Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2: CÔNG NGHỆ CHÔN LẤP CTR SINH HOẠT VÀ LỰA CHỌN CÔNG NGHỆ CHÔN LẤP THÍCH HỢP

CHƯƠNG 2: CÔNG NGHỆ CHÔN LẤP CTR SINH HOẠT VÀ LỰA CHỌN CÔNG NGHỆ CHÔN LẤP THÍCH HỢP

Tải bản đầy đủ - 0trang

Việc quy hoạch, thiết kế và vận hành của một bãi chơn lấp CTR hiện đại đòi hỏi áp

dụng nhiều nguyên tắc cơ bản về khoa học, kỹ thuật và kinh tế. Các vấn đề chính liên

quan đến việc thiết kế BCL hợp vệ sinh bao gồm:

Vấn đề môi trường và các quy định ràng buộc

Các dạng và phương pháp chơn lấp

Vị trí bãi chơn lấp

Quản lý khí sinh ra trong q trình chơn lấp

Kiểm sốt nước rò rỉ

Kiểm sốt nước bề mặt và nước mưa

Cấu trúc bãi chôn lấp và sự sụt lún

Quan trắc chất lượng mơi trường.

Bố trí mặt bằng tổng thể và thiết kế sơ bộ bãi chơn lấp

Xây dựng quy trình vận hành bãi chơn lấp.

Đóng cửa hồn tồn bãi chơn lấp và những vấn đề cần quan tâm

Tính tốn và thiết kế chi tiết bãi chôn lấp.

2.2 Phân loại

2.2.1 Phân loại theo cấu trúc



























Bãi hở (Open dumps): là phương pháp cổ điển, đã được áp dụng từ rất lâu. Ngay cả

trong thời kỳ Hy Lạp và La Mã cổ đại cách đây khoảng 500 năm trước cơng ngun, con

người đã biết đổ rác bên ngồi các thành lũy – lâu đài ở cuối hướng gió. Cho đến nay,

phương pháp này vẫn còn áp dụng ở nhiều nơi trên thế giới.

Nhược điểm của phương pháp này:

Làm mất vẻ thẩm mỹ của cảnh quan: những đóng rác thải là môi trường

thuận lợi cho các động vật gặm nhắm, các lồi cơn trùng, vector gây bệnh sinh sơi,

nảy nở gây nguy hiểm cho sức khỏe con người.

− Nước rỉ rác sinh ra từ các bãi rác hở sẽ làm bãi rác trở nên lầy lội, ẩm ướt.

Nước rỉ rác khơng có biện pháp kiểm sốt, khơng có hệ thống thu gom sẽ thấm

vào các tầng đất bên dưới gây ơ nhiễm nguồn nước ngầm, hoặc tạo thành dòng

chảy tràn gây ô nhiễm nguồn nước mặt.

− Bãi rác hở sẽ gây ơ nhiễm khơng khí do q trình phân hủy rác tạo thành

các khí có mùi hơi thối. Mặt khác ở các bãi rác hở còn có hiện tượng “cháy ngầm”

hay có thể cháy thành ngọn lửa, và tất cả các quá trình trên sẽ dẫn đến vấn đề ô

nhiễm không khí.

− Đây là phương pháp xử lý CTR rẻ tiền nhất, chỉ tốn chi phí cho cơng việc

thu gom và vận chuyển rác từ nơi phát sinh đến bãi rác. Tuy nhiên phương pháp

này lại đòi hỏi một diện tích bãi rác lớn. Do vậy ở các thành phố đơng dân cư và





14



đất đai khan hiếm thì phương pháp này trở nên đắt tiền cùng với nhiều nhược

điểm.

Chôn dưới biển (Submarine Disposal): nhiều nghiên cứu cho thấy việc chơn rác dưới

biển có nhiều lợi ích.

