Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG PHÁP LUẬT CHỐNG HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG

CHƯƠNG III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG PHÁP LUẬT CHỐNG HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

đầu tư xây dựng như: World Bank, Asian Development Bank, Japan Bank for

International Cooperation,…

- Năng lực của cán bộ, nhà thầu được nâng cao. Đội ngũ cán bộ của Việt

Nam đã có những kinh nghiệm đáng kể, năng lực nâng cao sau một thời gian thực

hiện các quy định về đấu thầu. Các cán bộ được đào tạo để có khả năng nghiên

cứu kinh nghiệm của các nước trên thế giới để xây dựng hồn thiện bộ máy pháp

luật nói chung, và pháp luật về đấu thầu xây dựng nói riêng.

Công tác quản lý đấu thầu ngày một đi vào nề nếp và không ngừng được

nâng cao ở tất cả các Bộ, ngành có liên quan. Cơ quan quản lý Nhà Nước về đấu

thầu thuộc ngành Kế hoach và đầu tư đã tham gia vào việc thẩm định kế hoạch và

kết quả lựa chọn nhà thầu, xử lý các tình huống phát sinh trong q trình đấu thầu.

Ngồi ra cơ quan này còn ban hành các văn bản pháp quy về đấu thầu, hướng dẫn

và đào tạo cán bộ làm công tác đấu thầu, kiểm tra thực hiện đấu thầu trong phạm

vi cả nước.

Các chủ đầu tư, ban quản lý dự án cũng đang từng bước trưởng thành và tích

lũy kinh nghiệm trong việc tổ chức các cuộc đấu thầu, đánh giá lựa chọn nhà thầu,

ký kết hợp đồng.

Về phía các nhà thầu, họ đúc rút được rất nhiều kinh nghiệm thực hiện các dự

án xây dựng, nâng cao năng lực cạnh tranh. Đến năm 2000, nghành xây dựng

nước ta có khoảng gần 5000 nhà thầu xây lắp thuộc các thành phần kinh tế khác

nhau với gần 1500 nhà thầu xây lắp là doanh nghiệp Nhà Nước, 30 nhà thầu xây

lắp là doanh nghiệp liên doanh, gần 100 nhà thầu xây lắp thành lập theo hình thức

100% vốn nước ngồi[16] . Từ việc chỉ làm thầu phụ cho nhà thầu nước ngồi, thì

giờ đây, các nhà thầu Việt Nam tự tin cạnh tranh với các nhà thầu nước ngoài để

giành được những gói thầu có giá trị.

- Đấu thầu xây dựng còn nhận được sự ủng hộ quan tâm của cơng luận tồn

xã hội. Các quy định về đâú thầu chủ yếu được áp dụng đối với các cơng trình sử

dụng vốn ngân sách Nhà Nước. Do đó cơng tác đấu thầu không chỉ là việc của chủ

đầu tư, các cơ quan quản lý và các nhà thầu, mà nó còn được đặt trong mối quan

tâm, giám sát của tồn xã hội. Nếu khơng có sự giám sát chặt chẽ các nguồn vốn

45



đầu tư từ ngân sách mà bản chất do tiền thân của nhân dân đóng góp sẽ bị sử dụng

khơng hiệu quả hoặc thất thốt. Nhờ sự phát triển khơng ngừng của xã hội, trình

độ dân trí cao cũng tạo điều kiện để công luận xã hội quan tâm nhiều hơn đến

cơng tác đấu thầu, từ đó phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời các sai phạm.



III.2. Hạn chế bất cập

Ngoài những ưu điểm kể trên, hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề bấp cập tồn tại.

Chúng ta cần phải nhìn thẳng vào những vấn đề hạn chế đề từ đó đúc rút thêm

những kinh nghiệm quản lý, hạn chế tối đa hậu quả, tránh lặp lại lần sau.

