Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
I.3 Mục đích của đấu thầu xây dựng và vai trò của pháp luật về đấu thầu xây dựng ở Việt Nam.

I.3 Mục đích của đấu thầu xây dựng và vai trò của pháp luật về đấu thầu xây dựng ở Việt Nam.

Tải bản đầy đủ - 0trang

 Đảm bảo sự quản lý của Nhà Nước: Thông qua đấu thầu, Nhà Nước quản lý

các dự án xây dựng, và qua đó chọn lụa được nhà thầu đáp ứng được u

cầu xây dựng, tiến độ cơng trình.

I.3.2. Vai trò của pháp luật về đấu thầu xây dựng ở Việt Nam.

Hoạt động xây dựng luôn gắn liền những nguồn vốn đầu tư lớn của Nhà

Nước. Xây dựng là một quá trình liên tục, phát triển cùng với sự tồn tại của đời

sống xã hội. Vấn đề đặt ra là phải quản lý chặt chẽ hoạt động xây dựng tránh sự

thất thoát trong việc sử dụng ngân sách, xây dựng các cơng trình kém chất lượng.

Ngày nay, pháp luật điều chỉnh đối với hoạt động xây dựng được thể hiện trên các

góc độ: lâp quy hoạch xây dựng, lập dự án xây dựng cơng trình, khảo sát, thiết kế,

thi cơng, giám sát thi công, quản lý dự án đầu tư xây dựng, lựa chọn nhà thầu

trong hoạt động xây dựng. Ta có thể thấy, vai trò của pháp luật được thể hiện trong

một số khía cạnh sau:

 Nâng cao hiệu quả của việc sử dụng vốn đầu tư xây dựng, góp phần thúc

đẩy xã hội phát triển. Chủ đầu tư sẽ có nhiều cơ hội để lựa chọn các dịch vụ

thi cơng xây lắp có chất lượng với giá thành hợp lý nhất thông qua đấu thầu.

Sự cạnh tranh của các nhà thầu chính là cơ sở để chủ đầu tư chọn được nhà

thầu tối ưu. Mỗi nhà thầu muốn trúng được hợp đồng cần phải cung ứng

được các điều kiện về kỹ thuật, chất lượng cao nhất với giá bỏ thầu thấp,

đồng thời vẫn thu được lợi nhuận nếu ký kết và thực hiện cơng trình. Để đạt

được điều này, các nhà thầu phải không ngừng cải tiến quy trình cơng nghệ

nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm đem lại lợi ích kinh tế cho bên tham

gia, thúc đẩy xã hội phát triển

 Nhờ có phát luật về đấu thầu xây dựng, các nhà thầu có mơi trường cạnh

tranh bình đẳng, cơng khai, minh bạch. Khi tham gia đấu thầu, các nhà thầu

có quyền lợi và địa vị ngang nhau, cùng cạnh tranh một cách rõ ràng, không

giấu giếm.

 Được pháp luật điều chỉnh việc lựa chọn nhà thầu trở nên có trật tự hơn.

Bên cạnh đó, các cơ quan, tổ chức được hướng dẫn về cách thức tổ chức

15



chọn lựa nhà thầu xây dựng. Ở Việt Nam, việc tiến hành đấu thầu hình

thành chưa lâu, nhưng đã trở thành một phương pháp lựa chọn nhà thầu có

hiệu quả trong nền cơ chế thị trường cạnh tranh. Các quy định pháp luật

Việt Nam về đấu thầu đi trước so với các quan hệ kinh tế mà nó điều chỉnh,

và thường mang tính hướng dẫn cho các chủ thể trong quan hệ về đấu thầu

do kinh nghiệm về đấu thầu ở nước ta còn nhiều hạn chế, đặc biệt các quy

định pháp luật về đấu thầu có được là sự du nhập của các quy định nước

ngoài và quốc tế.



I.4. Những vấn đề pháp lý về hành vi chống hạn chế cạnh tranh trong đấu

thầu xây dựng ở Việt Nam

I.4.1. Khái niệm chống hạn chế cạnh tranh

Cạnh tranh là nền tảng cho sự vận hành của cơ chế thị trường, thúc đẩy và

hợp lý hóa sản xuất, thoản mãn nhu cầu tiêu dùng của xã hội và là động lực cho sự

phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế. Nước ta hiện nay, quá trình cạnh tranh

diễn ra khá mạnh mẽ trong môi trường kinh doanh

Pháp luật về chống hạn chế cạnh tranh là tổng hợp các quy phạm điều chỉnh

hành vi cạnh tranh trên thị trường với mục đich bảo vệ tự do cạnh trah cũng như

cơ cấu và tương quan thị trường [18]

Những hành vi hạn chế cạnh tranh đôi khi không làm tổn hại đến lợi ích riêng

rẽ của bất kỳ một đối thủ cạnh tranh nào mà thậm chí ngược lại. Song hạn chế

cạnh tranh có nghĩa là đi đến thủ tiêu cạnh tranh, làm phá vỡ cạnh tranh và cuối

cùng là phá vỡ cơ cấu thị trường. Đây là hiện tượng đi ngược lại lợi ích chung của

cộng đồng, của nền kinh tế và di ngược lại nguyên lý phát triển kinh tế thị trường.