Ví dụ: ở thành phố New York, trước đây CTR được chở đến bến cảng bằng những

đồn xe lửa riêng, sau đó chúng được các xà lan chở đem chôn dưới biển ở độ sâu tối

thiểu 100 feets, nhằm tránh tình trạng lưới cá bị vướng mắc. Ngoài ra, ở San Francisco,

New York và một số thành phố ven biển khác của Hoa Kỳ, người ta còn xây dựng những

bãi rác ngầm nhân tạo trên cơ sở sử dụng các khối gạch, bê tong phá vỡ từ các khu xây

dựng, hoặc thậm chí các ô tô thải bỏ. Điều này vừa giải quyết được vấn đề chất thải, đồng

thơi tạo nơi trú ẩn cho các lồi sinh vật biển,..

Bãi chơn lấp hợp vệ sinh (Sanitary Landfill): là phương pháp được nhiều đô thị trên

thế giới áp dụng cho q trình xử lý rác thải.

Ví dụ: ở Hoa Kỳ có trên 80% lượng rác thải đô thị được xử lý bằng phương pháp này,

các nước Anh, Nhật Bản,..

Bãi chôn lấp hợp vệ sinh được thiết kế để đổ bỏ CTR sao cho mức độ gây độc hại đến

môi trường là nhỏ nhất. Tại đây CTR được đổ bỏ vào các ô chôn lấp của bãi chơn lấp, sau

đó được nén và bao phủ một lớp đất dày khoảng 1,5m (hay vật liệu bao phủ) ở cuối mỗi

ngày. Khi bãi chôn lấp hợp vệ sinh đã sử dụng hết cơng suất thiết kế của nó, một lớp đất

(hay vật liệu bao phủ) sau cùng dày khoảng 60cm được phủ lên trên. Bãi chôn lấp hợp vệ

sinh có hệ thống thu và xử lý nước rò rỉ, khí thải từ bãi chơn lấp.

Ưu điểm của bãi chơn lấp hợp vệ sinh:

Ở những nơi có đất trống, bãi chôn lấp hợp vệ sinh thường là phương pháp

kinh tế nhất cho việc đổ bỏ chất thải rắn.

− Đầu tư ban đầu và chi phí hoạt động của bãi chơn lấp hợp vệ sinh thấp hơn

so với các phương pháp khác (đốt, ủ phân).

− Bãi chôn lấp hợp vệ sinh có thể nhận tất cả các loại CTR mà khơng cần

thiết phải thu gom riêng lẻ hay phân loại.

− Bãi chôn lấp hợp vệ sinh linh hoạt trong sử dụng. Ví dụ: khi khối lượng

CTR gia tăng có thể tăng cường thêm công nhân và thiết bị cơ giới, trong khi đó

các phương pháp khác phải mở rộng nhà máy để tăng công suất.

− Do bị nén chặt và phủ đất lên trên nên các côn trùng, chuột bọ, ruồi muỗi

không thể sinh sôi nảy nở được.





15



Các hiện tượng cháy ngầm hay cháy bùng khó có thể xảy ra, ngồi ra giảm

thiểu được các mùi hôi thối gây ô nhiễm khơng khí.

− Góp phần làm giảm nạn ơ nhiễm nước ngầm và nước mặt.





Nhược điểm của bãi chôn lấp hợp vệ sinh:

Các bãi chơn lấp hợp vệ sinh đòi hỏi diện tích đất lớn. Một thành phố đơng

dân cư, có số lượng rác thải càng nhiều thì diện tích bãi thải càng lớn. Người ta

ước tính một thành phố có quy mơ 10000 dân thì lượng rác thải mỗi năm có thể

lấp đầy diện tích 1 hecta với chiều sâu 3m.

− Các lớp đất phủ ở các bãi chôn lấp hợp vệ sinh thường hay bị gió thổi và

phát tán đi xa.

− Các bãi chôn lấp hợp vệ sinh thường sinh ra các khí CH 4 hoặc khí H2S độc

hại có khả năng gây cháy nổ hay gây ngạt.

− Nếu khơng xây dựng và quản lý tốt có thể gây ra ơ nhiễm nước ngầm và ơ

nhiễm khơng khí.

