Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
6 Phân loại theo quan điểm thông thường

6 Phân loại theo quan điểm thông thường

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chất thải rắn là sản phẩm của các quá trình cháy: loại chất thải rắn này chủ yếu là

tro hoặc các nhiên liệu cháy còn dư lại của các quá trình cháy tại các lò đốt. Các loại tro

thường sinh ra tại các cơ sở sản xuất công nghiệp, các hộ gia đình khi sử dụng nhiên liệu

đốt lấy nhiệt sử dụng cho mục đích khác. Xét về tính chất thì loại chất thải rắn này là vơ

hại nhưng chúng lại rất dễ gây ra hiện tượng ô nhiễm môi trường do khó bị phân hủy và

có thể phát sinh bụi.

Chất thải độc hại: các CTR hóa học, sinh học, chất gây phóng xạ, chất dễ gây nổ như

pin, bình acquy…Khi thải ra mơi trường có ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng tới môi

trường. Chúng thường được sinh ra từ các hoạt động sinh hoạt của người dân.

Ngoài ra rác thải như bông băng, kim tiêm, bệnh phẩm cũng là loại CTR có tính nguy

hại lớn tới mơi trường, cũng được xếp vào dạng chất thải độc hại.

Chất thải sinh ra từ trong hoạt động sản xuất nông nghiệp: các sản phẩm phụ sinh ra

trong nông nghiệp, các loại cây con khơng có giá trị sử dụng, hóa chất được áp dụng như

thuốc trừ sâu, phân bón được thải bỏ hoặc dư thừa.

Chất thải rắn sinh ra trong xây dựng: là loại CTR sinh ra trong quá trình đập phá, đào

bới nhằm xây dựng các cơng trình cơng cộng, dân dụng, giao thông, cầu cống… thành

phần chủ yếu của loại chất thải này là các loại gạch đá, xà bần, sắt thép, bê tông,…

Chất thải rắn sinh ra từ các cống thoát nước, trạm xử lý nước: thành phần chủ yếu là

bùn đất chiếm 90 – 95%. Nguồn gốc sinh ra chúng là các loại bụi bặm, đất cát đường

phố, xác động vật chết, … trên đường được thu vào ống cống. Ngồi ra còn một loại CTR

khác cũng được phân loại chung vào là bùn thải sinh ra từ các nhà máy xử lý nước thải,

trạm xử lý nước thải. Phân rút từ hầm cầu, bể tự hoại.



1.7 Thành phần CTR



Bảng 2: Thành phần CTR sinh hoạt tại TpHCM

8



STT Thành phần



Khối lượng riêng

(kg/m3)



Độ ẩm (%)



01



Rác nhà bếp



64,50



290



70



02



Giấy



5,07



89



6



03



Vải



3,88



50



5



04



Gỗ



4,59



65



2



05



Nhựa



12,42



65



10



06



Da và cao su



0,44



130



2



07



Kim loại



0,36



160



10



08



Thủy tinh



0,40



101



60



09



Sành sứ



0,24



237



20



10



Đất cát



1,39



257



2



11



Xỉ than



0,44



335



2



12



Nguy hại



0,12



233



2



13



Bùn



2,92



122



60



Các loại khác



0,14



459



5



Tổng cộng



100



14



1.7.1



Tỷ lệ phần trăm

(%)



Thành phần vật lý



9



CTRSH ở các đô thị là vật phế thải trong sinh hoạt và sản xuất nên đó là một hỗn hợp

phức tạp của nhiều vật chất khác nhau. Để xác định được thành phần của CTRSH một

cách chính xác là một việc làm rất khó vì thành phần của rác thải phụ thuộc rất nhiều vào

tập quán cuộc sống, mức sống của người dân, mức độ tiện nghi của đời sống con người,

theo mùa trong năm,..

Thành phần rác thải có ý nghĩa rất quan trọng trong việc lựa chọn các thiết bị xử lý,

công nghệ xử lý cũng như hoạch định các chương trình quản lý đối với hệ thống kỹ thuật

quản lý CTR.

1.7.2



Độ ẩm

Độ ẩm của CTR được định nghĩa là lượng nước chứa trong một đơn vị trọng lượng

chất thải ở trong trạng thái nguyên thủy.

Việc xác định độ ẩm của rác thải dựa vào tỷ lệ giữa trọng lượng tươi hoặc khô của rác

thải. Độ ẩm khô được biểu thị bằng phần trăm trọng lượng khô của mẫu. Độ tươi khô

được biểu thị bằng phần trăm trọng lượng ướt của mẫu và được xác định bằng cơng thức:

M=

Trong đó:

M: độ ẩm

w: khối lượng ban đầu của mẫu CTR (kg)

d: khối lượng của mẫu CTR sau khi đã sấy khô đến khối lượng không đổi ở 105 0C

(kg)

Độ ẩm của rác phụ thuộc vào mùa mưa hay nắng. CTR đô thị ở Việt Nam thường có

độ ẩm từ 50 – 70%

Bảng 3:

Khối lượng riêng (kg/m3)