- Hiện tượng áp dụng chỉ định thầu hay đấu thầu hạn chế một cách tùy tiện:

Các gói thầu thơng qua hình thức chỉ định thầu hoặc đấu thầu hạn chế có tỷ lệ tiết

kiệm vốn đầu tư là rất ít, chủ đầu tư có thể chọn “gà nhà” tham dự và có thể ngắm

trước nhà thầu sẽ trúng thầu. Do vậy, cách đấu thầu này không phát huy được tính

cạnh tranh và làm giảm hiệu quả sử dụng vốn. Việc áp dụng đấu thầu hạn chế hoặc

chỉ định thầu rất dễ chọn phải nhà thầu không đủ năng lực xây dựng và dẫn đến

các cơng trình được xây dựng chất lượng kém, kéo dài thời gian thi công. Thêm

vào đó, đấu thầu theo hình thức chỉ định thầu hoặc đấu thầu hạn chế còn là cơ sở,

mầm mống tạo nên các hiện tượng móc ngoặc giữa nhà thầu và chủ đầu tư để khai

khống các khoản chi phí phát sinh ngoài thiết kế ban đầu để rút tiền của Nhà

Nước.

- Hiện tượng phê duyệt trong đấu thầu chỉ mang tình hình thức: hiện nay thủ

tục hành chính trong lĩnh vực đấu thầu xây lắp còn tương đối rườm rà, việc phê

duyệt còn mang tính hình thức và trùng lặp nhiều. Quy định về phê duyệt này có

ưu điểm là thực hiện việc quản lý Nhà Nước đối với công tác đấu thầu, tránh được

những nhầm lẫn trong các khâu của quá trình đấu thầu, cuối cùng sẽ cho ra sản

phẩm là lựa chọn nhà thầu tốt để thực hiện cơng trình. Tuy nhiên, điều này chỉ đạt

được hiệu quả thực sự khi các cơ quan quản lý Nhà Nước về đấu thầu thực sự có

năng lực chun mơn, làm việc nghiêm túc thể hiện tính minh bạch trong q

trình xem xét thẩm định và phê duyệt. Thơng thường hiện nay, các đề nghị đưa lên

để thẩm định và phê duyệt đều được giữ nguyên nội dung [14] . Hiện tượng phê

46



duyệt trong đấu thầu mang tính hình thức có thể tạo ra hậu quả tiêu cực. Thứ nhất,

việc phê duyệt trong đấu thầu mang tính hình thức đã làm cho khơng kiểm sốt

được về chất lượng việc đấu thầu. Do phê duyệt hình thức nên đơi khi khơng thể

phát hiện được ra các sai phạm trong đấu thầu do chủ đầu tư trình duyệt. Các tiêu

chí được đánh giá thật sự gặp rất nhiều khó khăn do chỉ tiêu đánh giá khơng tốt,

hoặc có khi lệch cơ cấu về hệ thống điểm cho các chỉ tiêu đánh giá gây giảm hiệu

quả cho cả cuộc đấu thầu., kế hoạch không tốt sẽ dẫn đến các phát sinh trong thực

hiện làm chủ đầu tư phải bỏ ra kinh phí để bổ sung, đặc biệt đối với các dự án sử

dụng nguồn vốn ngân sách thì đây là nguyên nhân gây thất thoát rất lớn nguồn

ngân sách Nhà Nước.Thứ hai, việc phê duyệt chỉ mang tính hình thức làm giảm

hiệu quả của công tác quản lý Nhà Nước về đấu thầu và tạo nên quyền lực to lớn

cho các chủ đầu tư đối với dự án. Chính vì vậy, nếu có sự bắt tay giữa chủ đầu tư

và các nhà thầu thì sự quản lý của Nhà Nước là khơng có ý nghĩa gì. Đây cũng là

cơ sở để chủ đầu tư chạy quyết định cho mình nhận cơng trình. Cuối cùng, việc

phê duyệt chỉ mang tính hình thưc như vậy làm kéo dài thời gian của cuộc đấu

thầu. Đối với những vấn đề phê duyệt không cần thiệt hiện nay, thì chủ đầu tư có

quyền quyết định và khơng cần phê duyệt đẩy nhanh tiến độ đấu thầu, tránh lãng

phí tiền bạc và thời gian do phải trình duyệt, thẩm định.