Theo chức năng





2.2.2



Thơng thường, bãi chơn lấp chất thải có thể phân ra các loại sau:

-



Bãi chôn lấp chất thải rắn nguy hại (Hazardous Watse Landfill)

Bãi chôn lấp chất thải rắn chỉ định (Designated Waste)

Bãi chôn lấp chất thải rắn đô thị (Municipal Solid Waste Landfill)

Bảng 4: Phân loại bãi rác vệ sinh



Loại bãi chất thải rắn

Loại chất thải

I

CTR độc hại

II

CTR chỉ định

III

CTR đơ thị

(Nguồn: Nguyễn Văn Phước, 2004, Giáo trình Xử lý chất thải rắn, Viện tài nguyên và

môi trường)

Chất thải theo quy định là chất thải khơng nguy hại, có thể giải phóng những thành

phần có nồng độ vượt quá tiêu chuẩn chất lượng nước hoặc là những chất thải đã được

DOHS (State Department of Health Service) cho phép. Lưu ý rằng hệ thống phân loại

này chú trọng đến bảo vệ nguồn nước mặt, nước ngầm hơn là phát tán khí bãi rác và chất

lượng mơi trường khơng khí.

2.2.2.1 Bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt hỗn hợp



16



Một lượng nhất định các chất thải rắn công nghiệp không nguy hại và bùn từ trạm xử

lý nước thải được phép đổ ở nhiều bãi chơn lấp thuộc nhóm III. Bùn từ trạm xử lý nước

thải chỉ được phép đổ ra các bãi chôn lấp nếu đã tách nước nếu đạt nồng độ chất rắn từ

51% trở lên. Ví dụ: ở California bùn đổ ở bãi chôn lấp CTRSH phải đạt tỷ lệ khối lượng

chất thải rắn : bùn là 5:1.

Vật liệu che phủ trung gian và che phủ cuối cùng của bãi chơn lấp có thể là đất hay

những vật liệu khác nhau như phân compost từ rác vườn và rác sinh hoạt, bùn cống rảnh,

xà bần,.. Để tăng thêm sức chứa của bãi chôn lấp, những bãi chôn lấp đã đóng của ở một

số nơi có thể tái sử dụng bằng cách đào phần chất thải đã phân hủy để thu hồi kim loại và

sử dụng phần còn lại làm vật liệu che phủ hàng ngày cho chất thải mới. Trong một số

trường hợp, chất thải đã phân hủy được đào lên, dự trữ và lắp đặt lớp lót đáy trước khi sử

dụng bãi chôn lấp.

2.2.2.2 Bãi chôn lấp chất thải đã nghiền



CTR được nghiền nhỏ trước khi đổ ra bãi chơn lấp. Chất thải đã nghiền có thể tăng

khối lượng lên 35% so với chất thải chưa nghiền và không cần che phủ hàng ngày. Các

vấn đề về mùi, ruồi nhặng, chuột, bọ và gió thổi bay rác khơng còn quan trọng nữa vì rác

nghiền có thể nén tốt hơn và có bề mặt đồng nhất hơn, lượng chất thải che phủ giảm và

một cố loại vật liệu che phủ khác có thể khống chế được nước ngấm vào bãi chơn lấp

trong q trình vận hành.

Những điểm bất lợi chính của phương pháp này là cần có thiết bị nén rác và cũng cần

phần bãi chôn thông thường để chôn lấp chất thải không nén được. Phương pháp này có

thể áp dụng được ở những nơi có chi phí chơn lấp cao, vật liệu che phủ khơng sẵn có và

lượng mưa thấp hoặc tập trung theo mùa. CTR đã ngiền cũng có thể sản xuất phân hữu cơ

dùng làm lớp che phủ trung gian.

2.2.2.3 Bãi chôn lấp những thành phần chất thải riêng biệt



Bãi chôn lấp những thành phần chất thải riêng biệt gọi là bãi chôn lấp đơn (Monofill).

Tro, xi măng và những chất thải tương tự, thường định nghĩa là chất thải theo quy định,

được chôn ở những bãi chôn lấp riêng để tách biệt chúng với các thành phần khác của

CTR sinh hoạt. Vì tro có chứa một phần nhỏ các chất hữu cơ khơng cháy nên mùi sinh ra

do quá trình khử sulfate trở thành vấn đề cần quan tâm đối với bãi chôn lấp tro. Để khác

phục mùi từ các bãi chôn lấp tro này cần lắp đặt hệ thống thu hồi khí.



