Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG VÀ PHÁP LUẬT CHỐNG HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG Ở VIỆT NAM.

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG VÀ PHÁP LUẬT CHỐNG HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG Ở VIỆT NAM.

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Các văn bản liên quan đến lĩnh vực dự án đầu tư xây dựng như Luật bảo vệ

môi trường Mơi trường, Luật Phòng cháy chữa cháy, Luật Điện lực, Luật Đất đai,

Luật Đầu tư...và các văn bản hướng dẫn các Luật trên.

II.1.1.2. Hệ thống các văn bản liên quan đến đấu thầu xây dựng

Các quy định trong nước:

- Luật Đấu thầu ngày 29/11/2005;

- Nghị định số 58/2008/NĐ-CPngày 05/5/2008 của Chính phủ hướng dẫn thi

hành Luật Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu theo Luật Xây dựng.

- Quyết định số 49/2007/QĐ-TTg ngày 11/4/2007 của Thủ tướng chính phủ

về các trường hợp được chỉnh định thầu quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 101 của

Luật Xây dựng.

- Quyết định số 678/2008/QĐ-BKH ngày 02/6/2008 của Bộ Kế hoạch và Đầu

tư ban hành chứng chỉ thamg gia khoá học đấu thầu.

- Quyết định số 731/2008/QĐ-BKH ngày 10/6/2008 của Bộ Kế hoạch và

Đầu tư ban hành mẫu hồ sơ mời thầu xây lắp.

- Quyết định số 1048/2008/QĐ-BKH ngày 11/8/2008 của Bộ Kế hoạch và

Đầu tư ban hành mẫu hồ sơ mời thầu dịch vụ tư vấn.

- Quyết định số 1068/2008/QĐ-BKH ngày 15/8/2008 của Bộ Kế hoạch và

Đầu tư ban hành mẫu báo cáo thẩm định kết quả đấu thầu.

- Quyết định số 1118/2008/QĐ-BKH ngày 03/9/2008 của Bộ Kế hoạch và

Đầu tư ban hành mẫu hồ sơ mời thầu mua sắm hàng hoá.

- Quyết định số 937/2008/QĐ-BKH ngày 23/7/2008 của Bộ Kế hoạch và Đầu

tư ban hành mẫu hồ sơ mời sơ tuyển gói thầu xây lắp.

- Quyết định số 1121/2008/QĐ-BKH ngày 03/9/2008 của Bộ Kế hoạch và Đầu

tư ban hành mẫu báo cáo đánh giá hồ sơ dự thầu đối với gói thầu mua sắm hàng hoá

và xây lắp.

+ Các quy định quốc tế:

- Hướng dẫn của ADB bao gồm hướng dẫn mua sắm và hướng dẫn tư vấn

của ADB và bên vay.

- Hướng dẫn của WB.

27



- Hướng dẫn của JBIC bao gồm hướng dẫn mua sắm bằng vốn vay ODA của

JBIC; hướng dẫn tuyển chọn và sử dụng tư vấn các dự án vay ODA của JBIC và

sổ tay hướng dẫn mua sắm bằng vốn vay ODA của JBIC.

II.1.2. Quy trình thực hiện đấu thầu xây dựng

Công tác quản lý đấu thầu trong thời gian qua dần đi vào nề nếp và không

ngừng được nâng cao. Tuy nhiên, một số các cán bộ làm công tác đấu thầu vẫn

chưa qua đào tạo bài bản, họ chủ yếu là những cán bộ được đào tạo để làm cơng

tác kế hoạch hóa trong nền kinh tế tập trung chỉ huy. Vì vậy, bộ máy quản lý về

đấu thầu hiện nay thực sự là chưa thể đáp ứng nhu cầu về chuyên môn để vận

hành nhằm phát huy hết vai trò của cơng tác đấu thầu trong nền kinh tế thị trường.