Cũng vì lý do đó, trong những trường hợp hạn chế cạnh tranh, Nhà Nước thường

chủ động vào cuộc để có những biện pháp pháp lý và hành chính cương quyết.

Những hành vi hạn chế cạnh tranh đối với thị trường và xã hội có mức độ

nguy hại rất lớn. Thể hiện ở việc những hành vi vi phạm không những trực tiếp

xâm hại đến lợi ích của các chủ thể kinh doanh, lợi ích của người tiêu dùng, lợi



16



ích của tồn bộ nền kinh tế, mà còn phá vỡ hay thay đổi cơ cấu, trật tự của một

khu vực thị trường, nghành hàng nhất định.

Pháp luật chống hạn chế cạnh tranh không chỉ điều chỉnh những hành vi cụ

thể mà còn có chức năng bảo vệ cơ cấu và tương quan thị trường, duy trì và bảo

đảm quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh, bảo đảm một trật tự cạnh

tranh lành mạnh trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

Pháp luật chống hạn chế cạnh tranh là một chế định độc lập trong hệ thống

pháp luật cạnh tranh nói riêng và trong hệ thống pháp luật kinh tế nói chung. Hiện

nay, pháp luật chống hạn chế cạnh tranh có phạm vi điều chỉnh rộng có thể liên

quan đến mọi hoạt động kinh doanh trên thương trường, ngay cả những hành vi

hạn chế cạnh tranh nằm ngoài lãnh thổ của một nước, nhưng có ảnh hưởng tiêu

cực đến thị trường của nước khác thì vẫn bị xử lý theo pháp luật chống hạn chế

cạnh tranh của nước này.

Theo Khoản 3, Điều 3, Luật cạnh tranh 2004 của nước cộng hòa xã hội chủ

nghĩa Việt Nam thì hành vi hạn chế cạnh tranh được quy định: “Hành vi hạn chế

cạnh tranh là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh

trên thị trường, bao gồm hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lam dụng vị trí

thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế”

I.4.2. Các hành vi hạn chế cạnh tranh

 Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh: là hành vi cấu kết giữa hai hay nhiều doanh

nghiệp để thủ tiêu cạnh tranh giữa chúng và ngăn cản việc tham gia thị trường của

các đối thủ cạnh tranh khác cũng như sự nhập cuộc của doanh nghiệp tiềm năng.

Về mặt hình thức, những thoản thuận này có thể được hình thành thơng qua các

hợp đồng, nghị quyết, các thỏa thuận, ngầm giữa các doanh nghiệp. Hiện nay,

thông thường các thỏa thuận này thường được thể hiện dưới dạng thỏa thuận ngầm

hoặc cùng hành động để tránh bị phát hiện và xử lý. Sự tồn tại của các thỏa thuận

hạn chế cạnh tranh là một đòi hỏi thực tế khách quan cần có sự thừa nhận và điều

chỉnh bằng pháp luật phù hợp với thông lệ quốc tế.



17



Theo Điều 8 Luật Cạnh Tranh 2004[ 7], những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

bao gồm:

“1.Thoả thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián

tiếp;

2. Thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hoá, cung

ứng dịch vụ;

3. Thoả thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua,

bán hàng hoá, dịch vụ;

4. Thoả thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư;

5. Thoả thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua,

bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ

không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng;

6. Thoả thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia

thị trường hoặc phát triển kinh doanh;

7. Thoả thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các

bên của thoả thuận;

8. Thông đồng để một hoặc các bên của thoả thuận thắng thầu trong việc

cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ.”

Luật Cạnh Tranh Việt Nam 2004[7] liệt kê cụ thể các thỏa thuận được coi là

thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Tuy nhiên, trong một số trường hợp cần thiết,

nhằm làm hạ giá thành và làm lợi cho người tiêu dùng thì pháp luật cũng đã dự

liệu đến việc miễn trừ áp dụng các quy định cấm đối với một số hành vi nhất định.

