Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tổng quan nghiên cứu

Tổng quan nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

3

thực hiện việc công bố thông tin BCBP không xác định các bộ phận cần báo cáo,

không phân biệt thông tin bộ phận chính yếu, thứ yếu; tuy nhiên quy định của IAS 14

đã giải quyết được thực trạng này, tác động rất lớn đến việc công bố thông tin BCBP.

Cụ thể, trong nghiên cứu, nhóm tác giả kết luận rằng, việc áp dụng IAS 14 làm tăng

đáng kể số lượng và chất lượng thông tin bộ phận công bố cho những người tham gia

thị trường vốn và đối tượng sử dụng thơng tin trên BCTC (Street và Nicholas, 2002).

Nói đến tính hữu ích của việc cơng bớ thơng tin BCBP, không thể không kể đến

nghiên cứu về BCBP tại Jordan do Suwaidan và cộng sự thực hiện. Đây là nghiên cứu

đầu tiên về các thông lệ trong việc công bớ thơng tin giữa các DNNY của Jordan;

nhóm tác giả cho rằng những nghiên cứu như này rất hữu dụng, giúp cho tất cả những

người sử dụng BCTC đánh giá được tầm quan trọng của thông tin BCBP trong việc ra

quyết định. Suwaidan và cộng sự đã nghiên cứu thông tin BCBP được công bố theo

IAS 14 của 67 DNNY trong ngành công nghiệp của Jordan trên sàn giao dịch chứng

khoán của Jordan (ASE), từ các báo cáo thường niên được công bố năm 2002. Bằng

việc sử dụng các phép thử hồi quy, họ đã kiểm tra mối quan hệ giữa mức độ công bố

thông tin BCBP và một số các đặc tính của doanh nghiệp như: quy mơ doanh nghiệp,

tỷ lệ nợ, tỷ lệ tài sản hiện có. Họ công bố một bảng các chỉ số kiểm tra dựa trên những

yêu cầu của IAS 14 bao gồm 11 yếu tớ của bộ phận chính ́u (doanh thu từ bên ngoài,

doanh thu nội bộ, lợi nhuận, tài sản, cơ sở giá nội bộ, nợ phải trả, chi phí tài chính, chi

phí khấu hao, các khoản chi phí khơng bằng tiền khác, lợi nhuận từ liên doanh/liên kết

và đối chiếu, điều chỉnh với các tài khoản hợp nhất); ba yếu tố của các bộ phận thứ yếu

(doanh thu từ bên ngoài, tài sản và các chi phí tài chính); và hai ́u tớ cho những nội

dung khác (loại hình sản phẩm/dịch vụ của các doanh nghiệp và yếu tố địa lý,

(Suwaidan và cộng sự, 2007).

Mức độ công bố thông tin và nội dung thông tin công bố rất quan trọng, phục

vụ cho các đối tượng sử dụng thông tin trong quá trình ra qút định. Nhiều học giả

cho rằng, việc cơng bố thông tin hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu của đối tượng

sử dụng thông tin bởi nhà quản trị đã can thiệp, hạn chế cung cấp thông tin ra ngồi,

trong trường hợp thơng tin đó khơng có lợi cho mục tiêu của họ (Akhatruddin, 2005).

Kết quả là, mức độ công bố thông tin thực tế không đáp ứng được nhu cầu thực tế của

đối tượng sử dụng thông tin, mâu thuẫn này xuất phát từ lý thuyết đại diện (The

Agency theory). Tuy nhiên, các học giả Cooke, Hossain và Karim đã khẳng định

rằng, mức độ công bố thông tin BCBP trên BCTC càng chi tiết sẽ càng làm tăng giá



4

trị thị trường của doanh nghiệp và tăng khả năng thanh khoản trên TTCK [Cooke,

(1989); Hossain, (2000); Karim, (1996)].

2.1.1.2. Cơng bố thơng tin BCBP giúp dự đốn kết quả trong tương lai

Về những chuẩn mực mà sự ra đời và phát triển của nó có ảnh hưởng đến quy

định trong công bố BCBP, phải kể đến SFAS No.131, ban hành năm 1997 tại Mỹ, tiền

thân của IFRS 8 (2008) - thay thế IAS 14. Rất nhiều cơng trình nghiên cứu đã kết luận,

SFAS No.131 ảnh hưởng rất lớn đến BCBP ở Mỹ. Các tác giả Hermann, Thomas,

Berger và Hann tiến hành khảo sát, kết quả là hơn một nửa DNNY trong mẫu nghiên

cứu đã công bố BCBP, tăng so với thời ky còn sử dụng chuẩn mực cũ [Hermann và

Thomas (2000), Berger và Hann (2003)].