Khoảng dao động

Đặc trưng

Rác khu dân cư (không nén)

Thực phẩm

130 – 480

290

Giấy

41 – 130

89

Carton

41 – 80

50

Nhựa

41 – 130

65

Vải

41 – 101

65

Loại chất thải



Độ ẩm (% khối lượng)

Khoảng dao động

Đặc trưng

50 – 80

4 – 10

4–8

1–4

6 – 15



70

6

5

2

10

10



Cao su

101 – 202

130

1–4

2

Da

101 – 261

160

8 – 12

10

Rác vườn

59 – 225

101

30 – 80

60

Gỗ

130 – 320

237

14 – 40

20

Thủy tinh

160 – 480

196

1–4

2

Lon thiếc

50 – 160

89

2–4

3

Nhôm

65 – 240

160

2–4

2

Các kim loại 130 – 1.151

320

2–4

3

khác

Bụi, tro

320 – 1.000

480

6 – 12

8

Tro

650 – 830

745

6 - 12

6

Rác

89 – 181

130

5 – 20

15

(Nguồn: Giáo trình “Quản lý chất thải rắn và chất thải nguy hại” – Biên soạn ThS.

Vũ Hải Yến)

1.7.3



Tỷ trọng

Tỷ trọng của rác được xác định bằng phương pháp cân trọng lượng để xác định tỷ lệ

giữa trọng lượng của mẫu với thể tích của nó, có đơn vị là kg/m 3 (hoặc lb/yd3). Tỷ trọng

được dùng để đánh giá khối lượng tổng cộng và thể tích CTR. Tỷ trọng rác phụ thuộc vào

các mùa trong năm, thành phần riêng biệt, độ ẩm khơng khí.

Đối với nước ta do khí hậu nóng ẩm nên độ ẩm của CTR rất cao, thành phần rất phức

tạp và chứa nhiều chất hữu cơ dễ phân hủy do đó tỷ trọng cùa rác khá cao, khoảng 1100 –

1300 kg/m3.

Tỷ trọng của CTR được xác định:

Tỷ trọng = khối lượng cân CTR/ thể tích chứa khối lượng CTR cân bằng (kg/m3)



1.7.4



Thành phần hóa học

Thành phần hóa học và giá trị nhiệt lượng của rác là những thông số rất quan trọng

dùng để lựa chọn phương án xử lý chất thải phù hợp. Thơng thường rác thải có giá trị

nhiệt lượng cao như gỗ, cao su, trấu… sẽ được sử dụng làm chất đốt, rác thải có thành

phần hữu cơ dễ phân hủy phải thu gom trong ngày và ưu tiên xử lý theo phương pháp

sinh học.



11



Để có những số liệu về tính chất hóa học và giá trị nhiệt lượng, người ta thường xác

định những thơng số sau:

Tính chất hóa học:

Thành phần hữu cơ: được xác định phần thất thoát (chất bay hơi) sau khi nung rác ở

nhiệt độ 9500C. Phần bay hơi đi là chất hữu cơ hay còn gọi là tổn thất khi nung, thơng

thường chất hữu cơ dao động trong khoảng 40 – 60% giá trị trung bình 53%.

Thành phần vơ cơ (tro): là phần tro còn lại sau khi nung rác thải ở 9500C.

Chất hữu cơ (%) =

Chất vơ cơ (%) =

Trong đó: a: khối lượng trước nung

b: khối lượng sau nung

Thành phần phần trăm: của C (Cacbon), H (Hydro), O (Oxy), N (Nito), S (Lưu

huỳnh) và tro. Thành phần phần trăm C, H, O, N, S... được xác định để tính giá trị nhiệt

lượng của rác.

Giá trị nhiệt lượng:

Giá trị nhiệt lượng (H) của rác thải có thể được tính theo cơng thức Dulong:

Btu = 145,4C + 620(H2 - O) + 40S + 10N

Trong đó:

C: Cacbon, % khối lượng

H2 : Hydro, % khối lượng

O2: Oxy, % khối lượng

S: Lưu huỳnh, % khối lượng

N: Nito, % khối lượng

Btu/lb x 2,324 = KJ/kg



12



CHƯƠNG 2: CÔNG NGHỆ CHÔN LẤP CTR SINH HOẠT VÀ LỰA CHỌN

CÔNG NGHỆ CHƠN LẤP THÍCH HỢP

2.1 Cơng nghệ chơn lấp CTR sinh hoạt

Khái niệm:



Chôn lấp là phương pháp thải bỏ CTR kinh tế nhất và chấp nhận được về mặt môi

trường. Ngay cả khi áp dụng các biện pháp giảm thiểu lượng chất thải, tái sinh, tái sử

dụng và cả kỹ thuật chuyển hóa chất thải, việc thải bỏ phần chất thải còn lại ra bãi chơn

lấp vẫn là một khâu quan trọng trong chiến lược quản lý tổng hợp CTR. Công tác quản lý

bãi chôn lấp kết hợp chặt chẽ với quy hoạch, thiết kế, vận hành, đóng cửa và kiểm sốt

sau khi đóng cửa hồn tồn bãi chơn lấp.

