hồn

vớn cao nhất trong thời gian ngắn nhất. Do vậy, trước khi đầu tư, họ cần thơng tin về

tình hình tài chính của doanh nghiệp, qua đó nghiên cứu, phân tích, đánh giá rời đi đến

qút định; lúc này, thơng tin kế tốn được xem như là một loại thông tin cơ bản cung

cấp cho NĐT trên TTCK. Thơng qua phân tích thơng tin kế tốn, NĐT sẽ tìm hiểu hoạt

động kinh doanh của doanh nghiệp như thế nào, rủi ro tài trợ của doanh nghiệp ra sao,

thu nhập mong muốn là bao nhiêu, vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp, để ra các qút

định ći cùng là có đầu tư hay khơng đầu tư vào doanh nghiệp.

Đối với các đối tượng cho vay và chủ nợ, các ngân hàng, tổ chức tài chính cũng

như nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ, trước khi cho vay hoặc cung cấp đều có nhu cầu

thơng tin về khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Nghĩa là, doanh nghiệp có đủ khả

năng chi trả hay khơng, thơng tin có được để trả lời các câu hỏi của đới tượng này dựa

vào thơng tin kế tốn do doanh nghiệp cung cấp.



26

Đối với cơ quan thuế, các cơ quan thuế địa phương và trung ương dựa vào tài

liệu kế tốn để tính th́, đặc biệt là th́ thu nhập. Các cơ quan thuế thường lấy số liệu

lợi tức được thể hiện trên báo cáo kế toán trừ đi các khoản miễn giảm thuế theo luật

định để xác định lợi tức chịu thuế.

Đối với cơ quan nhà nước, số liệu kế toán của doanh nghiệp là cơ sở để tởng

hợp cho ngành, địa phương; trên cơ sở đó phân tích, đánh giá nhằm định ra các chính

sách kinh tế thích hợp, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và điều hành kinh tế vĩ mô.

1.1.2. Hệ thống báo cáo tài chính

1.1.2.1. Khái niệm báo cáo tài chính

Khái niệm BCTC được nhìn nhận theo hai quan điểm sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, BCTC là sản phẩm của kế toán tài chính, là đầu ra

của hệ thớng thơng tin kế tốn, phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính,

kết quả tài chính của doanh nghiệp. BCTC cung cấp các thơng tin về tình hình tài

chính, kết quả hoạt động và các luồng tiền của doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu của số

đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế, nó cũng cho thấy

kết quả quản lý của ban giám đốc đối với các ng̀n lực được giao phó cho họ (IASB,

2012). Để đáp ứng mục tiêu này, BCTC trình bày thơng tin về: tài sản, nợ phải trả, vốn

chủ sở hữu, thu nhập và chi phí, bao gờm cả lãi và lỡ, khoản góp vớn của chủ sở hữu và

phân phới cho chủ sở hữu, các dòng tiền. Thơng thường, một hệ thớng BCTC bao gờm:

báo cáo tình hình tài chính, báo cáo kết quả kinh doanh; báo cáo vốn chủ sở hữu; báo

cáo lưu chuyển tiền và thuyết minh BCTC. Theo chuẩn mực kế tốn VAS 21-Trình bày

báo cáo tài chính và quy định cơng bớ thơng tin trên TTCK Việt Nam trong thơng tư

155/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính, BCTC của DNNY bao gờm: Bảng cân đới kế

tốn, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Bản thuyết

minh báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật về kế toán. Trường hợp DNNY là

doanh nghiệp mẹ của một tở chức khác thì BCTC bao gồm BCTC của doanh nghiệp

mẹ và BCTC hợp nhất. Khi đề cập đến lợi ích của nhiều đới tượng sử dụng thơng tin

thì BCTC là ng̀n cung cấp thơng tin tài chính hữu ích cho việc ra quyết định kinh tế

v.v… Vì vậy, khó có thể đưa ra một định nghĩa duy nhất về BCTC. Vì vậy, định nghĩa

về BCTC cũng không phải là duy nhất và bất biến.