Thực tế cho thấy, công tác đấu thầu trong những năm trước khi ban hành luật

Đấu Thầu cho thấy, mặc dù các quy định về đấu thầu chưa mang tính luật hóa cao,

song cũng đã có tác dụng thúc đẩy q trình lành mạnh hóa các quan hệ kinh tế

thơng qua đấu thầu. Bên cạnh đó, việc thực hiện ở các cấp nhìn chung đều mang

tính hình thức, hiện tượng vi phạm quy định còn nhiều, gây thất thốt lớn về ngân

sách Nhà Nước. Luật Đấu Thầu[3] ra đời với hi vọng sẽ khắc phục được tình trạng

trên.

Quy trình đấu thầu xây dựng bao gồm các công đoạn cần thực hiện để lựa

chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng với nhà thầu trúng thầu. Trong từng cơng đoạn,

pháp luật có quy định về quyền, nghĩa vụ của bên mời thầu và các chỉ thế khác có

liên quan.

II.1.2.1. Tổ chức đấu thầu





Sơ tuyển nhà thầu:

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tại Mục I - chương 2 - phần thứ nhất



– Thông tư số 04/2000/TT-BKH[8], các gói thầu xây lắp có giá trị từ 200 tỷ đồng

trở lên phải tiến hành việc sơ tuyển nhà thầu nhằm lựa chọn các nhà thầu đủ năng

lực và kinh nghiệm thực hiện, đáp ứng nhu cầu của hồ sơ mời thầu. Như vậy, việc

tổ chức sơ tuyển nhà thầu không phải là bắt buộc cuộc đấu thầu nào cũng phải

thực hiện. Việc sơ tuyển này giúp cho bên mời thầu loại bớt các nhà thầu không

28



đáp ứng tốt các yêu cầu của bên mời thầu để việc đấu thầu sẽ tập trung vào các

nhà thầu có năng lực, kinh nghiệp thực sự đáp ứng tốt các yêu cầu của bên mời

thầu, qua đó nâng cao được hiệu quả kinh tế của việc tổ chức đấu thầu.

 Lập hồ sơ mời thầu.

Hồ sơ mời thầu là toàn bộ các tài liệu liên quan đến các yêu cầu cho một gói

thầu do bên mời thầu lập được làm căn cứ pháp lý cho nhà thầu chuẩn bị hồ sơ dự

thầu và bên mời thầu đánh giá hồ sơ dự thầu. Hồ sơ mời thầu và một trong những

yếu tố quan trọng quyết định chất lượng và hiệu quả của gói thầu. Theo quy định

của Điều 35 Quy chế đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định số 88/1999/NĐ-CP

[



và Khoản 14 Điều 1 Nghị định số 66/2003/NĐ – CP



[9]



, thì hồ sơ mời thầu bao



gồm:

+ Thư mời thầu

+ Mẫu đơn dự thầu

+ Chỉ dẫn đối với nhà thầu

+ Các điều kiện ưu đãi

+ Các loại thuế theo quy định của pháp luật

+ Hồ sơ thiết kế kỹ thuật kèm theo bản tiên lượng và chỉ dẫn kỹ thuật

+ Tiến độ thi công

+ Tiêu chuẩn đánh giá (bao gồm phương pháp đánh giá và cách thức quy đổi

về cùng mặt bằng để xác định giá đánh giá)

+ Điều kiện chung và điều kiện cụ thể của hợp đồng

+ Mẫu đơn dự thảo thầu

+ Mẫu thỏa thuận hợp đồng

+ Mẫu bảo lãnh thực hiện hợp đồng.

 Thông báo mời thầu hoặc thư mời thầu:

Sau khi lập xong hồ sơ mời thầu, bên mời thầu sẽ tiến hành việc thông báo

mời thầu hoặc gửi thư mời thầu. Theo pháp luật Việt Nam, tại mục III – Chương 3

– Phần thứ nhất – Thông tư số 04/2000/TT – BKH [8], thông báo mời thầu được áp

dụng trong đấu thầu rộng rãi, gửi thư mời thầu được áp dụng đối với gói thầu thực

hiện hình thức đấu thầu hạn chế hoặc đối với các gói thầu đã qua sơ tuyển.