Ở Mỹ có nhiều nghiên cứu bàn về mức độ công bố thông tin BCBP và tính hữu

ích của việc thơng tin tn thủ theo quy định của chuẩn mực kế toán SFAS 131. Trong

nghiên cứu của Behn et al, dữ liệu được thu thập từ 172 doanh nghiệp, tác giả đã tiến

hành kiểm chứng, xem xét liệu việc công bố thông tin BCBP theo quy định của SFAS

131 có thực sự giúp cho đới tượng sử dụng thông tin hiểu được rủi ro và lợi nhuận

trong khoản đầu tư của họ ở doanh nghiệp không. Kết quả cho thấy, trên 50% doanh

nghiệp trong khảo sát đã cung cấp thông tin BCBP theo quy định của SFAS 131; và

công bố thông tin BCBP theo khu vực địa lý đã giúp cho đối tượng sử dụng thông tin

dự báo được thu nhập tương lai của một doanh nghiệp (Behn et al, 2002). Không

những vậy, nghiên cứu của Ettredge et al đã khẳng định được, việc công bớ thơng tin

BCBP có thể giúp cho việc dự báo kết quả kinh doanh trong tương lai của một doanh

nghiệp. Trên cơ sở xem xét quan điểm của đối tượng sử dụng thông tin, cụ thể là nhà

đầu tư, kết quả cho thấy, đối tượng sử dụng thông tin quan tâm đến kết quả từng bộ

phận của doanh nghiệp hơn là kết quả chung của doanh nghiệp (Ettredge et al, 2005).

Các công ty đa quốc gia được ky vọng sẽ cơng khai thơng tin BCBP nhiều hơn

trong BCTC vì những công ty này hoạt động trong nhiều ngành công nghiệp khác

nhau, ở nhiều vị trí địa lý khác nhau; bên cạnh đó, BCTC của họ do nhiều cơ quan lập

pháp quy định, quản lý. Không những vậy, tiền tệ của các quốc gia khác nhau hay rủi

ro về tỷ giá ngoại tệ có thể làm giảm khả năng dự đốn lợi nhuận tương lai của các

công ty đa quốc gia, đặc biệt là với các công ty đa quốc gia ở những thị trường đang

phát triển, do tỷ giá ngoại tệ ở những thị trường này có nhiều rủi ro hơn (dao động

nhiều hơn so với thị trường ở các nước phát triển). Martin và Poli cho rằng: “Những rủi

ro tại thị trường ở các nước đang phát triển và sự ́u kém trong kiểm sốt rủi ro có thể



5

ảnh hưởng đến lợi nhuận của các công ty đa quốc gia đang hoạt động trong thị trường

này”, (Martin và Poli, 2004).

Bên cạnh đó, Martin và Poli cũng đã nghiên cứu, liệu công bố thông tin BCBP

theo khu vực địa lý có hữu ích cho người sử dụng BCTC từ các công ty đa quốc gia

của Mỹ đang hoạt động trong thị trường ở các nước đang phát triển hay không. Giả

thuyết này được kiểm nghiệm bằng cách ước lượng hệ số phản ứng thu nhập (ERC)

cho lợi nhuận của các công ty đang hoạt động trong thị trường ở các nước đang phát

triển so với những công ty chỉ hoạt động tại các thị trường ở các nước phát triển

(Martin và Poli, 2004). Số liệu công bố thông tin BCBP theo khu vực địa lý được thu

thập từ 111 doanh nghiệp. Vì lợi nhuận thu được từ thị trường ở các nước đang phát

triển có rủi ro hơn là lợi nhuận thu được từ thị trường ở các nước phát triển, các tác giả

này đã giả thuyết rằng, các doanh nghiệp tại thị trường ở các nước đang phát triển có hệ

sớ ERC thấp hơn (cụ thể là thu nhập thấp hơn) các doanh nghiệp tại thị trường ở các

nước phát triển. Tại những khu vực được nghiên cứu, họ thấy rằng, hệ số ERC của các

doanh nghiệp tại thị trường ở các nước đang phát triển (3.65) thấp hơn đáng kể so với

các doanh nghiệp chỉ hoạt động tại thị trường ở các nước phát triển. Nói cách khác, lợi

nhuận các công ty đa quốc gia thu được từ các thị trường ở các nước đang phát triển ít

hơn từ các thị trường ở các nước phát triển; điều này có nghĩa là lợi nhuận thu được từ

các khu vực địa lý khác nhau có thể khác nhau. Do đó, thơng tin BCBP theo khu vực

địa lý được cơng bớ là hữu ích cho các cở đơng vì nó cho phép họ so sánh lợi nhuận

của các doanh nghiệp, (Martin và Poli, 2004).