2.2.2.4 Các loại bãi chôn lấp khác.

17



Bên cạnh những bãi chôn lấp cổ điển đã mô tả, một số phương pháp chôn lấp đặc biệt

đã được thiết kế tùy theo mục đích quản lý bãi chơn lấp như:

Bãi chơn lấp được thiết kế nhằm tăng tốc độ sinh khí: Nếu lượng khí thải phát sinh và

thu hồi từ q trình phân hủy kỵ khí CTR được khống chế đạt cực đại, khi đó cần thiết kế

bãi chơn lấp CTR đặc biệt. Chẳng hạn, để tận dụng độ sâu CTR được đổ ở những đơn

nguyên riêng biệt không cần lớp che phủ trung gian và nước rò rỉ được tuần hồn trở lại

để tăng hiệu quả của quá trình phân hủy sinh học. Điểm bất lợi của loại bãi chôn lấp này

là lượng nước rò rỉ dư phải được xử lý.

Bãi chơn lấp vận hành như những đơn vị xử lý CTR hợp nhất: Các thành phần hữu cơ

được tách riêng và đổ vào bãi chơn lấp riêng để có thể tăng tốc độ phân hủy sinh học

bằng cách tăng độ ẩm của rác như sử dụng nước rò rỉ tuần hồn, bổ sung bùn từ trạm xử

lý nước thải hoặc phân động vật. CTR đã bị phân hủy dùng làm vật liệu che phủ cho

những khu vực chôn lấp mới và đơn nguyên này lại được dùng cho loại rác mới.

2.3 Theo địa hình

2.3.1

Phương pháp hố đào, mương rãnh



Phương pháp đào rãnh chôn CTR là phương pháp lý tưởng cho những khu vực có độ

sâu thíc hợp, vật liệu che phủ sẵn có và mực nước ngầm khơng gần bề mặt, thích hợp sử

dụng cho những đất đai bằng phẳng hay nghiêng đều và đặc biệt là những nơi mà chiều

sâu lớp đất đào tại bãi đổ đủ để bao phủ lớp rác nén.

Trong phương pháp này, đầu tiên phải đào hố, rãnh, lắp đặt hệ thống lớp lót, hệ thống

thu nước rò rỉ và hệ thống thốt khí. Đất đào được dùng làm vật liệu che phủ hằng ngày

(ở cuối mỗi ngày hoạt động, phủ lên trên rác đã nén một lớp vật liệu che phủ (đất) dày từ

0,15 – 0,3m để tránh phát sinh và lan truyền mùi hôi, tránh ruồi muỗi sinh sống, tránh

nước mưa ngấm vào rác phát sinh nước rò rỉ, tránh rác bay,..) hoặc lớp che phủ cuối cùng.

Lớp kot1 có thể là lớp màng địa chất tổng hợp, lớp đất sét có độ thẩm thấu thấp hoặc kết

hợp cả hai loại này để hạn chế sự lan truyền của nước rò rỉ và khí thải phát sinh từ bãi

chôn lấp. Hố chôn lấp thường có dạng hình vng với kích thước mỗi cạnh có thể lên đến

305m và độ dốc mặt trên dao động trong khoảng 1,5:1 đến 2:1. Mương có chiều dài thay

đổi trong khoảng 61 – 305m, chiều sâu từ 0,9 – 3,0m và chiều rộng từ 4,6 – 15,2m. Sau

đó CTR được đổ vào hố, rãnh với chiều dày từ 0,45 – 0,6m. Xe ủi sẽ trải đều rác trên bề

mặt hố, rãnh đào và rác được nén bằng xe lu hay xe đầm chân cừu.