29



Đối với việc thơng báo mời thầu, bên mời thầu phải tiến hành thông báo trên

các phương tiện thông tin đại chúng tùy theo quy mơ và tính chất của gói thầu mà

thơng báo trên các tờ báo phổ thông hàng ngày, phương tiện nghe nhìn và các

phương tiện khác nhưng tối thiểu phải đảm bảo trên 3 số liên tiếp và phải thông

báo trước khi phát hành hồ sơ mời thầu là 5 ngày đối với gói thầu có quy mơ nhỏ

và trước 10 ngày đối với các gói thầu khác. Trong trường hợp đấu thầu quốc tế,

bên mời thầu phải thông báo đầy đủ các điều kiện như trên đồng thời phải thông

báo ít nhất trên một tờ báo tiếng Anh được phát hành rộng rãi ở Việt Nam hoặc

theo quy định của nhà tài trợ.

Đối với việc gửi thư mời thầu, bên mời thầu cần phải gửi trực tiếp thư mời

thầu qua fax, đường bưu điện hoặc các phương tiện khác tới nhà thầu trong danh

sách mời thầu đã được người có thẩm quyền phê duyệt. Thời gian từ khi gửi thư

mời thầu đến khi phát hành hồ sơ mời thầu ít nhất là 7 ngày đối với gói thầu quốc

tế và ít nhất là 5 ngày đối với gói thầu trong nước, ít nhất là 3 ngày đối với gói

thầu có quy mô nhỏ. Nội dung của thư mời thầu theo Điều 36 Quy chế đấu thầu

ban hành kèm theo Nghị Định số 88/1999/NĐ – CP[9] gồm có:

+ Tên, địa chỉ bên mời thầu

+ Khái quát dự án, địa điểm, thời gian xây dựng, và các nội dung khác

+ Chỉ dẫn việc tìm hiểu hồ sơ mời thầu

+ Các điều kiện tham gia dự thầu

+ Thời gian, địa điểm nhận hồ sơ mời thầu.

 Lập hồ sơ dự thầu:

Việc lập hồ sơ dự thầu là việc của nhà thầu có dự định tham gia đấu thầu. Sau

khi tiếp nhận được thông tin mời thầu, các nhà thầu cần phải liên hệ với bên mời

thầu để nhận hồ sơ mời thầu. Bên mời thầu có thể yêu cầu nhà thầu phải trả một

khoản tiền nhất định (Khoản 1 Điều 57 Quy chế đấu thầu ban hành kèm theo Nghị

Định số 88/1999/NĐ – CP[9] giá bán hồ sơ dự thầu trong nước không quá 500.000

Đồng, đối với đấu thầu quốc tế giá bán thực hiện theo thông lệ quốc tế) để bù đắp

cho chi phí soạn thảo hồ sơ mời thầu, đồng thời phải chịu tất cả các chi phí có liên



30



quan đến công tác chuẩn bị và nộp hồ sơ dự thầu của mình. Bên mời thầu khơng

chịu trách nhiệm về các chi phí này trong bất kỳ trường hợp nào.

Hồ sơ dự thầu của các nhà thầu được lập trên cơ sở các yêu cầu cả bên mời

thầu đặt ra trong hồ sơ mời thầu. Các hồ sơ dự thầu này được coi như chào hàng

đối với bên mời thầu, nhà thầu sẽ phải chịu trách nhiệm với nội dung bên trong hồ

sơ dự thầu. Thời hạn này được quy định khơng q 180 ngày kể từ thời điểm đóng

thầu. Trường hợp cần gia hạn hiệu lực của hồ sơ dự thầu, bên mời thầu phải thông

báo cho các nhà thầu sau khi được phép của người có thẩm quyền hoặc các cấp có

thẩm quyền. Nếu nhà thầu khơng chấp nhận thì được hồn trả bảo lãnh dự thầu.