Ảnh hưởng từ SFAS No.131 cũng cho thấy, số lượng các doanh nghiệp công

bố thông tin BCBP theo khu vực địa lý tăng lên, đây là cơ sở để các đối tượng sử

dụng thông tin dự báo doanh thu, kết quả theo vị trí kinh doanh của doanh nghiệp.

Các tác giả đều khẳng định, cách thức công bố thông tin dựa vào quan điểm quản trị

“management approach” của SFAS No.131 đã được chứng minh là thành công hơn

so với cách thức trước đây, trên cơ sở rủi ro và lợi ích từng bộ phận “risks and

rewards-approach”.

Xem xét đặc điểm định tính của thơng tin trên BCTC, các tác giả Maines,

McDaniel và Harris ủng hộ SFAS No.131, họ cho rằng, thông tin BCBP sẽ đáng tin

cậy hơn khi thông tin bộ phận được công bố từ các nhà quản trị doanh nghiệp và

thông tin bộ phận được công bố cho các đối tượng sử dụng thông tin bên ngồi là

thớng nhất với thơng tin phục vụ mục tiêu quản trị của nhà quản trị. Cách tiếp cận



6

quản trị theo SFAS No.131 làm tăng độ tin cậy của nhà đầu tư đối với thông tin

BCBP đã công bố từ nguồn thông tin nội bộ của nhà quản trị doanh nghiệp, (Maines,

McDaniel và Harris, 1997).

IFRS 8, kết hợp qui định của cả IFRS và SFAS, có nội dung tương tự SFAS

No.131. Tuy khơng có nhiều nghiên cứu đánh giá IFRS 8 như SFAS No.131 nhưng

trong nghiên cứu chứng minh thành công của IFRS 8, tác giả Crawford và cộng sự đã

khẳng định tính hữu ích vượt trội của IFRS 8 so với IAS 14, (Crawford và các cộng

sự, 2012).

Bên cạnh các nghiên cứu điển hình về mức độ cơng bớ thơng tin BCBP theo

quy định trong chuẩn mực kế tốn và đánh giá tính hữu ích của thơng tin này, cũng có

nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của mức độ công bố thông tin và bất lợi trong cạnh

tranh với doanh nghiệp. Điển hình là nghiên cứu của nhóm tác giả Tsakumis với dữ

liệu được thu thập từ 115 doanh nghiệp, nhóm tác giả đã sử dụng mơ hình phân tích hời

quy đa nhân tớ để chứng minh các giả thiết liên quan giữa mức độ công bố thông tin

BCBP với các doanh nghiệp hoạt động ở nước ngồi, có doanh thu từ nước ngoài. Kết

quả cho thấy, những doanh nghiệp hoạt động ở nước ngồi ít cơng bớ đầy đủ thơng tin

BCBP theo quy định, vì lo sợ thơng tin này ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh của mình

trên thị trường, (Tsakumis et al, 2006).

SSAP 25, ban hành tại Anh, năm 1990, là chuẩn mực kế toán đầu tiên quy định

việc lập và công bố thông tin BCBP ở Anh. Đã có nhiều nghiên cứu về quy định trong

các chuẩn mực có làm tăng mức độ cơng bớ thông tin BCBP tại các DNNY không, kết

quả nghiên cứu của Edwards và Smith cho thấy, mức độ tuân thủ quy định trong các

chuẩn mực thấp. Nghiên cứu này cũng chỉ ra nguyên nhân các doanh nghiệp chưa công

bố thông tin BCBP sau khi khảo sát 103 DNNY và tiến hành một số cuộc phỏng vấn.

Lý do các doanh nghiệp chưa công bố thông tin BCBP là do bất lợi cạnh tranh, đặc biệt

là công bố thông tin BCBP theo khu vực địa lý, (Edwards và Smith, 1996).

Những bất lợi cạnh tranh trong phân tích về cơng bớ thơng tin BCBP ở trên có

thể là từ áp lực chính trị, áp lực của khách hàng hoặc áp lực từ phía đới thủ cạnh tranh.

Trước đó, đã có một sớ nghiên cứu về mức độ của bất lợi cạnh tranh và mối quan hệ

của bất lợi cạnh tranh với việc công bố thông tin BCBP tại thị trường ở những nước

đang phát triển như Malaysia và Jordan. Ví dụ, Talha và cộng sự đã sử dụng phương

pháp hời quy tún tính với số liệu thu thập từ 116 DNNY công khai thơng tin BCBP

tại Malaysia, giai đoạn 2000-2001. Họ khơng tìm thấy mối quan hệ giữa mức độ cạnh



7

tranh mà doanh nghiệp phải đối mặt với mức độ công bố thông tin BCBP. Talha và

cộng sự đã sử dụng phép hồi quy tương tự với cùng quy mô và các biến như trong

nghiên cứu của họ nhưng thêm một số biến độc lập (lựa chọn hoạt động kinh doanh

hoặc khu vực địa lý) làm tiêu chuẩn của bộ phận chính yếu, họ nhận thấy mức độ bất

lợi cạnh tranh ở các doanh nghiệp công khai thông tin bộ phận theo khu vực địa lý như

bộ phận chính ́u cao hơn. Ngồi ra, các tác giả cũng nhận thấy các doanh nghiệp lớn

hơn ở Malaysia chịu nhiều bất lợi so sánh hơn các doanh nghiệp nhỏ, quy mô doanh

nghiệp trong thị trường ở các nước đang phát triển cũng là một yếu tố ảnh hưởng,

(Talha và cộng sự, 2007).