Hoạt động cứ tiếp tục diễn ra đến khi đạt chiều cao thiết kế lấp đầy mỗi ngày. Chiều

dài sử dụng mỗi ngày phụ thuộc vào chiều cao lấp đầy và khối lượng CTR. Chiều dài

cũng phải đủ để tránh gây sự chậm trễ cho các xe thu gom rác chờ đợi đổ rác. Chiều rộng

18



của rãnh ít nhất cũng bằng 2 lần chiều rộng của thiết bị nén ép để các lốp xe hay đế xe

nén tất cả các vật liệu trên diện tích làm việc. Đất bao phủ mỗi ngày được lấy bằng cách

đào các rãnh kế bên hay tiếp tục đào rãnh đang được lấp đầy.

Trong một số trường hợp, bãi chôn lấp được phép xây dựng dưới mực nước ngầm nếu

cấu trúc bãi chôn đảm bảo ngăn nước ngầm thấm từ bên ngồi vào cũng như nước rò rỉ

và nước thải phát tán ra môi trường xung quanh. Bãi chôn lấp dạng này thường được tháo

nước rò rỉ và nước thải phát tán ra môi trường xung quanh. Bãi chôn lấp dạng này thường

được tháo nước, đào, lót đáy theo quy định. Các thiết bị tháo nước phải hoạt động liên tục

cho đến khi đổ CTR vào bãi chôn để tránh hiện tượng tạo áp suất nâng có thể làm lớp đáy

bị nhấc lên và rách.

2.3.2



Phương pháp chôn lấp trên khu vực đất bằng phẳng

Phương pháp này được sử dụng khi địa hình khơng cho phép đào hố hoặc mương.

Khu vực bãi chơn lấp được lót đáy và lắp đặt hệ thống thu nước rò rỉ. Vật liệu che phủ

phải được chở đến bằng xe tải hoặc xe xúc đất từ những khu vực lân cận. Ở những khu

vực khơng có sẵn vật liệu che phủ, phân compost làm từ rác vườn và rác sinh hoạt được

dùng thay thế, cũng có thể dùng các loại vật liệu che phủ tạm thời di động được như đất

và màng địa chất. Đất và màng địa chất phủ trên bề mặt đơn nguyên đã đổ rác có thể tháo

ra khi cần đổ lớp tiếp theo.

Trong phương pháp này, đầu tiên phải xây dựng một con đê đất (để đỡ chất thải khi nó

được đổ và trải thành lớp mỏng), lắp đặt hệ thống lớp lót, hệ thống thu nước rò rỉ và hệ

thống thốt khí cho khu vực đổ rác. CTR được đổ trên mặt đất, sau đó sử dụng xe ủi trải

rác thành những dãy dài và hẹp, mỗi lớp có chiều sâu thay đổi từ 0,4 – 0,75m. Mỗi lớp

được nén bằng xe lu hay dầm chân cừu, sau khi lớp dưới được nén xong thì tiếp tục đổ,

trải đều và nén thêm một lớp mới ở trên. Hoạt động cứ tiếp diễn như thế trong suốt thời

gian làm việc của ngày, đến khi chiều dày của chất thải đạt đến độ cao từ 1,8 – 3m. Ở

cuối mỗi ngày hoạt động, một lớp đất (vật liệu bao phủ) dày từ 0,15 – 0,3m được phủ lên

trên rác đã nén.

Chiều rộng của khu vực đổ rác thường từ 2,5 – 6,0m, chiều dài bãi chôn lấp thay đổi

phụ thuộc vào khối lượng rác, điều kiện bãi đổ và trang thiết bị. Khi một tầng rác chơn,

nén và phủ đất được hồn thành thì tầng kế tiếp được đặt lên trên tầng bên dưới cho tới

khi đạt đến độ cao thiết kế.



2.3.3



Phương pháp lõm núi



19



Các hẻm núi, khe núi, hố đào, nơi khai thác mỏ,.. có thể được dử dụng làm bãi chơn

lấp. Kỹ thuật đỗ và nén chất thải trong các khe núi, mỏ dá phụ thuộc vào địa hình, địa

chất và thủy văn của bãi đổ, đặc điểm của vật liệu bao phủ, thiết bị kiểm sốt nước rò rỉ,

khí bãi rác và đường vào khu vực bãi chơn lấp.