Một hành vi chỉ được miễn trừ khi đáp ứng các điều kiện theo quy định và được

cơ quan quản lý cạnh tranh cho phép bằng văn bản.

Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh quy định tại các Khoản 1,2,3,4,5 Điều 8 Luật

Cạnh Tranh 4], khi các bên tham gia thỏa thuận có thị phần kết hợp trên thị trường

liên quan từ 30% trở lên được miễn trừ có thời hạn nếu đáp ứng được các tiêu chí:

Hợp lý hóa cơ cấu tổ chức, mơ hình kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh;

Thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ;

Thúc đẩy việc áp dụng thống nhất các tiêu chuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật

18



của chủng loại sản phẩm; Thống nhất các điều kiện kinh doanh, giao hàng, thanh

tốn nhưng khơng liên quan đến giá và các yếu tố của giá; Tăng cường sức cạnh

tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ; Tăng cường sức cạnh tranh doanh nghiệp Việt

Nam trên thị trường quốc tê;

Có thể nhận thấy, chỉ có những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh khơng bị cấm

tuyệt đối mới được hưởng nhưng trường hợp miễn trừ với một số điều kiện nhất

định và sự miễn trừ ln có thời hạn. Các bên thỏa thuận hạn chế cạnh tranh phải

đáp ứng một trong số các điều kiện mà Luật Cạnh Tranh [7] đưa ra để được hưởng

miễn trừ.

Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có thể được hình thành theo chiều ngang hoặc

theo chiều dọc của quá trình kinh doanh

- Thỏa thuận ngang là thỏa thuận diễn ra giữa các doanh nghiệp ở cùng một

nghành hàng nhằm hạn chế hoặc thủ tiêu cạnh tranh giữa họ với nhau hoặc

trên toàn bộ thị trường

- Thỏa thuận chiều dọc là thỏa thuận nhằm hạn chế hoặc thủ tiêu cạnh tranh

giữa các doanh nghiệp ở các khâu khác nhau của quá trình sản xuất cho đến

tiêu thụ. Thỏa thuận này thường liên quan đến các điều kiện, theo đó các

bên mua, bán hay bán lại một số hàng hóa hoặc dịch vụ đối với bên thứ ba

Thông thường, thỏa thuận ngang sẽ gây nhiều tác động xấu đến sự vận hành

của thị trường hơn là thỏa thuận dọc. Luật Cạnh tranh Việt Nam chưa có sự phân

biệt giữa thỏa thuận ngang và thỏa thuận dọc.

 Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền:

- Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường: để đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh

về hành vi lạm dụng quyền lực thị trường khơng phải dễ bởi đây là vấn đề có nội

dung phúc tạp. Kinh nghiệm của quốc tế và các nước phát triển cũng không chú

trọng nhiều vào việc đưa ra một định nghĩa chuẩn và chính xác cho hành vi này

mà thường xác định những tiêu chí cơ bản để nhận diện hành vi lạm dụng quyền

lực thị trường. Tuy nhiên, một định nghĩa tương đối về hành vi lạm dụng quyền

lực thị trường cũng rất có ý nghĩa vì nó giúp cho việc xác định các tiêu chí nhận

diện hành vi lạm dụng quyền lực thị trường được đầy đủ và có hệ thống.

19



Trước tiên, muốn xác định hành vi lạm dụng quyền lực thị trường cần phải

hiểu thế nào là quyền lực thị trường. Theo từ điển thương mại quốc tế



[19]



(Walter



Good), địa vị thống lĩnh thị trường (quyền lực thị trường) là khả năng của một

doanh nghiệp có thể gây ảnh hưởng đến cách xử sự của một doanh nghiệp khác

bất kỳ ngược hay xi. Theo đó, quyền lực thị trường là khả nang ảnh hưởng của

một doanh nghiệp đến hành vi của một doanh nghiệp khác trên thương trường.

Quyền lực thị trường cũng có thể hiểu là khả năng kiểm soát thức tế hoạc

tiềm năng đối với thị trường của một hay một nhóm các doanh nghiệp. Sự kiểm

sốt có thể căn cứ trên các cơ sở: thị phần, doanh thu hàng năm, quy mô tài sản, số

lượng nhân viên,.. ngồi ra nó còn được căn cứ vào khả năng của doanh nghiệp

trong việc tăng hoặc giảm giá trên (hoặc dưới) mức cạnh tranh trên thị trường

trong một giai đoạn nhất định[12].