2.1.2. Mức độ công bố thông tin BCBP, nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công

bố thông tin BCBP

2.1.2.1. Các nghiên cứu ở nước ngồi về việc cơng bố thơng tin BCBP

Nghiên cứu về mức độ công bố thông tin BCBP và đánh giá nhân tố ảnh hưởng

đến mức độ công bố thông tin BCBP đã được nhiều tác giả trên thế giới thực hiện, trên

cơ sở số liệu ở từng nước như Nigeria, Kuwait, Italia, Ấn độ, Tây Ban Nha,… Các

nghiên cứu đều sử dụng phương pháp thống kê mô tả và mô hình phân tích hời quy đa

biến, nhằm đánh giá mức độ tn thủ chuẩn mực kế tốn về cơng bớ thơng tin BCBP

và phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ công bố thông tin BCBP tại các

DNNY ở từng q́c gia. Có tác giả phân tích một nhân tớ, có tác giả phân tích nhiều

nhân tớ ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin BCBP, nhưng tựu chung, đều cho

chúng ta thấy được một số kết quả của việc tuân thủ chuẩn mực kế toán liên quan đến

công bố thông tin BCBP và các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin ở

những vị trí địa lý khác nhau.

Một sớ cơng trình nghiên cứu cụ thể: “Corporate Governance and Disclosure on

Segment Reporting: Evidence from Nigeria” (2013) của nhóm tác giả Kabir Ibrahim và

Hartini Jaafar. Hội đờng chuẩn mực kế tốn Nigeria (NASB) cơng bớ lộ trình hội tụ

IFRS (lộ trình hướng tới hội tụ kế tốn q́c tế theo IFRS) vào tháng 9/2010, yêu cầu

các DNNY tại Nigeria phải thực hiện báo cáo theo chuẩn mực báo cáo tài chính q́c tế

IFRS từ ngày 01/01/2012. Nghiên cứu điều tra về sự liên kết giữa cấu trúc quản lý

doanh nghiệp với mức độ tuân thủ theo IFRS 8. Mẫu nghiên cứu gồm 69 DNNY tại

Nigeria với mơ hình nghiên cứu được thiết lập như sau:

VDISCL = β0 + β1 BINDP + β2 SIZE + β3 BMEET + β4 SPRTN + β5

ACINDP + β6 ACSIZE + β7 ACMEET + β8 FSIZE + β7 INTYPEt + εi



8

Những phát hiện trong nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong quản trị

doanh nghiệp và việc công bố thông tin trên BCTC của doanh nghiệp. Kết quả nghiên

cứu hỗ trợ cho lập luận rằng, cơ chế hội đờng quản trị và ban kiểm sốt giúp thúc đẩy

mức độ công bố thông tin tại Nigeria. Nghiên cứu cũng đã cung cấp cái nhìn rõ hơn về

mới quan hệ giữa cơ chế quản trị doanh nghiệp và mức độ công bố thông tin BCBP

theo quy định của IFRS trong bối cảnh nền kinh tế Nigeria đang khủng hoảng tài chính

trầm trọng, (Kabir Ibrahim and Hartini Jaafar, 2013).

Cơng trình nghiên cứu “What Explains Variation In Segment Reporting?Evidence From Kuwait” của nhóm tác giả Mishari M. Alfaraih và Faisal S. Alanezi đã

đánh giá mức độ công bố thông tin BCBP của các DNNY trên thị TTCK Kuwait và

các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố BCBP tại đây. Mức độ công bố thông tin

dựa trên các yêu cầu bắt buộc trong IAS 14. Cơng trình nghiên cứu đã khảo sát 123

DNNY tại Kuwait năm 2008 với mơ hình nghiên cứu:

Y = β0 + β1 (company size) + β2 (audit quality) + β3 (company age) + β4

(ownership diffusion) + β5 (profitability) + β6 (leverage) + β7 (growth) + β8-11

(industry 1-4) + εi

Kết quả của nghiên cứu này cho thấy, 56% doanh nghiệp tuân thủ quy định về

BCBP, trong đó, những doanh nghiệp có quy mơ lớn, hoạt động lâu năm, đòn bẩy tài

chính cao, khả năng sinh lợi lớn và có hoạt động kiểm tốn được thực hiện bởi các cơng

ty kiểm tốn thuộc nhóm Big 4 (nhóm gờm bớn cơng ty kiểm tốn q́c tế hàng đầu

trên thế giới hiện nay), có mức độ cơng bớ thơng tin bộ phận cao hơn các doanh nghiệp

khác.