Quan điểm thứ hai cho rằng, mặc dù thông tin BCTC trùn thớng trình bày trên

cơ sở chuẩn mực và chế độ kế tốn, nhưng chỉ mang tính chất q khứ nên không đáp

ứng nhu cầu thông tin cần thiết hiện nay của người sử dụng. Ngày nay, những thay đổi



27

trong môi trường kinh doanh quốc tế theo xu hướng hội nhập, yêu cầu cần xem xét lại

về bản chất cũng như nội dung của các BCTC của doanh nghiệp. Thông tin BCTC

khơng chỉ gắn liền thơng tin tài chính, mà nó còn bao gờm những thơng tin phi tài

chính (Ali shah.S.Z, 2009). Theo Ferdy Van Beest (2013) các nhà nghiên cứu trước

đây khi đo lường chất lượng thông tin thường sử dụng định lượng và tập trung vào

những khía cạnh cụ thể của thông tin BCTC như: chất lượng lợi nhuận, mơ hình giá trị

phù hợp...thơng tin BCTC được hiểu theo nghĩa rộng hơn, khái niệm đa chiều hơn. Các

chiều khác nhau của thông tin BCTC được đánh giá hướng đến sự hữu ích của thơng

tin, do đó nó phải dựa trên cơ sở thơng tin tài chính và phi tài chính cũng như các cơng

bớ bắt buộc và tự nguyện như trong BCTC thường niên của doanh nghiệp. Thông tin

BCTC đảm bảo chức năng thiết yếu cho thị trường vớn hiệu quả, vì vậy doanh nghiệp

ngồi việc cơng bớ BCTC truyền thống theo quy định luật pháp cần phải bở sung

những báo cáo mang tính chất tự nguyện về những phân tích đánh giá, các dự báo của

nhà quản lý.

1.1.2.2. Mục đích và tác dụng của báo cáo tài chính

BCTC là sản phẩm của kế tốn tài chính, một mặt nó phản ánh khách quan các

giao dịch và sự kiện kinh tế đã xảy ra nhưng đồng thời cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc

của mơi trường kinh tế, chính trị, xã hội và luật pháp. Chính vì vậy, ở những thời đại

khác nhau, trong những môi trường cụ thể khác nhau, kế toán cũng được sử dụng cho

những mục đích khác nhau và BCTC cũng có những mục đích khác nhau. Lịch sử kế

toán thế giới đã chứng minh rằng, kế tốn được sử dụng cho những mục đích khác

nhau không phải do người cung cấp thông tin quyết định mà chính là người sử dụng

thơng tin qút định. Do vậy, mục tiêu và nội dung thơng tin trình bày trên báo cáo tài

chính chịu sự chi phới của những người sử dụng thơng tin. Như đã trình bày ở trên, đối

tượng của thông tin BCTC không chỉ nhà quản lý doanh nghiệp, cơ quan quản lý chức

năng của Nhà nước mà bao gồm cả bên thứ ba như: nhà đầu tư, người cho vay, khách

hàng,…, vì vậy thơng tin BCTC cung cấp phải giải quyết hài hòa được lợi ích của các

đới tượng sử dụng thơng tin này, không nên chỉ chú trọng một đối tượng cụ thể nào,

bởi khi chú trọng đối tượng sử dụng thông tin này thì sẽ làm ảnh hưởng đến lợi ích của

đới tượng sử dụng thơng tin khác.

Theo chuẩn mực kế tốn q́c tế trong IAS01- Trình bày BCTC thì:

BCTC phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ về tình hình tài chính, kết quả kinh

doanh của doanh nghiệp. Mục đích của BCTC là cung cấp những thơng tin về tình



28

hình tài chính, tình hình kinh doanh, các luồng tiền của doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu

hữu ích cho số đơng người sử dụng trong việc ra các quyết định kinh tế.

Như vậy, chuẩn mực kế tốn q́c tế cũng cho rằng, mục đích của BCTC là

cung cấp thơng tin hữu ích cho số đông người sử dụng thông tin, đáp ứng nhu cầu

chung của đa số người sử dụng, không cung cấp thông tin cho riêng đối tượng nào và

cũng không cung cấp tồn bộ thơng tin mà người sử dụng yêu cầu để phục vụ cho việc

ra các quyết định về quản lý kinh tế vì BCTC chủ yếu cung cấp những thông tin về

nghiệp vụ và sự kiện kinh tế đã xảy ra, đã hoàn thành trong quá khứ.

Trong nền kinh tế thị trường Việt Nam hiện nay, việc giải qút hài hòa mới

quan hệ lợi ích giữa các đới tượng sử dụng thơng tin kế tốn còn nhiều lúng túng, cần

hoàn thiện hơn nữa những quy định của Nhà nước về th́ và kế tốn, đảm bảo thơng

tin trình bày trên BCTC hữu ích cho các đới tượng sử dụng thơng tin.