Thốt nước bề mặt là một yếu tố quan trọng trong phương pháp lõm núi. Trong

phương pháp này ở mỗi tầng phải chôn lấp đoạn đầu và cuối trước để tránh việc ứ đọng

nước trong khu vực chôn lấp. Phương pháp chôn lấp nhiều lớp trong trường hợp này

tương tự như bãi chôn lấp dạng bằng phẳng. Nếu đáy tương đối bằng phẳng trước khi

chơn lấp, có thể áp dụng phương pháp đào hố, rãnh như trình bày ở trên để thu được đất

đào phủ.

Ưu điểm: vật liệu che phủ sẵn có cho từng lớp riêng biệt sau khi lấp đầy cũng như cho

tồn bộ bãi chơn lấp khi đã đạt độ cao thiết kế. Vật liệu che phủ lấp từ vách hoặc đáy núi

trước khi đặt lớp lót đáy. Đối với hố chôn và khu vực mỏ khai thác nếu không đủ vật liệu

che phủ trung gian có thể chở từ nơi khác đến hoặc dùng phân compost làm từ rác vườn

và rác sinh hoạt để che phủ.

2.4 Theo loại CTR tiếp nhận



Bãi chôn lấp CTR khô: là bãi chôn lấp các chất thải thông thường (rác sinh hoạt, rác

đường phố và rác công nghiệp).

Bãi chôn lấp CTR ướt: là bãi chôn lấp dùng để chôn lấp chất thải dưới dạng bùn nhão.

Bãi chôn lấp CTR hỗn hợp: là nơi dùng để lấp chất thải thông thường và cả bùn nhão.

Đối với các ô dành để chôn lấp ướt và hỗn hợp bắt buộc phải tăng khả năng hấp thụ nước

rác của hệ thống thu nước rác, không để cho rác thấm đến nước ngầm

2.5 Theo kết cấu



Bãi chôn lấp nổi: là bãi chôn lấp xây nổi trên mặt đất và những nơi có địa hình bằng

phẳng, hoặc khơng dốc lắm (vùng đồi gò). Chất thải được chất thành đống cao đến 15.

Trong trường hợp này xung quanh bãi chôn lấp phải có các đê khơng thấm để ngăn chặn

nước rác xâm nhập vào nước mặt xung quanh xâm nhập vào bãi chơn lấp.

Bãi chơn lấp chìm: là loại bãi chìm dưới mặt đất hoặc tận dụng các hồ tự nhiên, mỏ

khai thác cũ, hào, mương, rảnh.

Bãi chôn lấp kết hợp: là loại bãi xây dựng nửa chìm nửa nổi. Chất thải khơng chỉ

được chơn lấp đầy hố mà sau đó tiếp tục được chất đống lên trên.

20



Bãi chôn lấp ở khe núi: là loại bãi được hình thành bằng cách tận dụng khe núi ở các

vùng đồi cao.

2.6 Theo quy mô



Quy mô bãi chôn lấp CTR phụ thuộc vào quy mô của đô thị như dân số, lượng CTR

phát sinh, đặc điểm CTR… Theo thông tư liên tịch số 01/2012/TTLT-BKHCNMT-BXD:

Hướng dẫn cách quy định về bảo vệ môi trường đối với việc lựa chọn địa điểm, xây dựng

và vận hành bãi chơn lấp CTR. Quy mơ của bãi chơn lấp có thể được phân ra thành các

loại nhỏ, vừa, lớn và rất lớn theo bảng sau:

Bảng 5:

STT



Quy mô bãi



Dân số

Lượng rác

Thời gian sử

( nghìn người )

(nghìn tấn/năm)

dụng (năm)

1

Nhỏ

≤ 100

≤ 20

≤5

2

Vừa

100 – 500

20 - 65

5 - 10

3

Lớn

500 – 1.000

65 - 200

10 - 15

4

Rất lớn

≥ 1.000

>200

15 - 30

(Nguồn: Nguyễn Văn Phước, 2004, giáo trình Xử lý chất thải rắn, Viện Tài ngun và

Mơi trường)

Thời gian hoạt động đối với bãi chôn lấp chất thải rắn ít nhất 5 năm. Hiệu quả nhất từ

25 năm trở lên.