Nghiên cứu của nhóm tác giả Manuela Lucchese và Ferdinando Di Carlo ở Ý

đề cập đến ảnh hưởng của việc thay đổi nội dung từ IAS 14 sang IFRS 8 - “An

Analysis Of Segment Disclosure under IFRS 8 and IAS 14R: Evidence from Italian

Listed Companies”. Nghiên cứu thực hiện khảo sát về ảnh hưởng của việc áp dụng

IFRS 8 trong năm đầu tiên (2008) và hai năm tiếp theo (2009, 2010) thông qua thu thập

dữ liệu của 69 DNNY tại Italia với mơ hình nghiên cứu:

VoluntSDSi = β0 + β1TAt + β2ROIt + β3LEVt + β4OWNt + β5GROWTHt

+ β6BETAt+ β7FINt + εi

Kết quả của nghiên cứu này cho thấy, 75% DNNY tại Italia không thay đổi cách

thức công bố thông tin bộ phận khi áp dụng chuẩn mực mới. Khi chuyển đổi từ IAS

14R sang IFRS 8, chỉ có 16% doanh nghiệp tăng mức độ cơng bớ thơng tin BCBP,



9

thậm chí có 9% doanh nghiệp giảm lượng thơng tin cơng bớ. Điểm tích cực đáng nói

nhất của IFRS 8 là phương pháp quản trị nhưng phương pháp này lại chỉ mới thể hiện

được trên lý thuyết. Về mối liên hệ giữa mức độ công bố BCBP và các nhân tớ ảnh

hưởng thuộc đặc tính của doanh nghiệp, kết quả từ nghiên cứu cho thấy, quy mô doanh

nghiệp và khả năng sinh lời là hai yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc công bố BCBP

(Manuela Lucchese và Ferdinando Di Carlo, 2001).

Về đánh giá mức độ công bố thông tin BCBP tuân thủ theo chuẩn mực kế tốn,

khơng thể bỏ qua nghiên cứu của nhóm tác giả Raju Hyderabad và Kalyanshetti

Pradeepkumar - “An Appraisal of Segment Reporting Practices of Indian IT Industry”.

Nghiên cứu đã đánh giá thực trạng lập và công bố thông tin BCBP của 45 DNNY trong

lĩnh vực công nghệ thông tin tuân thủ chuẩn mực kế tốn Ấn Độ sớ 17 về BCBP.

Nghiên cứu đã phát hiện được, có một khoảng cách lớn giữa mô tả trong chuẩn mực

và thực tế. Kết quả thống kê cho thấy, đa số các doanh nghiệp công bớ BCBP chính

́u theo lĩnh vực kinh doanh và chỉ công bố giới hạn thông tin mà chuẩn mực bắt

buộc, các DNNY trong lĩnh vực này vẫn chưa tuân thủ tồn bộ các u cầu về cơng

bớ thơng tin của chuẩn mực. Chỉ có 11% doanh nghiệp trong 29 mẫu nghiên cứu

cơng bớ tồn bộ các thơng tin theo đúng quy định. Thông tin bộ phận tự nguyện công

bố lẽ ra là các thông tin đem lại giá trị cao cho cở đơng, có lợi trong duy trì quan hệ

với nhà đầu tư, nhà cung cấp, ngân hàng, nâng cao hình ảnh doanh nghiệp trước cơng

chúng và làm tăng cơ sở đánh giá của thị trường, nhưng lại được công bố rất sơ sài,

không trông chờ những thông tin này được công bố trong BCBP. Nghiên cứu này đã

kết luận, các doanh nghiệp chỉ áp dụng chuẩn mực về hình thức. IFRS 8 được áp

dụng tại Ấn Độ từ tháng 4 năm 2011 đã cải thiện chất lượng thông tin BCBP, đồng

thời làm thay đổi quan điểm của nhà quản trị trong việc chia sẻ thông tin với nhà đầu

tư. Đây sẽ là cách giúp nhà đầu tư đánh giá doanh nghiệp và các bộ phận hiệu quả

hơn, từ đó đưa ra quyết định nắm giữ các khoản đầu tư tối ưu nhất, (Raju Hyderabad

và Kalyanshetti Pradeepkumar, 2011).

Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin BCBP, nhóm

tác giả Pedro Nuno Pardal và Ana Isabel Morais đã có kết luận trong nghiên cứu

“Segment Reporting Under IFRS8 - Evidence From Spanish Listed Firms”. Thông qua

việc thu thập báo cáo thường niên năm 2009 của 150 DNNY tại Tây Ban Nha, nghiên

cứu đã xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến việc công bố thông tin BCBP và tiến



10

hành khảo sát mức độ tuân thủ việc công bố BCBP theo IFRS 8 của các DNNY này

với mơ hình nghiên cứu:

DCSi = β 0 + β1SIZEi + β2LISTi + β3AUDITi + β4ROAi + β5LEVi +

β6IBEXi + ei

Kết quả nghiên cứu cho thấy, 79% DNNY tại Tây Ban Nha tuân thủ việc công

bố BCBP theo từng lĩnh vực kinh doanh. Chỉ có 7,6% doanh nghiệp khơng cơng bớ

BCBP do chỉ có duy nhất một bộ phận. Nghiên cứu kết luận rằng, quy mô doanh

nghiệp càng lớn, càng công bố nhiều thông tin BCBP hơn; khả năng sinh lợi càng cao,

mức độ công bố thông tin BCBP càng thấp. (Nuno Pardal và Ana Isabel Morais, 2010).

Một nghiên cứu điển hình ở Malaysia, tương đờng về điều kiện phát triển và

văn hố với Việt Nam, của nhóm tác giả Samuel Jebaraj Benjamin, Saravanan

Muthaiyah, M. Srikamaladevi Marathamuthu, Uthiyakumar Murugaiah - “A Study of

Segment Reporting Practices: A Malaysian Perspective”. Nghiên cứu sử dụng phương

pháp thống kê mô tả để khảo sát một số doanh nghiệp lớn ở 5 lĩnh vực kinh doanh năm

2007 và 2008 tại Malaysia gồm: viễn thông, nước giải khát, truyền thông in ấn, điện tử

truyền thông và tiện ích xã hội. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ các doanh nghiệp

khơng trình bày BCBP khá cao, các doanh nghiệp có tỷ śt lợi nhuận cao cũng chính

là các doanh nghiệp khơng trình bày BCBP. Nghiên cứu cũng đã đề cập một sớ giải

pháp khắc phục tình trạng khơng chấp hành trình bày BCBP tại q́c gia này, (Samuel

Jebaraj Benjamin, Saravanan Muthaiyah, M. Srikamaladevi Marathamuthu,

Uthiyakumar Murugaiah, 2010).

Trên thế giới có nhiều cơng trình nghiên cứu khoa học đề cập đến tính hữu ích

của việc cơng khai thơng tin trên BCTC nói chung và cơng bớ thơng tin bộ phận nói

riêng. Các học giả đã sử dụng mơ hình kinh tế định lượng để đánh giá các nhân tố chủ

yếu (liên quan đến đặc tính của doanh nghiệp, thị trường) ảnh hưởng đến mức độ công

bố thông tin, hay thông tin BCBP của DNNY trên TTCK. Luận án này sẽ tập trung

kiểm chứng ảnh hưởng của các nhân tố (liên quan đến đặc tính của doanh nghiệp như

ngành nghề kinh doanh, khả năng sinh lời, qui mô doanh nghiệp,...) ảnh hưởng đến

mức độ công bố thông tin BCBP, bằng việc sử dụng phương pháp phỏng vấn để đánh

giá tính hữu ích của việc cơng bớ thơng tin BCBP trên quan điểm của 3 đối tượng là,

nhà đầu tư, người lập BCTC và kiểm tốn viên. Từ đó đề x́t một số giải pháp tăng

cường mức độ công bố thông tin BCBP theo thông lệ quốc tế về công bố thơng tin

BCBP, đảm bảo tính hữu ích của thơng tin đối với các đối tượng sử dụng thông tin.



11

2.1.2.2. Đánh giá chung về những nghiên cứu đã thực hiện ở nước ngồi về

cơng bố thơng tin báo cáo bộ phận

Các nghiên cứu đánh giá tính hữu ích của việc cơng bố thông tin BCBP thông

qua việc đánh giá việc công bố thông tin BCBP làm tăng chất lượng thông tin công bố

trên BCTC, mối quan hệ của việc công bố thông tin BCBP với lợi nhuận cũng như dự

báo các kết quả trong tương lai. Mức độ tuân thủ chuẩn mực kế tốn và các nhân tớ ảnh

hưởng đến mức độ cơng bớ thơng tin BCBP có những đặc điểm như sau:

- Hầu hết các nghiên cứu đều đánh giá mức độ tuân thủ chuẩn mực công bố

thông tin BCBP trong phạm vi quốc gia, các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố

thông tin. Một số nghiên cứu tập trung đề cập đến mức độ công bố thông tin BCBP,

đánh giá những nhân tố ảnh hưởng theo đặc điểm, điều kiện từng quốc gia.