Từ việc phân tích mục đích của BCTC và các đối tượng sử dụng thông tin

BCTC cho thấy, trong nền kinh tế thị trường, BCTC có tác dụng rất lớn với công tác

quản lý kinh tế tại doanh nghiệp cũng như cung cấp thơng tin hữu ích cho các đới

tượng bên ngồi doanh nghiệp.

Đối với các nhà quản lý doanh nghiệp, BCTC cung cấp thông tin nhằm đánh

giá tởng qt tình hình tài chính, tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh, tình hình

lưu chuyển tiền của doanh nghiệp, trên cơ sở đó đề ra những chính sách về đầu tư, sử

dụng tài sản, vật tư, tiền vốn hiệu quả.

Đối với các đối tượng sử dụng thơng tin bên ngồi doanh nghiệp, BCTC là cầu

nới kinh tế giữa họ với doanh nghiệp. BCTC cung cấp thông tin về tình hình tài chính,

kết quả hoạt động kinh doanh, tình hình lưu chủn tiền giúp họ phân tích, đánh giá và

ra được các quyết định kinh tế phù hợp mục tiêu mà họ đang theo đuổi với doanh

nghiệp như quyết định đầu tư của nhà đầu tư, quyết định cho vay của các bên cho vay,

quyết định cung cấp hàng của nhà cung cấp,…

Đối với các cơ quan quản lý chức năng của Nhà nước, BCTC cung cấp thơng

tin nhằm giúp họ có thể đánh giá được việc doanh nghiệp thực hiện các chính sách, chế

độ về quản lý kinh tế tài chính như thế nào, từ đó giúp họ đề ra được các chính sách,

biện pháp quản lý kinh tế tốt hơn, giúp họ tổng hợp các thông tin phục vụ cho việc xác

định chỉ tiêu thống kê trong toàn bộ nền kinh tế.

1.1.3. Bộ phận và báo cáo bộ phận

1.1.3.1. Bộ phận và phân loại bộ phận trong doanh nghiệp



29

Bộ phận là một phần, một mặt hoạt động, một đơn vị hay một phòng ban thuộc

cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp, của đơn vị cùng hoạt động vì mục tiêu của tở chức.

Việc chia tách bộ phận sẽ chia doanh nghiệp ra làm nhiều phần nhỏ hoặc nhiều

bộ phận và thực hiện BCTC cho mỗi bộ phận. Một doanh nghiệp có thể chia bộ phận

bằng nhiều cách khác nhau, có thể chia theo cấu trúc hoạt động hoặc chia theo phương

pháp tiếp cận theo phương thức quản lý. Căn cứ theo phương thức quản lý để phân chia

thành bộ phận chính yếu và bộ phận thứ yếu hoặc ngược lại với cách chia theo cấu trúc

hoạt động, doanh nghiệp có thể chia tách dựa trên lĩnh vực kinh doanh, ngành nghề

(thường được gọi là Bộ phận theo lĩnh vực kinh doanh - LoB) hoặc chia theo khu vực

địa lý (có thể chia theo địa điểm hoạt động hoặc vị trí của khách hàng).

Ngồi ra, căn cứ vào quyết định quản trị của nhà quản trị doanh nghiệp để chia

các bộ phận không nhất thiết chỉ là bộ phận theo lĩnh vực kinh doanh hay khu vực địa

lý; hay phân chia bộ phận thành bộ phận chính yếu và bộ phận thứ yếu. Trên quan

điểm của nhà quản trị, bộ phận cần báo cáo là các hoạt động kinh tế có thể tạo ra doanh

thu hoặc phát sinh chi phí, có các thơng tin tài chính riêng biệt cho chúng và kết quả

hoạt động của chúng thường xuyên được các nhà quản lí xem xét để ra qút định điều

hành hoạt động.

Khơng chỉ có nhiều phương pháp phân chia bộ phận mà số lượng các bộ phận

trong doanh nghiệp được báo cáo cũng khác nhau, số lượng và nội dung thơng tin kế

tốn từng bộ phận công bố cũng khác nhau.