Theo pháp luật Cạnh Tranh, doanh nghiệp được coi là có quyền lực thị

trường phải đạt tới mức độ mà nếu muốn, doanh nghiệp có thể sử dụng quyền lực

thị trường để hạn chế cạnh tranh hoặc bóc lột người tiêu dùng, ngược lại doanh

nghiệp sẽ khơng được coi là có quyền lực thị trường. Mức độ này được xác định

trên các tiêu chí thị phần, rào cản gia nhập thị trường hoặc một số yếu tố khác làm

doanh nghiệp có khả năng hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể như năng lực tài

chính, số lượng nhân viên, trình độ khoa học, cơng nghệ, nhãn hiệu hàng hóa, quy

mơ hệ thống phân phối… Hầu hết những nước đã xây dựng pháp luật cạnh tranh

đều sử dụng tiêu chí thị phần làm thước đo chính cho mức độ quyền lực thị

trường.

Có quyền lực thị trường được hiểu là vị trí khơng chỉ một doanh nghiệp mà

còn có thể là của một nhóm doanh nghiệp cùng hành động. Ở đây rõ ràng muốn đề

cập đến những thị trường có độ tập trung cao như trong trường hợp độc quyền

nhóm, khi mà một nhóm doanh nghiệp kiểm soát phần lớn thị trường, do vậy các

doanh nghiệp này có thể thống lĩnh và hành động như một doanh nghiệp độc

quyền.

“Lạm dụng” khơng phải là hành vi tích cực mà là hành vi tiêu cực, khơng

được khuyến khích và ủng hộ. Một doanh nghiệp có quyền lực thị trường nếu

20



muốn sử dụng ưu thế này của mình vào những mục đích đúng đắn có lợi cho

người tiêu dùng thì ln được khuyến khích vì lợi ích nó tạo ra lớn hơn hẳn các

doanh nghiệp khơng có quyền lực thị trường. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp chỉ biết

đến lợi ích của riêng mình, sử dụng ưu thế này vào mục đích xấu, gây thiệt hạo

cho người tiêu dùng và hạn chế cạnh tranh thì việc sử dụng đó được coi là lạm

dụng. Như vây, lạm dụng quyền lực thị trường là hành vi của doanh nghiệp có

quyền lực thị trường sử dụng để bóc lột người tiêu dùng hoặc gây hạn chế cạnh

tranh nhằm duy trì hay tăng cường vị thế của nó trên thị trường.

Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường thường dẫn đến hệ lụy là việc đào thải

các đối thủ cạnh tranh kém hiệu quả, nhưng cùng với đó là việc củng cố vị trí, sức

mạnh thị trường của những doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả. Từ đó hành vi

cạnh tranh của doanh nghiệp có quyền lực thị trường, nhất là các doanh nghiệp

thống lĩnh thị trương thường ảnh hưởng đến cạnh tranh của các chủ thể kinh

doanh khác. Điều 11 Luật Cạnh Tranh 2004[7] quy định doanh nghiệp, nhóm doanh

nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường như sau:

“1. Doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị phần

từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh

một cách đáng kể.

2. Nhóm doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu cùng

hành động nhằm gây hạn chế cạnh tranh và thuộc một trong các trường hợp sau

đây:

a) Hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên

quan;

b) Ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên

quan;

c) Bốn doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên trên thị trường liên

quan.”

Điều 13 Luật Cạnh Tranh 2004[7] quy định cá hành vi lạm dụng vị trí thống

lĩnh thị trường bị cấm đối với các doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp:



21



“1. Bán hàng hố, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối

thủ cạnh tranh;

2. Áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán

lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng;

3. Hạn chế sản xuất, phân phối hàng hoá, dịch vụ, giới hạn thị trường, cản trở

sự phát triển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng;

4. Áp đặt điều kiện thương mại khác nhau trong giao dịch như nhau nhằm tạo

bất bình đẳng trong cạnh tranh;

5. Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua, bán hàng

hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không

liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng;

6. Ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới.”

- Vị trí độc quyền: Khi doanh nghiệp tham gia cung cấp hàng hóa, dịch vụ

mà khơng có đối thủ cạnh tranh trên thị trường liên quan thì doanh nghiệp đó được

coi là có vị trí độc quyền.

Điều 14 Luật Cạnh tranh 2004[7], quy định các hành vi lạm dụng vị trí độc

quyền bị cấm đối với cách doanh nghiệp đó là:

“1. Các hành vi quy định tại Điều 13 của Luật này;

2. Áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng;

3. Lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc huỷ bỏ hợp đồng

đã giao kết mà khơng có lý do chính đáng.”

 Tập trung kinh tế: Là hình thức liên kết các hoạt động kinh doanh giữa hai

hay nhiều doanh nghiệp nhằm thực hiện những mục tiêu cạnh tranh nhất định.