- Phương pháp nghiên cứu chủ yếu sử dụng trong các nghiên cứu đã thực hiện

là phương pháp nghiên cứu định lượng, có dùng kết quả của những nghiên cứu trước

đó, với cỡ mẫu được mở rộng.

- Nhiều nghiên cứu có kết quả tương đờng về đánh giá các nhân tố ảnh hưởng

đến mức độ cơng bớ thơng tin BCBP, đều chứng minh có ảnh hưởng qua lại giữa các

nhân tố như, quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lời, doanh nghiệp kiểm toán BCTC,

quan hệ sở hữu,… với mức độ công bố thông tin BCBP. Dù đánh giá những ảnh hưởng

này thuận chiều hay ngược chiều các nhân tớ ảnh hưởng thì kết quả trong các nghiên

cứu đều khác nhau. Cụ thể, trong các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin

BCBP, ngồi một sớ nhân tớ được hầu hết các nghiên cứu đờng tình thì đa phần được

các nhóm tác giả sau khi thực nghiệm có kết quả khác nhau. Ví dụ, với nhân tớ quy mơ

doanh nghiệp và khả năng sinh lời, nghiên cứu của nhóm tác giả Mishari M. Alfaraih

và Faisal S. Alanezi đã kết luận, có mới quan hệ cùng chiều giữa qui mô doanh nghiệp

và khả năng sinh lời với mức độ công bố thông tin BCBP. Trong khi đó, kết quả

nghiên cứu của nhóm tác giả Samuel Jebaraj Benjamin, Saravanan Muthaiyah, M.

Srikamaladevi Marathamuthu, Uthiyakumar Murugaiah kết luận ngược lại, các doanh

nghiệp trong mẫu nghiên cứu có mức sinh lời càng cao thì mức độ cơng bố thông tin

BCBP càng thấp.

- Liên quan đến đánh giá tính hữu ích của việc cơng bớ thơng tin BCBP, đa phần

các nghiên cứu đã chứng minh bằng phương pháp thực chứng để kết luận việc công bố

thông tin BCBP có ý nghĩa đới với các đới tượng sử dụng thông tin, chủ yếu là nhà đầu



12

tư trên TTCK. Tuy nhiên, các nghiên cứu này đều chưa sử dụng đặc điểm định tính của

thơng tin trên BCTC để xem xét tính hữu ích của việc cơng bớ thơng tin BCBP.

Qua những phân tích trên, có thể thấy, cần thận trọng khi xem xét các kết quả

nghiên cứu, không được chỉ dựa vào các kết quả nghiên cứu để khẳng định kết quả nào

đúng, kết quả nào sai, kết quả nào phù hợp, mà cần xem xét tồn diện để có cách nhìn

đúng đắn, đầy đủ ở mỡi kết quả nghiên cứu, nhằm vận dụng hợp lý trong từng môi

trường, từng nền kinh tế và từng doanh nghiệp tại Việt Nam. Sự khác nhau ở một sớ

kết quả nghiên cứu có thể bắt nguồn từ những nguyên nhân sau, khác về lựa chọn mẫu

nghiên cứu khi thực nghiệm (nghiên cứu ở các q́c gia khác nhau có thể phải đới mặt

với thực trạng khác biệt về văn hố, kinh tế, chính trị, tập quán dẫn đến kết quả khác

nhau), khác về thời điểm nghiên cứu (thời điểm được chọn để lấy mẫu nghiên cứu khác

nhau dẫn đến khác về kiến thức, tầm nhìn, trình độ, kỹ thuật và cơng cụ phân tích,…)

và khác về trình độ phát triển kinh tế của các nước ở từng giai đoạn.

Tóm lại, trên cơ sở xem xét các nghiên cứu về tính hữu ích của việc công bố

thông tin BCBP đã được tiến hành trên thế giới, có rất nhiều tranh luận về lợi ích cũng

như chi phí (bất lợi cạnh tranh) khi thực hiện công bố thông tin BCBP. Các nghiên cứu

đề cập trong Luận án đã có phương pháp tiếp cận, sử dụng cơng cụ đo lường khác nhau

để nhận định về tính hữu ích của việc cơng bớ thơng tin BCBP. Tuy nhiên, những

nghiên cứu này chủ yếu dựa vào kết quả định lượng nhằm lượng hố ảnh hưởng của

việc cơng bớ thơng tin BCBP với thơng tin hữu ích cho nhà đầu tư (như ảnh hưởng đến

chất lượng lợi nhuận, đến quyết định của nhà đầu tư,…). Sự phát triển của các tập đồn

kinh tế lớn trên thế giới bắt ng̀n từ các chiến lược đa dạng hóa lĩnh vực kinh doanh và

q́c tế hóa đã dẫn đến sự gia tăng tính phức tạp của các hoạt động kinh doanh, đờng

thời tác động mạnh mẽ đến việc công khai thông tin tài chính cho các nhà đầu tư và các