Theo Điều 38 Quy chế đấu thầu ban hành kèm theo Nghị Định số

88/1999/NĐ – CP[9] hồ sơ dự thầugồm có:

+ Các nội dung về hành chính pháp lý như đơn dự thầu hợp lệ, bản sao giấy

đăng ký kinh doanh, tài liệu giới thiệu về năng lực và kinh nghiệm của nhà thầu,

văn bản thỏa thuận liên danh, bảo lãnh dự thầu.

+ Các nội dung về kỹ thuật như biện cấp vật tư và vật liệu xây dựng, các biện

pháp bảo đảm chất lượng.

+ Các nội dung về thương mại, tài chính.

 Tiếp nhận hồ sơ dự thầu và quản lý hồ sơ dự thầu

Nhà thầu sau khi hoàn thành hồ sơ dự thầu sẽ nộp hồ sơ dự thầu cùng bảo

lãnh dự thầu theo quy định trong hồ sơ mời thầu hoặc thông báo mời thầu. Theo

pháp luật Việt Nam, nhà thầu phải nộp bảo lãnh mời thầu cùng hồ sơ dự thầu. Tại

Khoản 2 Điều 28 Quy chế đấu thầu ban hành kèm theo Nghị Định số 88/1999/NĐ

– CP[9] quy định mức bảo lãnh bằng 1%-3% giá dự thầu.

Việc tiếp nhận hồ sơ dự thầu được thực hiện bằng phương thức nộp trực tiếp

hoặc gửi qua đường bưu điện theo địa chỉ và thời gian quy định trong hồ sơ mời

thầu. Các hồ sơ dự thầu được nộp đều phải trong trạng thái niêm phong để bảo

đảm tính mật của hồ sơ dự thầu cho đến khi được mở tại phiên mở thầu công khai.

II.1.2.2. Xét thầu

 Mở thầu



31



Hồ sơ dự thầu sẽ được mở tại thời điểm quy định trong hồ sơ mời thầu. Tất

cả các nhà thầu đã nộp hồ sơ dự thầu hoặc các đại diện của họ cần được bên mời

thầu cho phép tới dự lễ mở thầu. Việc mở thầu được tiến hành theo thời gian và

địa điểm ghi trong hồ sơ mời thầu, không phụ thuộc vào sự có mặt hay khơng có

mặt của nhà thầu được mời. Trình tự mời thầu được tiến hành theo quy định tại

Khoản 9 Điều 1 Nghị định số 66/2003/NĐ – CP [9]; và mục VI – Chương III –

Phần thứ nhất – Thông tư số 04/2000/TT – BKH[8] như sau:

+ Thông báo thành phần tham dự

+ Thông báo số lượng và tên nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu

+ Kiểm tra niêm phong các hồ sơ dự thầu

+ Lần lượt mở các túi hồ sơ dự thầu, đọc, ghi lại thông tin cơ bản

+ Thông qua biên bản mở thầu

+ Đại diện bên mở thầu, đại diện nhà thầu, đại diện của các cơ quan quản lý

có liên quan, ký xác nhận vào biên bản mở thầu.

+ Tổ chuyên gia hoặc bên mời thầu ký xác nhận vào bản chính của hồ sơ dự

thầu.