- Hiện tượng thông đồng diễn ra rất phổ biến hiện nay: Hiện tượng này có thế

phát sinh giữa nhà thầu với bên mời thầu, chủ đầu tư, nhà tư vấn, tổ chuyên gia, tư

vấn giám sát, giữa chủ đầu tư với người có quyền, hoặc là sự thơng đồng giữa các

nhà thầu với nhau. Hiện tượng thông đồng sẽ gây thiệt hại cho các nhà thầu chân

chính. Bởi sự đánh giá thiếu trung thực, không khách quan nên mọi kết quả đã

được đánh giá từ trước, các nhà thầu khác dù đặt bất cứ điều gì cũng bị tìm cách

đánh trượt. Thêm vào đó, ngân sách Nhà Nước có thể thất thốt do sự thơng đồng

của các chủ thể tham gia đấu thầu. Ngân sách Nhà Nước là thứ tiền chung, không

thuộc về ai trong các chủ thể tham gia đấu thầu, nên các chủ thể có thể mặc nhiên

hỗ trợ nhau trong việc rút tiền chung của dự án để chia nhau, dẫn tới các chi phí

cho việc thực hiện cơng trình giam sút, buộc phải rút ngun vật liệu khi thi cơng,

làm chất lượng cơng trình kém.

47



- Hiện tượng bỏ giá thầu thấp: Trong một số năm gần đây, hiện tượng bỏ giá

thầu thấp trong đấu thầu xây dựng rất phổ biến, gây nên những tiêu cực xã hội

trong đấu thầu. Hiện tượng bỏ giá thầu thấp tạo nên môi trường cạnh tranh không

lành mạnh trong đấu thầu xây dựng. Nước ta đang trong quá trình phát triển nên

lĩnh vực đấu thầu xây dựng có cơ hội phát triển mạnh. Sự phát triển ngày càng cao

tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ, quyết liệt giữa các nhà thầu. Tuy nhiên, nếu các nhà

thầu có cùng trình độ, cùng năng lực mà nhà thầu nghiêm chỉnh bị thua thiệt với

các nhà thầu cố tình bỏ giá thầu thật thấp. Đó chính là cạnh tranh khơng lành

mạnh, cần phải nghiêm túc loại bỏ. Hiện tượng bỏ giá thầu thấp cũng là nguyên

nhân gây nên các tệ nạn hối lộ, móc ngoặc giữa các nhà thầu với đơn vị giám sát,

chủ đầu tư trong việc thực hiện dự án. Để có lãi, nhà thầu phải thay đổi vật liệu

thiết kế làm cho các cơng trình được thực hiện với chất lượng kém và nhiều cơng

trình còn dở dang.

Thơng qua việc nhìn nhận những hiện tượng bất cập trong thực tiễn áp dụng

các quy định về đấu thầu xây dựng hiện nay, ta có thể đúc rút được các nguyên

nhân cơ bản của việc phát sinh các hiện tượng tiêu cực trong đấu thầu, từ đó tìm

cách khắc phục, hạn chế tiêu cực.



III.3. Nguyên nhân những hạn chế của quy định pháp luật

 Hiệu lực thấp của văn bản pháp luật về đấu thầu

Các quy chế về đầu thầu ngày càng được Chính Phủ quan tâm ban hành và

sửa đổi, bổ sung như:

- Nghị định 66/2003/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2003 của Chính Phủ về

sửa đổi bổ sung một số điều của Quy chế đấu thầu

- Thông tư sô 01/2004 hướng dẫn thi hành Nghị định 66/2003/NĐ-CP của

Bộ kế hoạch đầu tư.

- Nghị định 111/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 9 năm 2006 hướng dẫn thi hành

Luật Đấu Thầu

Trong các văn bản pháp luật quy định về các quy chế đấu thầu, các vấn đề đã

hồn chỉnh hơn, tăng tính minh bạch, công khai trong đấu thầu, công tác quản lý,

48



thanh tra trong đấu thầu được đề cao. Tuy nhiên, các quy định vẫn chưa thực sự

rành mạch về quyền hạn và trách nhiệm của các Bộ, nghành, địa phương, dẫn đến

việc khó khăn trong q trình giải quyết các vấn đề nảy sinh khi thực hiện quản lý

đầu tư xây dựng.