* Bộ phận theo lĩnh vực kinh doanh

Là một bộ phận có thể phân biệt được của một doanh nghiệp tham gia vào quá

trình sản xuất hoặc cung cấp sản phẩm, dịch vụ riêng lẻ, một nhóm các sản phẩm hoặc

các dịch vụ có liên quan mà bộ phận này có rủi ro và lợi ích kinh tế khác với các bộ

phận kinh doanh khác. Các nhân tố cần xem xét để xác định sản phẩm và dịch vụ có

liên quan hay khơng gờm:

- Tính chất của hàng hóa và dịch vụ;

- Tính chất của quy trình sản x́t;

- Kiểu hoặc nhóm khách hàng sử dụng các sản phẩm hoặc dịch vụ;

- Phương pháp được sử dụng để phân phối sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ;



30

- Điều kiện của môi trường pháp lý như: hoạt động ngân hàng, bảo hiểm hoặc

dịch vụ công cộng.

Xác định các bộ phận theo lĩnh vực kinh doanh cần dựa trên định nghĩa về “hoạt

động kinh doanh” - Là các hoạt động tạo ra doanh thu chủ yếu của doanh nghiệp và các

hoạt động khác không phải là hoạt động đầu tư hoặc hoạt động tài chính.

* Bộ phận theo khu vực địa lý

Là một bộ phận có thể phân biệt được của một doanh nghiệp tham gia vào quá

trình sản xuất hoặc cung cấp sản phẩm, dịch vụ trong phạm vi một môi trường kinh tế

cụ thể mà bộ phận này có rủi ro và lợi ích kinh tế khác với các bộ phận kinh doanh

trong các môi trường kinh tế khác. Các nhân tố cần xem xét để xác định bộ phận theo

khu vực địa lý gờm:

- Tính tương đờng của các điều kiện kinh tế và chính trị;

- Mối quan hệ của những hoạt động trong các khu vực địa lý khác nhau;

- Tính tương đờng của hoạt động kinh doanh;

- Rủi ro đặc biệt có liên quan đến hoạt động trong một khu vực địa lý cụ thể;

- Các quy định về kiểm sốt ngoại hới;

- Các rủi ro về tiền tệ.

Cơ sở xác định các bộ phận theo khu vực địa lý dựa trên:

- Vị trí của tài sản là địa điểm sản xuất hoặc hình thành dịch vụ của doanh

nghiệp; hoặc

- Vị trí của khách hàng là địa điểm của thị trường và khách hàng của

doanh nghiệp.

* Bộ phận hoạt động

Bộ phận hoạt động khơng chỉ bó hẹp ở việc xác định theo các tiêu chí về khu

vực hay lĩnh vực kinh doanh, mà được mở rộng ra là một thành phần của thực thể

kinh tế, (IFRS 8):

- Liên quan đến hoạt động kinh doanh mà từ đó tạo ra doanh thu và chi phí gánh

chịu (bao gờm cả doanh thu và chi phí liên quan đến các giao dịch với các bộ phận

khác trong cùng một doanh nghiệp).

- Kết quả hoạt động thường xuyên được xem xét bởi người quản lý việc ra quyết

định (được xem là một chức năng hơn là một chức vụ của cá nhân riêng lẻ) để ra quyết



31

định về nguồn lực phân bổ tới các bộ phận và đo lường đánh giá thành quả thực hiện

của bộ phận.

- Thơng tin tài chính riêng của bộ phận ln có sẵn.

Trên cơ sở phân loại bộ phận này, ngoại lệ cho bộ phận hoạt động liên quan đến

hoạt động kinh doanh, kể cả khi nó chưa tạo được doanh thu, ví dụ như hoạt động khởi

nghiệp, khởi động “start-up” có thể là bộ phận hoạt động trước khi tạo ra doanh thu. Và

ngược lại không phải bộ phận nào tạo ra doanh thu/ hoặc tạo ra chi phí cũng được xem

là bộ phận hoạt động, chẳng hạn như một đơn vị nghiên cứu và phát triển làm phát sinh

chi phí nhưng khơng tạo ra doanh thu thì nó khơng phải là bộ phận hoạt động. Tương tự

như vậy, trụ sở cơng ty có thể khơng tạo ra doanh thu hoặc có thể tạo ra doanh thu mà

chỉ là phần phụ đới với hoạt động của doanh nghiệp và do đó sẽ không được coi là một

bộ phận hoạt động. Căn cứ chia các bộ phận thành bộ phận hoạt động hướng tới việc

quản trị công ty nhiều hơn phù hợp với việc ra quyết định phân bổ nguồn lực và đánh

giá của nhà quản trị. Nói một cách khác, góc nhìn của việc chia thành bộ phận hoạt

động là góc nhìn từ phía nhà quản lý doanh nghiệp, còn căn cứ phân loại theo lĩnh vực

kinh doanh và khu vực địa lý được xem xét ở góc độ chưa được linh hoạt cho nhà quản

trị khi phân loại bộ phận.