 Đánh giá hồ sơ dự thầu và xếp hạng nhà thầu:

Việc đánh giá hồ sơ dự thầu và xếp hạng nhà thầu phải được thực hiện theo

đúng như quy định tại hồ sơ mời thầu. Đối với đấu thầu xây lắp theo quy định

trong luật mẫu về đấu thầu của UNCITRAL [1] thì tiêu chí đánh giá và xếp hạng hồ

sơ dự thầu được cùng tiêu chí đánh giá. Đây là một tiêu chí tổng hợp giữa các yêu

cầu kỹ thuật và yêu cầu về tài chính. Theo đó, nhà thầu có giá thấp sẽ được xét

trúng thầu. Theo pháp luật Việt Nam, việc đánh giá hồ sơ dự thầu và xếp hạng các

nhà thầu cũng dựa theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu và các tiêu chuẩn đánh giá đã

được người có thẩm quyền phê duyệt trước khi mở thầu.

II.1.2.3. Thẩm định và phê duyệt

Theo quy định trong luật mẫu về đấu thầu của UNCITRAL [1] cũng như quy

định của các tổ chức quốc tế, bước thẩm định về phê duyệt đối với kết quả đáu

thầu trước khi chính thức cơng bố không được đặt ra. Theo pháp luật Việt Nam,

sau khi có đánh giá xếp hạng các nhà thầu trong danh sách ngắn, chủ đầu tư có

32



trách nhiệm trình duyệt kết quả đấu thầu lên người có thẩm quyền hoặc cấp có

thẩm quyền để xem xét, phê duyệt.

II.1.2.4. Cơng bố trúng thầu:

Dựa trên kết quả đánh giá và xếp hạng các nhà thầu, nhà thầu được xác định

trúng thầu theo các nguyên tắc đánh giá đã được công bố trước trong hồ sơ mời

thầu. Thông báo về kết quả đấu thầu phải được gửi ngay cho nhà thầu trúng thầu

và các nhà thầu dự thầu khác.

Đối với nhà thầu trúng thầu, ngồi thơng báo trúng thầu, bên mời thầu còn

phải gửi kèm theo dự thảo hợp đồng và những điểm lưu ý cần trao đổi khi thương

thảo hoàn thiện hợp đồng. .

II.1.2.5. Thương thảo hoàn thiện hợp đồng và ký hợp đồng

Việc thương thảo và hoàn thiện hợp đồng được tiến hành theo thời gian, địa

điểm đã được thông báo đối với nhà thầu trúng thầu. Hai bên sẽ tiến hành thương

thảo và hoàn thiện hợp đồng nhằm giải quyết những vấn đề còn tồn tại, chưa hồn

chỉnh về hợp đồng đối với nhà thầu trúng thầu, đặc biệt là việc áp giá đối với

những sai lệch so với yêu cầu của hồ sơ mời thầu trên nguyên tắc giá trị hợp đồng

không vượt quá giá trúng thầu được duyệt. Sau khi thương thảo và hoàn thiện hợp

đồng với nhà trúng thầu, bên mời thầu có trách nhiệm trình kết quả đấu thầu lên

chủ đầu tư để chủ đầu tư quyết định nội dung và ký kết hợp đồng.

Như vậy theo những phân tích ở trên, các quy định về đấu thầu hiện hành về

quy trình đấu thầu xây lắp ở Việt Nam hiện nay cũng tương đối phù hợp với quy

định chung trong luật mẫu về đấu thầu của UNCITRAL [1] và quy định của đấu

thầu quốc tế

II.1.3. Thực trạng hoạt động đấu thầu xây dựng ở Việt Nam

II.1.3.1. Đánh giá chung

Đấu thầu xây dựng ngày càng phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam, mặc dù mới

xuất hiện ở nước ta cùng với sự phát triển của nền kinh tế nhưng theo số liệu tổng

kết của Bộ Kế hoạch và Đầu tư từ năm 2000 – 2003 hiệu quả sử dụng vốn đầu tư

thông qua đấu thầu như sau:

33



Đơn vị: triệu USD

Năm



Tổng kết giá trị

dự kiến



Tổng giá trị

trúng thầu



2000

2001

2002

2003



3.646,0

5.068,0

5.819,0

2.500,1



3.190,0

4.559,0

5.320,0

2.236,4



Mức độ tiết

kiệm sau đấu

thầu

456,0

527,0

498,0

263,7



Tỷ lệ tiết kiệm

sau đấu thầu

(%)