 Hạn chế của việc triển khai thực thi Luật đấu thầu:

Luật đấu thầu[3] gồm 6 chương và 77 điều được quốc hội Việt Nam thơng qua

ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/4/2006. Tuy nhiên để luật này

đi vào thực tế đời sống xã hội Việt Nam thì vẫn còn cần các văn bản dưới luật để

hướng dẫn thi hành. Ở nước ta, đấu thầu xây dựng vẫn là một khái niệm mới, nên

việc thực thi công tác đấu thầu vẫn còn non trẻ, chưa đủ kinh nghiệm để xây dựng

và ban hành các quy định chuẩn mực mang tính quốc tế. Báo cáo của Bộ Xây

dựng do Thứ trưởng Nguyễn Văn Liên trình bày nhận định: “Luật Đấu thầu hiện

hành quá rườm rà, chi tiết về trình tự, thủ tục dẫn đến thời gian đấu thầu kéo dài,

ảnh hưởng đến tiến độ dự án. Một số văn bản hướng dẫn công tác đầu tư xây

dựng cơ bản chậm được ban hành, trong đó có cả trách nhiệm của Bộ Xây dựng”

[26]



Thêm vào đó, Luật Xây Dựng[4] và Luật Đấu Thầu[3] vẫn có những vướng

mắc nhất định. Hiện tượng áp dụng chỉ định thầu hay đấu thầu hạn chế một cách

tùy tiện. Điều này làm giảm tính cạnh tranh giữa các nhà thầu, tạo ra các tiêu cực

như: tỉ lệ tiết kiệm vốn đầu tư ít; chủ đầu tư có thể chọn phải nhà thầu khơng có đủ

năng lực xây dựng và dẫn dến các cơng trình được xây dựng với chât lượng kém,

kéo dài thời gian thi cơng; ngồi ra việc chỉ định thầu hoặc đấu thầu hạn chế còn

được coi là cơ sở, mầm mống để tạo ra các hiện tượng kết cấu giữa chủ đầu tư và

nhà thầu để rút ngân sách nhà nước.

 Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa thực sự tốt: Xã hội rất đa dạng,

vì vậy những quy định pháp luật nói chung và về đấu thầu nói riêng không phải

lúc nào cũng được chấp hành nghiêm chỉnh tuyệt đối. Thường có các đối tượng

chống đối, tìm cách luồn lách, vì vậy cơng tác thanh tra, kiểm tra, giám sát thực

hiện là rất cần thiết. Bên cạnh đó trên thực tế, công tác thanh tra, kiểm tra, giám

sát, vẫn chưa được quan tâm, và thực hiện đúng mức dẫn đến việc xảy ra nhiều

49



vấn đề, tiêu cực trong đấu thầu. Cụ thể là hiện tượng “quân xanh, quân đỏ” vẫn

còn tồn tại trong đấu thầu hiện nay, do hồ sơ mời thầu, hồ sơ dự thầu chưa được

thanh tra, kiểm tra nghiêm túc, trung thực.

 Phá giá trong đấu thầu: Ở các nước phát triển, dự toán xây dựng cơ bản giống

nhau về phương pháp luận và chỉ dựa trên hai yếu tố chính: chi phí vật liệu và chi

phí lao động. Cơ sở để tính tổng số chi phí lao động là giờ cơng lao động trực tiếp

dự kiến mà khơng tính theo khối lượng sản phẩm. Như vậy mỗi nhà thầu đều có

một định mức riêng về chi phi phí lao động cho một giờ tùy theo mức độ cơ giới

hóa và mơ hình tổ chức quản lý sản xuất.

Ở Việt Nam, do trình độ của tư vấn còn thấp nên việc tính tốn giá của gói thầu

cao hoặc khí tính tốn giá dự thầu khơng sát với giá trị thực tế của cơng trình.