2.7 Các cơng trình chủ yếu trong thiết kế bãi chơn lấp.



Khi bố trí và chuẩn bị mặt bằng bãi chôn lấp cần phải lưu ý đến các yếu tố sau:

Đường ra vào bãi rác, rào chắn.

Các khu vực chơn lấp

Nơi thu hồi phế liệu

Vị trí nhà cửa gồm cầu cân, lán che thiết bị, nhà điều hành và nhà nghỉ của

nhân viên.

• Kho chứa vật liệu.

• Hệ thống thốt nước

• Nơi xử lý nước rác rò rỉ hoặc trạm bơm

• Các giếng khoan kiểm tra nước rác.

2.8 Nguyên tắc vận hành











Việc vận hành bãi được tuân thủ theo các ngun tắc sau:



21



Tồn bộ rác chơn lấp được đổ thành từng lớp riêng rẽ. Độ dày của mỗi lớp

khơng q 1m.

• Khi các lớp rác đã đầm nén xong và gò rác đạt được độ cao thích hợp thì phủ

một lớp đất hoặc vật liệu tương tự khác dày khoảng 10 – 15cm.

• Rác cần được phủ đất hoặc sau 24 tiếng vận hành, không được để quá thời gian

qui định.

• Tiến hành những biện pháp phòng ngừa thích đáng để tránh hỏa hoạn.

• Tiến hành những biện pháp phòng ngừa để đảm bảo sâu bọ khơng thể sống

trong bãi được.

• Cần đào tạo và trang bị đầy đủ các nhân viên làm việc tại bãi như nhân viên

cân rác, nhân viên lái xe.

2.9 Phương pháp vận hành bãi chơn lấp





Thực tế việc đổ rác, đầm nén, phủ bãi có thể được tiến hành theo một vài cách. Sự

quyết định áp dụng phương pháp vận hành bãi phụ thuộc vào phương pháp chôn lấp, phụ

thuộc vào khả năng tiếp cận vùng đổ của phương tiện đổ rác và thiết bị đang được sử

dụng tại bãi.

Ở những bãi áp dụng phương pháp mương rãnh, xe ơ tơ có thể đi trên những ô rác đã

được đầm nén và đổ rác xuống bề mặt làm việc mới.

Việc phát triển hệ thống ô rác phải theo ý đồ thiết kế ban đầu và sau đó thực hiện từng

bước sao cho tồn bộ kế hoạch được thực hiện đầy đủ. Khi công việc trong ngày kết thúc

bề mặt đổ rác sẽ được đầm nén và phủ một lớp đất và sau đó đầm nén lần nữa. Ngày hôm

sau, ô rác tạo thành từ ngày hơm trước có thể đóng vai trò như một bức tường riêng rẽ

cho bề mặt làm việc mới.



22



CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN VỀ HUYỆN CẦN GIỜ

3.1 Đặc điểm tự nhiên

3.1.1

Vị trí địa lý



Cần Giờ là một trong 5 huyện ngoại thành của thành phố Hồ Chí Minh, nằm về

hướng Đông Nam, cách trung tâm thành phố khoảng 50 Km theo đường chim bay, có hơn

20 km bờ biển chạy dài theo hướng Tây Nam – Đơng Bắc, có các cửa sơng lớn của các

con sơng Lòng Tàu, Cái Mép, Gò Gia, Thị Vải, Sồi Rạp, Đồng Tranh.

Vị trí của huyện Cần Giờ ở từ 106 độ 46’12” đến 107 độ 00’50” Kinh độ Đông và từ

10 độ 22’14” đến 10 độ 40’00” vĩ độ Bắc.

Về hành chính, Cần Giờ có 7 xã và thị trấn: Cần Thạnh, Long Hòa, Thạnh An, Lý

Nhơn, Tam Thơn Hiệp, An Thới Đơng, Bình Khánh. Trung tâm của huyện đặt tại thị trấn

Cần Thạnh.