12,5

10,5

8,6

10,54



Bảng 1: hiệu quả sử dụng vốn đầu tư qua đấu thầu qua các năm[11]

Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy, giá trúng thầu thường thấp hơn giá gói

thầu được phê duyệt trong kế hoạch đấu thầu. Như vậy, trong 4 năm tỷ lệ tiết kiệm

vốn thông qua đấu thầu hàng năm vào khoảng 10%, mức tiết kiệm tuyệt đối đạt

mức độ cao trên 250 triệu USD/ năm. Rõ ràng, công tác đấu thầu đã phát huy

được vai trò của mình, ngồi việc chủ đầu tư tìm được các nhà thầu đáp ứng đủ

tiêu chuẩn điều kiện về kỹ thuật cũng như các phương án thi công, công tác đấu

thầu giúp chủ đầu tư tiết kiệm vốn đầu tư.

Hình thức lựa chọn nhà thầu cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tiết

kiệm vốn đầu tư:

Đơn vị: %

Năm

1998

1999

2000

2001

2002



Đấu thầu rộng rãi

26,7

19,6

12,9

14,98

14,23



Đấu thầu hạn chế

33,5

30,6

25,5

21,32

19,55



Hình thức còn lại

39,8

49,8

61,7

63,70

66,22



Bảng 2: tỷ lệ áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu [14]

Theo bảng 2 ta thấy, tỉ lệ tiết kiệm đối với đấu thầu rộng rãi cao nhất bởi sự

cạnh tranh thực sự giữa các nhà thầu, hình thức đấu thầu hạn chế cũng được sử

dụng nhiều nhưng tỉ lệ tiết kiệm chưa thực sự cao do tính cạnh tranh giảm. Các

hình thức đấu thầu khác có tính cạnh tranh khơng cao như chỉ định thầu, tự thực

hiện, mua sắm trực tiếp còn được áp dụng với số lượng lớn các gói thầu với tỉ lệ

tiết kiệm vốn đầu tư không đáng kể. Đặc biệt việc áp dụng các hình thức đấu thầu

34



khơng có tính cạnh tranh xu hướng gia tăng. Tuy đạt được mức tiết kiệm cao

nhưng do gần đây, hiện tượng bỏ giá thầu thấp để trúng thầu là phổ biến nên mức

tiết kiệm thực sự của các dự án đầu tư không đạt được như các con số thống kê kể

trên. Hiện tượng lạm dụng sự thiếu chặt chẽ của pháp luật để áp dụng các hình

thức chỉ định thầu còn phổ biến, làm giảm hiệu quả cơng tác đấu thầu.

II.1.3.2. Đánh giá và thẩm định kết quả thầu

Bộ Kế hoạch và Đầu tư vừa ban hành Quyết định số 419/2008/QĐ-BKH [10]

về việc ban hành báo cáo thẩm định kết quả đấu thầu. Theo đó, mẫu Báo cáo thẩm

định kết quả đấu thầu này áp dụng cho việc lập báo cáo thẩm định của cơ quan, tổ

chức có trách nhiệm thẩm định kết quả đấu thầu (gọi tắt là cơ quan/tổ chức thẩm

định) về kết quả đấu thầu đối với gói thầu dịch vụ tư vấn, mua sắm hàng hố, xây

lắp của các dự án thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Đấu thầu khi thực hiện hình

thức đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế trong nước và quốc tế. Đối với các hình

thức lựa chọn nhà thầu khác, cơ quan, tổ chức thẩm định có thể sửa đổi, bổ sung

một số nội dung của mẫu này để áp dụng cho phù hợp.Việc ban hành mẫu báo cáo

kết quả thẩm định đấu thầu nhằm tránh những báo cáo thẩm định còn mang tính

hình thức, chủ yếu là đánh giá lại hồ sơ đấu thầu. Theo mẫu này, khi tiến hành

thẩm định, cơ quan, tổ chức thẩm định cần căn cứ vào các tài liệu do chủ đầu tư,

bên mời thầu cung cấp, báo cáo đánh giá của tổ chuyên gia đấu thầu hoặc tổ chức,

đơn vị trực tiếp thực hiện việc đánh giá hồ sơ đấu thầu (tư vấn đấu thầu, tổ chức