Thêm vào đó là sự lỗi thời trong việc lập dự tốn cơng trình, ở Việt Nam việc lập

dự tốn, chi phí trực tiếp được dựa trên ba yếu tố: vật liệu, nhân cơng, máy thi

cơng tính trên một đơn vị khối lượng căn cứ vào định mức dự toán. Trong khi đó

định mức được lập từ q lâu, khi cơng nghệ thi công hiện đại đã được áp dụng

nhân cao năng suất, tiết kiệm nguyên vật liệu,… dẫn đến việc định mức cũng lạc

hậu và nhiều công tác làm mới buộc nhà thầu và chủ đầu tư phải ngồi đàm phán

với nhau. Cách làm này khơng còn phù hợp với thực tế hoạt động của nhà thầu

trong thị trường, làm tăng sai lệnh giá trị của cơng trình. Việc lập dự tốn theo một

hệ thống định mức khơng thực tế đã lỗi thời, nhà thầu khi tham gia đấu thầu cần

phải “cảnh giác” khi dự toán và thực hiện.



III.4. Một số giải pháp chủ yếu





Hoàn thiện văn bản pháp lý: Hệ thống văn bản pháp luật hiện hành về đấu



thầu vẫn chưa thỏa mãn yêu cầu là hành lang pháp lý đảm bảo cho hoạt động

đầu tư hiệu quả trong nền kinh tế thị trường. Pháp luật hiện hành chỉ mới quy

định một quy trình tiến hành đấu thầu xây dựng. Tuy khơng nói rõ nhưng có thể

vận dụng quy trình này đối với các hình thức đấu thầu rộng rãi và đấu thầu hạn

chế. Như vậy, các hình thức khác đều khơng có quy trình tiến hành cụ thể. Một

khi khơng xác định rõ được quy trình thì cũng khơng thể xác định rõ được trách

50



nhiệm của những người liên quan đối với từng cơng đoạn đấu thầu. Vì vậy cần

phải quy định rõ quy trình đối với từng hình thức đấu thầu một cách cụ thể, rõ

ràng. Các hình thức đấu thầu hạn chế, chỉ định thầu, mua sắm trực tiếp, tự thực

hiện, mua sắm đặc biệt đều nhất thiết phải có quy trình thực hiện riêng do tính

chất đặc trưng của mỗi hình thức là khác nhau. Trong luật mẫu của UNCITRAL

cũng có đề cập đến việc thiết lập các quy trình đấu thầu khác ngồi quy trình của

đấu thầu rộng rãi. Do vậy cần nghiên cứu để áp dụng hiệu quả[1]





Xây dựng chế tài, ngăn chặn hành vi tham nhũng:

- Đối với vấn đề chế tài trong hoạt động đấu thầu, mức chế tài được đề cập



đến bao gồm có cả bốn loại: Chế tài hình sự, chế tài hành chính, chế tài kỷ luật

và chế tài dân sự. Mỗi một loại chế tài cần quy định cụ thể khung hình phạt áp

dụng, hành vi và các dấu hiệu xác định vi phạm, đồng thời đặt ra các mức chế tài

kèm theo. Cần phải tham khảo thêm về cách quy định chế tài của các nước khác

để học tập cách xây dựng chế tài khoa học, hiệu quả.

- Ngăn chặn hành vi tham nhũng: hiện tượng thông đồng, móc ngoặc giữa các

khâu của q trình triển khai dự án, rút ruột cơng trình, ngun do là nhà tư vấn

thiết kế chưa có đủ năng lực trình độ; nhà thầu chưa đảm bảo năng lực tài chính

và năng lực chuyên môn. Muốn khắc phục được những điểm yếu trên, thì mọi

hoạt động trong quá trình diễn ra trước, trong và sau q trình đấu thầu phải

cơng khai, minh bạch và chặt chẽ: Công khai thông tin mời thầu, công khai

thông tin người trúng thầu, tư vấn thiết kế, giám sát thi công và công khai kết

quả nghiệm thu dự án, cơng trình…. Ngồi ra, luật phải quy định rõ hơn nữa

trách nhiệm pháp lý của từng cá nhân, tổ chức và xử lý nghiêm hơn nữa các vi

phạm. Theo đó, phải tăng cường giám sát các khâu hồ sơ mời thầu, chủ đầu tư và

cơ quan quản lý nhà thầu; tăng cường kiểm tra, thanh tra, của các cơ quan chức

năng và phát huy vai trò của các tổ chức, cá nhân, các đồn thể chính trị - xã hội,