3.1.2



Địa hình

Cần Giờ có tổng diện tích tự nhiên 70.421 hécta, chiếm khoảng 1/3 diện tích tồn

thành phố, trong đó đất lâm nghiệp là 32.109 hécta, bằng 46,45% diện tích tồn huyện,

đất sông rạch là 22.850 hécta, bằng 32% diện đất tồn huyện. Ngồi ra còn có trên 5.000

hécta diện tích trồng lúa, cây ăn trái, cây cói và làm muối. Đặc điểm nổi bậc về thổ

nhưỡng của Cần Giờ là phèn và mặn. Vùng ngập mặn chiếm tới 56,7% diện tích tồn

huyện, tạo nên hệ sinh thái rừng ngập mặn độc đáo, trong đó chủ yếu là cây đước, cây

bần, mắm …

Địa hình bị phân cắt mạnh bởi mạng lưới sơng rạch chằng chịt (mật độ dòng chảy 7,0

đến 11km/km2), cao độ dao động trong khoảng từ 0,0 đến 2,5m. Nhìn chung địa hình

tương đối thấp và bằng phẳng, có dạng long chảo, trũng thấp ở phần trung tâm (bao gồm

các xã Tam Thôn Hiệp, An Thới Đông, Lý Nhơn, Long Hòa. Thạnh An) do được hình

thành từ đầm ngập cổ. Vùng ven biển (từ Cần Thạnh đến Long Hòa) địa hình đồi cao do

được cấu tạo bằng các giồng cát biển cổ, vùng ven sơng địa hình được nâng cao do được

hình thành từ các đê sơng. Theo mức độ ngập triều, phân chia địa hình thành 5 mức độ

cao như sau:













Ngập hai lần trong ngày: ở độ cao từ 0,0m đến 0,5m

Ngập một lần trong ngày: ở độ cao từ 0,5m đến 1,0m

Ngập theo chu kỳ tháng: ở độ cao từ 1,0m đến 1,5m

Ngập theo chu kỳ năm: ở độ cao từ 1,5m đến 2,0m

Ngập theo chu kỳ nhiều năm: ở độ cao hơn 2,0m

23



(“Nghiên cứu tổng hợp Vùng cửa sông hệ thống sông Đồng Nai phục vụ công tác quy

hoạch khai thác vùng theo mục tiêu phát triển bền vững” PGS.TS Huỳnh Thị Minh Hằng

– 2004)

Địa hình tự nhiên bị biến động mạnh chủ yếu là do các hoạt động của con người, đặc

biệt trong quá trình phát triển cơ sở hạ tầng và vùng dân cư.

3.1.3



Khí hậu

Khí hậu Cần Giờ mang đặc tính nóng ẩm và chịu chi phối của qui luật gió mùa cận

xích đạo, có hai mùa rõ rệt







Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10

Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.



Nhiệt độ tương đối cao và ổn định









Trung bình khoảng 250C đến 290C

Cao tuyệt đối là 38,20C

Thấp tuyệt đối là14,40C



Số giờ nắng đạt trung bình trong ngày từ 5 – 9 giờ/ngày, các tháng mùa nắng đều đạt

trên 240 giờ nắng, cao nhất là tháng 3 với 276 giờ, thấp nhất là tháng 9 với 169 giờ.

3.1.4



Độ ẩm

Cao hơn các quận huyện khác trong thành phố từ 4 – 8%









Trung bình từ 73% đến 85%

Ẩm nhất là tháng 9: 83%

Khơ nhất là tháng 4: 74%



Độ bốc hơi từ 3,5 đến 6 mm/ngày, trung bình 5 mm/ngày, cao nhất 8 mm/ngày.

3.1.5



Chế độ mưa:

So với các khu vực khác trong TPHCM, Cần Giờ là huyện có lượng mưa thấp nhất.

Mùa mưa ở đây thường bắt đầu muộn và kết thúc sớm hơn các nơi khác trong thành

phố.

Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.000 – 1.402 mm, giảm dần từ Bắc xuống Nam.



24



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2: CÔNG NGHỆ CHÔN LẤP CTR SINH HOẠT VÀ LỰA CHỌN CÔNG NGHỆ CHÔN LẤP THÍCH HỢP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×