đới tượng sử dụng thơng tin. Nói chung, các nghiên cứu đều đi theo hướng thảo luận về

nội dung của các chuẩn mực mới so với chuẩn mực cũ và đưa ra bằng chứng thực

nghiệm về các yếu tố và ảnh hưởng của chúng đến việc cơng bớ BCBP, từ đó đánh giá

tính hữu ích của việc cơng bớ thơng tin BCBP.

Tính hữu ích của việc cơng bớ thơng tin BCBP trong BCTC được xem xét trong

các nghiên cứu dựa trên những mơ hình định lượng, kết quả là, việc cơng bớ thông tin

BCBP làm tăng chất lượng thông tin trên BCTC, ảnh hưởng đến việc ra quyết định của

nhà đầu tư. Các nghiên cứu cũng được chứng minh được, có mới liên hệ giữa mức độ

công bố thông tin BCBP với lợi nhuận, đặc biệt là công bố thông tin BCBP theo khu



13

vực địa lý. Hơn nữa, qui định mới trong IFRS 8 được đánh giá là linh hoạt ở yêu cầu về

BCBP, công bố thông tin BCBP, tạo điều kiện cho q trình lập và trình bày thơng tin

BCBP của doanh nghiệp. Từ kết quả nghiên cứu đã có, Luận án xin được tập trung vào

đánh giá tính hữu ích của việc công bố thông tin BCBP trong BCTC của các DNNY

dựa trên kết quả khảo sát từ nhiều đối tượng khác nhau (nhà đầu tư, kiểm toán viên và

người lập BCTC). Quan điểm của các đối tượng này về tính hữu ích của việc cơng bớ

thơng tin BCBP được xem xét trên đặc tính chất lượng thơng tin BCTC đối với đối

tượng sử dụng thông tin cũng như định hướng cho q trình tn thủ thơng lệ q́c tế

về lập và công bố thông tin BCBP theo IFRS 8.

2.2. Tổng quan nghiên cứu ở Việt Nam

Tại Việt Nam, để hiểu rõ mục tiêu của đề tài, tính hữu ích của việc công bố

thông tin BCBP với đối tượng sử dụng thông tin, cũng như đánh giá mức độ tuân thủ

quy định và nhân tố ảnh hưởng đến mức độ cơng bớ thơng tin BCBP, từ đó có những

đề x́t nhằm tăng cường mức độ công bố thông tin BCBP trong BCTC cũng như cải

thiện chất lượng thông tin công bớ của các DNNY trên TTCK. Ngồi việc trình bày

những nghiên cứu ở nước ngồi, Luận án sẽ trình bày cụ thể các nghiên cứu liên quan

đến việc công bố thông tin BCBP tại Việt Nam.

2.2.1. Các nghiên cứu đánh giá tính hữu ích của việc cơng bố thơng tin tài

chính (TTTC), mức độ cơng bố thơng tin (CBTT) và nhân tố ảnh hưởng đến mức

độ CBTT BCTC nói chung

Liên quan đến tính hữu ích của thơng tin cơng bớ trên BCTC của các doanh

nghiệp Việt Nam, phải kể đến nghiên cứu của tác giả Nguyễn Phúc Sinh. Tác giả đã

phân tích tính hữu ích của thơng tin trên BCTC, đưa ra quan điểm và đề xuất các giải

pháp để nâng cao tính hữu ích của thơng tin cơng bớ trong BCTC ở các DNNY ở Việt

Nam (Nguyễn Phúc Sinh, 2008).

Một sớ tác giả đã có nghiên cứu đánh giá mức độ CBTT cũng như xem xét các

nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT tài chính tại các DNNY. Cụ thể, nhóm tác giả

Phạm Ngọc Tồn và Hồng Thị Thu Hồi đã sử dụng phương pháp chỉ sớ CBTT để đo

lường mức độ CBTT. Bên cạnh đó, nhóm tác giả đã đánh giá các nhân tố (liên quan

đến đặc điểm công ty) ảnh hưởng đến mức độ CBTT. Qua phân tích hời quy, kết quả

cho thấy mức độ CBTT trong BCTC của các DNNY chưa cao. Các nhân tố tác động

đến thành phần hội đồng quản trị (HĐQT) gồm, tỷ lệ sở hữu vớn HĐQT, đòn bẩy tài

chính, tỷ lệ sở hữu nước ngoài ảnh hưởng đến mức độ CBTT, các nhân tớ còn lại



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tổng quan nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x