đặc biệt là giám sát, phát hiện của các tầng lớp nhân dân.

 Xây dựng đội ngũ cán bộ trực tiếp điều hành đấu thầu: Những cán bộ điều

hành cơng tác đấu thầu đóng vai trò chỉ đạo thực hiện, tham gia hoạt động trong

từng công việc cụ thể. Vì vậy, cần thường xuyên đào tạo lại và đào tạo mới cán

51



bộ làm việc trong lĩnh vực đấu thầu. Nâng cao mức sống cho đội ngũ cán bộ này,

đồng thời kết hợp với biện pháp xử phạt nghiêm minh nhằm giảm bớt tình trạng

thơng đồng, móc ngoặc bòn rút tiền của Nhà Nước để thỏa mãn nhu cầu cá nhân.

Mức chi phí này sẽ nhỏ hơn rất nhiều so với những thất thốt mà nếu khơng

quản lý được mang lại. Từ những điều trên, có thể thấy rằng, yếu tố con người là

yếu tố quan trọng nhất, cần phải giáo dục, đào tạo, quản lý, giám sát, xử lý

nghiêm ngặt các vụ vi phạm trong quản lý đầu tư xây dựng cơ bản.



52



KẾT LUẬN

Đấu thầu xây dựng là hình thức đấu thầu với mục đích lựa chọn nhà thầu

thực hiện công việc xây dựng theo yêu cầu của bên mời thầu. Pháp luật về đấu

thầu xây dựng tại Việt Nam đã góp phần tạo ra mơi trường cạnh tranh bình đẳng,

cơng khai, minh bạch giữa các nhà thầu, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

đầu tư xây dựng, tạo ra trật tự trong việc lựa chọn nhà thầu để thực hiện các cơng

trình, góp phần hướng dẫn các cơ quan, tổ chức cách thức lựa chọn nhà thầu xây

dựng.

Cạnh tranh là động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, thúc đẩy các

hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển, mang lại lợi ích cho người tiêu dùng. Ở

các nước đang phát triển, cạnh tranh ln được khuyến khích với mong muốn

cạnh tranh có thể đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng, thúc đẩy việc nghiên

cứu và áp dụng công nghệ mới nhờ đó mà khoa học phát triển khơng ngừng, mang

lại một nền kinh tế năng động và sáng tạo. Tuy nhiên, nhiều khi vì lợi nhuận lớn

trong kinh doanh, muốn loại bỏ đối thủ, các chủ thể đã có những hành vi làm hạn

chế sự cạnh tranh đó. Điều này có thể thấy trong một số hoạt động đấu thầu xây

dựng. Hiện tượng phổ biến nhất làm hạn chế cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng

đó là hiện tượng thơng đồng trong đấu thầu, và phá giá trong đấu thầu. Biểu hiện

cụ thể đó là hành vi thơng đồng giữa chủ đầu tư, nhà thầu, và tư vấn; hành vi

thông đồng giữa các nhà thầu; hành vi của các nhà thầu bỏ giá đấu thầu dưới giá

thành xây dựng cơng trình. Nói chung để có được cơng trình, các nhà thầu bất

chấp mọi thủ đoạn để giành được lợi nhuận. Cạnh tranh trong hoạt động đấu thầu

được bảo đảm thì đó sẽ là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của hoạt động xây dựng,

đem lại lợi ích cho người tiêu dùng.