Ưu điểm:

− Phù hợp với những nơi có diện tích đất rộng.

− Xử lý được tất cả các loại CTR, kể cả các CTR mà những phương pháp

khác không thể xử lý triệt để hoặc không thể xử lý được.

− Bãi chôn lấp sau khi đóng cửa có thể sử dụng cho nhiều mục đích khác

nhau như: bãi đỗ xe, sân chơi,…

− Thu hồi năng lượng từ khí gas.

− Khơng thể thiếu dù cho áp dụng bất kì phương pháp nào.

− Linh hoạt trong quá trình sử dụng (khi khối lượng CTR gia tăng có thể tăng

cường thêm nhân cơng và thiết bị cơ giới), trong khi các phương pháp khác phải

được mở rộng qui mô công nghệ để tăng công suất.

− Đầu tư ban đầu và chi phí hoạt động của bãi chơn lấp thấp hơn so với

những phương pháp khác.

• Nhược điểm:

− Tốn nhiều diên tích đất chơn lấp, nhất là những nơi tài nguyên đất còn khan

hiếm.

− Phải phù hợp với u cầu địa hình, địa chất, khí tượng của từng địa phương

cho nên việc nghiên cứu lập dự án khả thi ban đầu khá công phu và tốn kém.

− Lây lan các dịch bệnh

− Gây ô nhiễm môi trường nước, khí, đất xung quanh bãi chơn lấp.

− Khó khăn và tốn kém trong việc kiểm sốt khí thải và nước thải.

− Có nguy cơ xảy ra sự cố cháy nổ, gây nguy hiểm do sự phát sinh khí CH 4

và H2S.

− Công tác quan trắc chất lượng môi trường bãi chôn lấp và xung quanh vẫn

phải được tiến hành sau khi đóng cửa.

− Ảnh hưởng cảnh quan.





13



Việc quy hoạch, thiết kế và vận hành của một bãi chôn lấp CTR hiện đại đòi hỏi áp

dụng nhiều nguyên tắc cơ bản về khoa học, kỹ thuật và kinh tế. Các vấn đề chính liên

quan đến việc thiết kế BCL hợp vệ sinh bao gồm:

Vấn đề môi trường và các quy định ràng buộc

Các dạng và phương pháp chôn lấp

Vị trí bãi chơn lấp

Quản lý khí sinh ra trong q trình chơn lấp

Kiểm sốt nước rò rỉ

Kiểm sốt nước bề mặt và nước mưa

Cấu trúc bãi chôn lấp và sự sụt lún

Quan trắc chất lượng mơi trường.

Bố trí mặt bằng tổng thể và thiết kế sơ bộ bãi chôn lấp

Xây dựng quy trình vận hành bãi chơn lấp.

Đóng cửa hồn tồn bãi chơn lấp và những vấn đề cần quan tâm

Tính tốn và thiết kế chi tiết bãi chơn lấp.

2.2 Phân loại

2.2.1 Phân loại theo cấu trúc



























Bãi hở (Open dumps): là phương pháp cổ điển, đã được áp dụng từ rất lâu. Ngay cả

trong thời kỳ Hy Lạp và La Mã cổ đại cách đây khoảng 500 năm trước công nguyên, con

người đã biết đổ rác bên ngoài các thành lũy – lâu đài ở cuối hướng gió. Cho đến nay,

phương pháp này vẫn còn áp dụng ở nhiều nơi trên thế giới.

Nhược điểm của phương pháp này:

Làm mất vẻ thẩm mỹ của cảnh quan: những đóng rác thải là môi trường

thuận lợi cho các động vật gặm nhắm, các lồi cơn trùng, vector gây bệnh sinh sơi,

nảy nở gây nguy hiểm cho sức khỏe con người.

− Nước rỉ rác sinh ra từ các bãi rác hở sẽ làm bãi rác trở nên lầy lội, ẩm ướt.

Nước rỉ rác không có biện pháp kiểm sốt, khơng có hệ thống thu gom sẽ thấm

vào các tầng đất bên dưới gây ô nhiễm nguồn nước ngầm, hoặc tạo thành dòng

chảy tràn gây ô nhiễm nguồn nước mặt.

− Bãi rác hở sẽ gây ơ nhiễm khơng khí do q trình phân hủy rác tạo thành

các khí có mùi hơi thối. Mặt khác ở các bãi rác hở còn có hiện tượng “cháy ngầm”

hay có thể cháy thành ngọn lửa, và tất cả các q trình trên sẽ dẫn đến vấn đề ơ

nhiễm khơng khí.

− Đây là phương pháp xử lý CTR rẻ tiền nhất, chỉ tốn chi phí cho cơng việc

thu gom và vận chuyển rác từ nơi phát sinh đến bãi rác. Tuy nhiên phương pháp

này lại đòi hỏi một diện tích bãi rác lớn. Do vậy ở các thành phố đông dân cư và





14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

6 Phân loại theo quan điểm thông thường

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×