1.1.3.2. Sự hình thành báo cáo bộ phận

Đới tượng sử dụng thông tin BCTC thường quan tâm nhiều tới kết quả chi tiết

theo mục đích sử dụng thơng tin của họ hơn là thơng tin về tởng thể doanh nghiệp, ví

dụ, chế độ bảo hiểm đối với người lao động, mức lương và điều kiện làm việc sẽ phụ

thuộc vào một vài bộ phận cụ thể nơi họ làm việc được quan tâm nhiều hơn so với hoạt

động của toàn doanh nghiệp. Tương tự như vậy, chính quyền sở tại sẽ chú ý đến hoạt

động của doanh nghiệp trong nước, khách hàng, nhà cung cấp và người cho vay sẽ chú

ý đến chi nhánh mà các đối tượng này hợp tác. Tất cả các đối tượng sử dụng BCTC kể

trên đều mong ḿn có được cả thơng tin tài chính tởng qt và thơng tin chi tiết theo

mục đích sử dụng. Đới tượng sử dụng thơng tin có thể sẽ cần tồn bộ thơng tin về

doanh nghiệp, tuy nhiên, họ cũng cần một số thông tin ở mức độ chi tiết như, thông tin

ở từng nhà máy sản xuất. Các cổ đông, nhà đầu tư quan tâm đến kết quả của doanh

nghiệp, vì thế họ chú ý khơng chỉ hoạt động, tiềm năng sinh lời của doanh nghiệp một

cách tổng thể, mà còn quan tâm đến hoạt động của từng bộ phận cụ thể, bởi một doanh

nghiệp được cấu thành từ nhiều bộ phận, và để hiểu đầy đủ về hoạt động và tiềm năng

kinh tế của doanh nghiệp đó, cần phải xem xét hoạt động và tiềm năng của từng bộ



32

phận, điều này đặc biệt quan trọng nếu doanh nghiệp đa dạng hóa ngành nghề kinh

doanh và hoạt động trên nhiều lĩnh vực, khu vực địa lý.

Như vậy, ngồi thơng tin tởng quan thì doanh nghiệp cũng cần phải cơng bố các

thông tin bổ sung chi tiết, cụ thể theo mục đích của người sử dụng thơng tin để giải

thích cho các thông tin tổng quan trên BCTC.

Sự phát triển của các tập đoàn kinh tế đi kèm với đa dang hóa trong lĩnh vực đầu

tư, kinh doanh đa q́c gia làm cho mức độ phức tạp của hoạt động kinh doanh trong

doanh nghiệp ngày càng tăng, tác động mạnh đến sự thay đởi của thơng tin tài chính

cung cấp cho chuyên gia phân tích, nhà đầu tư và nhiều người sử dụng BCTC khác.

Các BCTC tổng hợp, do kết hợp nhiều hoạt động mang cả rủi ro và lợi ích kinh tế nên

người đọc báo cáo không thể thấy được tình trạng của từng hoạt động nếu khơng trình

bày thơng tin dưới hình thức riêng rẽ theo từng bộ phận khác nhau. Trong nửa cuối của

thế kỷ 20, do việc phân tích thơng tin của nhà đầu tư gặp nhiều khó khăn hơn nên một

sớ nhóm đới tượng sử dụng thơng tin BCTC bao gờm, chun gia phân tích tài chính,

nhà điều chỉnh thị trường đã u cầu trình bày thêm phần thuyết minh thông tin liên

quan đến kết quả và rủi ro liên quan từng bộ phận trong đơn vị, đó là thơng tin BCBP,

đặc biệt là u cầu phát triển các chuẩn mực kế toán để đáp ứng nhu cầu này.

Quy định về trình bày BCBP lần đầu tiên được ban hành tại Mỹ, vào năm 1969,

trong bới cảnh Uỷ ban Chứng khốn Hoa Ky u cầu phải trình bày các thơng tin hoạt

động kinh doanh trên các giấy tờ đăng ký niêm yết của doanh nghiệp. Một năm sau Uỷ

ban này mở rộng việc trình bày các thông tin này ra cả biểu mẫu báo cáo, Form 10-K,

dành cho các DNNY trên sàn chứng khoán. Đến năm 1974 tất cả các doanh nghiệp nộp

báo cáo cho SEC đều phải trình bày những thơng tin này trên báo cáo thường niên của

doanh nghiệp đó.