Trong những năm qua, mặc dù có một hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh

các hoạt động trong lĩnh vực đấu thầu, nhưng vẫn xảy ra hiện tượng vi phạm,

những hiện tượng này đã làm giảm đi tính cạnh tranh trong đấu thầu, gây thất

thoát lớn về Ngân sách cho Nhà Nước. Qua việc phân tích những ưu điểm của

53



hoạt động đấu thầu xây dựng có thể nhận thấy hoạt động đấu thầu đã phát huy

được vai trò của nó giúp nền kinh tế đang phát triển khơng ngừng tăng trưởng. Hệ

thống pháp luật về đấu thầu nói chung và đấu thầu xây dựng nói riêng đã định

hình về cơ bản, hiệu quả của việc áp dụng phương thức đấu thầu thể hiện rõ rệt,

năng lực cán bộ tham gia đấu thầu được nâng cao, phương thức đấu thầu cũng đã

nhận được ủng hộ, quan tâm của toàn xã hội. Bên cạnh đó, thực tiễn áp dụng quy

định về đấu thầu xây dựng cũng bộc lộ nhiều hiện tượng tiêu cực: hiện tượng phê

duyệt trong đấu thầu còn hình thức, hiện tượng bưng bít thơng tin đấu thầu, đưa ra

các ý chí chủ quan vào trong hồ sơ mời thầu với ý đồ tiêu cực; hiện tượng đánh

giá, xếp hạng nhà thầu một cách tùy tiện, hiện tượng thông đồng còn diễn ra phổ

biến, hiện tượng bỏ giá dự thầu thấp còn tồn tại…Nguyên nhân làm phát sinh các

hiện tượng trên chủ yếu là những nguyên nhân sau: Quy định pháp luật chưa chặt

chẽ, lợi ích các nhân của các chủ thể tham gia vào đấu thầu chi phối đến hiệu quả

của tồn bộ q trình đấu thầu, tính minh bạch thơng tin còn kém, các mức chế tài

chưa thực sự nghiêm khắc,… Để giải quyết các hiện tượng bất cập trên, cần thực

hiện một số giải pháp kiến nghị, bao gồm kiến nghị định hướng, và một số kiến

nghị cụ thể như: hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý liên quan đến đấu thầu, đặc

biệt chú trọng hoàn thiện các chế tài xử lý vi phạm trong đầu tư xây dựng nói

chung và trong đấu thầu xây dựng nói riêng, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ

trực tiếp điều hành cơng tác đấu thầu, có biện pháp chống phá giá trong đấu thầu.

Đấu thầu xây dựng là một phương thức quan trọng để lựa chọn nhà thầu thực

hiện cơng trình xây dựng. Trong cạnh tranh, đấu thầu là cơng việc quan trọng bởi

chính sự cạnh tranh giữa các nhà thầu sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho bên mời thầu

lựa chọn được nhà thầu ưng ý nhất, phù hợp với yêu cầu của mình và với giá thấp

nhất. Nhìn chung, các quy định về đấu thầu đã được Nhà Nước ban hành và điều

chỉnh bổ sung nhiều lần với mục đích càng ngày càng hồn hảo, chặt chẽ, gần với

thực tế cuộc sống. Song đấu thầu là một vấn đề phức tạp vì thế, các chủ thể ln

tìm mọi cách để né tránh hoặc bóp méo nó đi, làm cho việc lựa chọn chỉ còn là

hình thức… điều này ảnh hưởng đến quyền lợi của các nhà thầu chân chính, họ

54



tham gia đấu thầu nhưng lại khơng có quyền được cạnh tranh bình đẳng, lành

mạnh mà phải đối đầu với những hành vi đấu thầu giả tạo, thông thầu, hối lộ, phá

giá bỏ thầu,..

Xuất phát từ những vấn đề mang tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn áp

dụng đề tài “Một số vấn đề pháp lý về chống hạn chế cạnh tranh trong đấu thầu

xây dựng” được thực hiện với mong muốn đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị

nhằm hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật về đấu thầu nói chung và đấu

thầu xây dựng nói riêng.



55



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG PHÁP LUẬT CHỐNG HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×