đấu thầu chuyên nghiệp,…), ý kiến đánh giá của từng thành viên trực tiếp tham

gia đánh giá hồ sơ đấu thầu và các tài liệu liên quan nhằm đảm bảo tính trung

thực, khách quan trong việc thẩm định về kết quả đấu thầu.

Quy định về đánh giá và thẩm định kết quả đấu thầu để tránh được sự nhầm

lẫn trong các khâu của quá trình đấu thầu, cuối cùng sẽ đưa ra được lựa chọn nhà

thầu xứng đáng phù hợp với các yêu cầu của hồ sơ mời thầu. Việc thẩm định còn

mang tính thủ tục hành chính nhưng thơng qua thẩm định mà kết quả đấu thầu

được bảo vệ theo đúng yêu cầu của hồ sơ mời thầu và tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ

dự thầu. Vấn đề đặt ra, cần phải hạn chế những thủ tực hành chính rườm rà khơng

35



cần thiết để đạt được hiệu quả tối ưu của công tác đánh giá và thẩm định. Việc ban

hành báo cáo về thẩm định kết quả thầu nói trên là một bước tiến mới trong việc

hướng tới loại bỏ những “tạp chất” trong công tác đấu thầu.



II.2. Pháp luật chống hạn chế cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng

II.2.1. Thông đồng:

Hiện tượng thông đồng trong đấu thầu là hiện tượng rất phỏ biến hiện nay.

Theo từ điển tiếng Việt[20], “thông đồng” là hành vi thỏa thuận ngầm giữa hai bên

nhằm thực hiện một mục đích nào đó, thơng đồng thường mang đến nghĩa tiêu

cực. Trong xây dựng, hiện tượng thơng đồng có thể phát sinh giữa nhà thầu với

bên mời thầu, chủ đầu tư, nhà tư vấn, tổ chuyên gia, tư vấn giám sát, giữa chủ đầu

tư với người có thẩm quyền hoặc là sự thông đồng giữa nhà thầu với nhau. Trong

quy định của Luật Cạnh Tranh[7], hành vi thông đồng được quy định tại Khoản 8

Điều 8: “thông đồng để một hoặc các bên thỏa thuận thắng thầu trong việc cung

cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ”. Nhiều trường hợp dự án được chia thành nhiều

gói thầu. Nhiều chủ đầu tư cũng tiến hành đấu thầu từng gói thầu, nhưng thật sự

chỉ là việc dàn xếp giữa các nhà thầu. Nhiều nhà thầu có quan hệ sẽ được gọi dự

thầu và tùy theo tỉ lệ phần trăm “bật tường” của các nhà thầu mà họ sẽ được sắp

xếp ở gói thầu lớn hay nhỏ. Trên cơ sở sự sắp đặt này, các nhà thầu tiến hành

chuẩn bị các hồ sơ dự thầu theo định hướng của bên mời thầu để đấu thầu dự án,

hợp pháp hóa về mặt hình thức. Hiện tượng nhà thầu thông đồng với tổ chức giám

sát, tổ nghiệm thu để có thể thực hiện cơng trình một cách thoải mái thay đổi vật

liệu, cắt bớt công đoạn mà vẫn nghiệm thu được cơng trình để làm thủ tục thanh

tốn. Nhà thầu cũng có thể thơng đồng với nhau để liên danh dự thầu sau khi trúng

thầu thì để lại cho một nhà thầu thi cơng còn các nhà thầu khác được chia theo tỉ lệ

phần trăm. Nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng thơng đồng trong đấu thầu là:

Thứ nhất, tỷ lệ chi phí ngầm cho việc nhận thức được cơng trình thi cơng là

rất lớn. Hiện tượng này đã tạo thành một thông lệ và khiến cho chủ đầu tư là

người có thẩm quyền vì đã nhận tiền nên phải tạo mọi điều kiện thuận lợi cho nhà

thầu trúng thầu. Các nhà thầu có thể có lãi và bù lại các khoản chi phí ngầm nên

36



phải cắt giảm công đoạn thi công, thay đổi nguyên vật liệu, và vì thế phải có sự

thơng đồng, móc ngoặc với nhà tư vấn giám sát. Mỗi cơng trình thi cơng chỉ còn

lại khoảng 35-45% tổng chi phí để thực hiện cơng trình [15]. Trong thực tế, cuộc

chạy đua giữa các nhà thầu về khoản chi phí ngầm cho chủ đầu tư và người có

thẩm quyền quyết định đầu tư diễn ra rất quyết liệt, gay cấn thực sự. Người nào có

tỉ lệ phí cao hơn thì sẽ được xem xét cho trúng thầu. Như vậy, việc chi phí ngầm

đã trở thành một nguyên nhân tạo nên sự thông đồng trong đấu thầu, làm mất đi ý

nghĩa thực sự của việc tổ chức đấu thầu.

Thứ hai, hiện tượng thông đồng trong đấu thầu còn bắt nguồn từ nguyên

nhân là chế độ tiền lương của các cán bộ làm trong công tác đấu thầu còn thấp,

đặc biệt là chủ đầu tư, nhiều khi cơ hội làm chủ đầu tư xây dựng là rất hãn hữu,

nên họ thường chọn cách thông đồng với các nhà thầu để mang lại lợi ích cho

mình.

Thứ ba, các quy định về chế tài xử lý đối với các vi phạm trong đấu thầu còn

thiếu và khơng có cơ sở thực tế áp dụng được cũng góp phần thúc đẩy các vi phạm

nói chung và hiện tượng thơng đồng nói riêng. Theo Khoản 1 Điều 3 thì chỉ quy

định hủy đấu thầu khi có bằng chứng về sự thơng đồng của bên mời thầu và nhà

thầu: “có bằng chứng cho thấy bên mời thầu thông đồng với nhà thầu” và “có

bằng chứng cho thấy tất cả các nhà thầu thơng có sự thơng đồng làm ảnh hưởng

đến lợi ích của bên mời thầu”.

Nghị định 111/2006/NĐ – CP ngày 29/9/2006 [5] của Chính Phủ để hướng

dẫn thi hành Luật Đấu Thầu[3] và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật Xây

Dựng[4] quy định xử lý vi phạm về đấu thầu, đưa ra các nguyên tắc xử lý vi phạm,

các hình thức bị xử lý cụ thể. Theo Điểm a Khoản 2 Điều 52 Nghị định 111/2006/

NĐ – CP ngày 29/9/2006[5] của Chính Phủ quy định về mức phạt tiền đối với tổ

chức, các nhân vi phạm pháp luật về đấu thầu theo quy định tại Điểm b Khoản 1

Điều 52 Luật Đấu Thầu[3] như sau: “Dàn xếp, thông đồng giữa tất cả nhà thầu,

giữa nhà thầu với chủ đầu tư, bên mời thầu, tổ chuyên gia đấu thầu, tư vấn lập hồ

sơ mời thầu, cơ quan, tổ chức thẩm định, người phê duyệt kết quả lựa chọn nhà

thầu làm sai lệch kết quả lựa chọn nhà thầu dẫn đến phải huỷ đấu thầu hoặc lựa

37



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG VÀ PHÁP LUẬT CHỐNG HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG Ở VIỆT NAM.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×