Chuẩn mực kế tốn Mỹ SFAS 14 “Báo cáo tài chính cho bộ phận kinh doanh”

được Uỷ ban chuẩn mực kế toán Mỹ ban hành lần đầu năm 1976 đã mở rộng các yêu

cầu cơng bớ các thơng tin bộ phận. Sau đó, các cơ quan ban hành chuẩn mực của

Canada và Mỹ cùng với Uỷ ban Chuẩn mực kế tốn Q́c tế (IASC) hợp tác thực hiện

một dự án để soát xét lại các chuẩn mực về BCBP và kết quả là, các chuẩn mực mới

được ban hành, bao gồm: Chuẩn mực kế tốn Canada mục 1700, Chuẩn mực kế tốn

Mỹ sớ 131 (FASB, 1997). SFAS 131 đánh dấu sự thay đổi đáng kể so với chuẩn mực

trước đó, đặc biệt là thay đổi cách tiếp cận trong việc xác định bộ phận cần công bố.

Chậm hơn so với sự ra đời của Chuẩn mực kế tốn Hoa Ky, năm 1981 Hội



33

đờng chuẩn mực kế tốn q́c tế (IASC) mới ban hành Chuẩn mực kế tốn q́c tế về

BCBP- IAS 14. Chuẩn mực này có nội dung gần với Chuẩn mực kế tốn của Hoa ky

SFAS 14, do đó các vấn đề tờn tại với SFAS 14 cũng là vấn đề tồn tại với IAS 14. Sau

đó, vào các năm 1997 và 2003, IAS 14 được sửa đổi, làm thay đổi phương thức xác

định bộ phận công bố và các yêu yêu cầu công bố mặc dù những quy định cần sửa đổi

của IAS 14 vẫn chưa được hoàn thiện như SFAS 131.

Năm 2006, chuẩn mực kế tốn mới IFRS 8 được chính thức ban hành, có nội

dung gần với SFAS 131, đây là kết quả của dự án hội tụ các chuẩn mực kế tốn q́c tế

với sự hợp tác của Uỷ ban Chuẩn mực Kế tốn Q́c tế (IASB) và Uỷ ban Chuẩn mực

Kế toán Mỹ (FASB).

1.1.3.3. Báo cáo bộ phận

Những nguyên tắc kế toán được thừa nhận chung (GAAP) đã định nghĩa “Báo

cáo bộ phận là báo cáo của các bộ phận hoạt động của một công ty trong công bớ kèm

theo báo cáo tài chính của nó”. BCBP cung cấp thông tin cho nhà đầu tư và chủ nợ có

liên quan về kết quả tài chính của các bộ phận hoạt động, giúp họ có căn cứ cho việc ra

quyết định đầu tư hoặc cho vay. Đồng thời, việc xác định các thông tin cần báo cáo

giúp người ra quyết định hoạt động sử dụng những thông tin này để đánh giá kết quả

hoạt động và phân bổ nguồn lực.

Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 28, “Báo cáo bộ phận là báo cáo thể

hiện sự chia nhỏ hoạt động của doanh nghiệp thành những thành phần hay bộ phận và

trình bày các thơng tin tài chính của các bộ phận đó”.

Người sử dụng BCTC cho rằng, họ cần thông tin BCTC hợp nhất, hỗ trợ cho

việc ra quyết định, tuy nhiên BCTC hợp nhất vẫn chưa cung cấp được mọi thông tin họ

cần, và báo cáo thường niên của doanh nghiệp thường nhiều thông tin hơn BCTC hợp

nhất. Ví dụ, thơng tin được phân tích và trình bày theo ngành lĩnh vực kinh doanh và

khu vực địa lý, hoặc theo bất cứ cơ sở nào mà doanh nghiệp cho là hữu ích với đới

tượng sử dụng thơng tin. Thông thường các thông tin bộ phận này sẽ được trình bày

trong phần thuyết minh BCTC và được biết đến với tên gọi là “Báo cáo bộ phận”.

Dựa vào cấu trúc hoạt động của doanh nghiệp để chia thành BCBP theo khu

vực địa lý và BCBP theo lĩnh vực kinh doanh. Trong đó;

Báo cáo bộ phận theo lĩnh vực kinh doanh là báo cáo của một bộ phận có thể

phân biệt được của một DN tham gia vào quá trình SX hoặc cung cấp sản phẩm, dịch



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bố cục của Luận án

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x