Thực chất của tập trung kinh tế là việc hình thành những liên minh, tập đồn kinh

tế nhằm khai thác những lợi thế kinh tế, qua đó chi phối các vấn đề như: thị

trường, số lượng, giá cả, chất lượng hàng hóa, dịch vụ. Mục đích của việc kiểm

sốt hành vi tập trung kinh tế không phải để ngăn cấm hành vi ngày, cũng khơng

phải khuyến khích nó, mà nhằm ngăn chặn nhưng hậu quả làm ảnh hưởng tiêu

cực đến tình hình cạnh tranh do hành vi tập trung kinh tế có nguy cơ gây ra cho thị



22



trường. Những tiêu chí để đánh giá các vụ tập trung kinh tế bị cấm là thị phần,

tổng doanh thu hàng năm, số lượng nhân viên, quy mô kinh doanh.

Điều 16 Luật Cạnh Tranh[7] quy định: “ Tập trung kinh tế là hành vi của

doanh nghiệp bao gồm:

1. Sáp nhập doanh nghiệp;

2. Hợp nhất doanh nghiệp;

3. Mua lại doanh nghiệp;

4. Liên doanh giữa các doanh nghiệp;

5. Các hành vi tập chung kinh tế theo quy định của pháp luật;”

Mục tiêu của doanh nghiệp này là ngăn cản việc tích tụ, tập trung của các

doanh nghiệp trên thị trường dẫn đến hậu quả là tạo ra một doanh nghiệp khống

chế được thị trường. Việc ngăn cản hình thành các doanh nghiệp khống chế được

thị trường sẽ giúp duy trì được mơi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh, có lợi

ích cho người tiêu dùng. Tuy nhiên, quy định về quy mơ tích tụ ohair đảm bảo

khơng ngăn cản việc hình thành những cơng ty lớn có khả năng cạnh tranh trên thị

trường thế giới, cho nên chỉ cấm tập trung kinh tế neeys thị phần kết hợp của các

doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên quan,

trừ một số trường hợp được miễn trừ như khi tập trung kinh tế trong khi doanh

nghiệp có nguy cơ giải thể hoặc lâm vào tình trạng phá sản hay việc tập trung kinh

tế có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ

kỹ thuật, công nghệ.

Trên đây là một số nội dung cơ bản về hạn chế cạnh tranh trên thị trường

được áp dụng cho tất cả các lĩnh vực kinh tế, kể cả lĩnh vực thuộc chuyên nghành

hẹp, do đó còn có những nội dung chỉ mang tính chất tổng quát và cũng chưa bao

quát được tất cả các trường hợp về vi phạm hạn chế cạnh tranh. Để đạt được điều

đó, cần phải có những văn bản dưới luật như các Nghị định, thông tư,.. của các

Bộ, Ngành có liên quan hướng dẫn và giải thích cụ thể hơn nữa thì Luật Cạnh

Tranh mới có thể thực thi được một cách hiệu quả.



23



I.4.3. Chống hạn chế cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng

Khi xét riêng về lĩnh vực đấu thầu, những hành vi hạn chế cạnh tranh được

quy định rất rõ ràng và cụ thể trong:

- Luật Đấu Thầu

- Nghị định số 111/2006/NĐ - CP ngày 29 tháng 9 năm 2006 hướng dẫn thi

hành Luật Đấu Thầu.

- Nghị định 88/1999/NĐ – CP ngày 1 tháng 9 năm 1999 của Chính Phủ về

quy chế đấu thầu.

- Nghị định 14/2000/NĐ – CP ngày 5 tháng 5 năm 2000 của Chính Phủ về

việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế đấu thầu ban hành kèm theo

Nghị định số 88/CP

-



Nghị định số 58/2008/NĐ-CP ngày 5 tháng 5 năm 2008 của Chính

Phủ hướng dẫn thi hành Luật Ðấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng

theo Luật Xây dựng. Việc lựa chọn nhà thầu đối với các gói thầu thuộc dự

án sử dụng vốn ODA thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật Đấu

thầu.



- Văn bản Số 1235/BKH-QLĐT Hướng dẫn lập danh mục dự án cần chỉ định

thầu theo văn bản số 229/TTg-KTN ngày 16/02/2009.

- Quyết định 419/2008/QĐ-BKH Ban hành Mẫu báo cáo thẩm định Kết quả

đấu thầu ngày 7 tháng 4 năm 2008.

- Quyết định 49/2007/QĐ-TTg Quy định các trường hợp đặc biệt được chỉ

định thầu ngày 11 tháng 4 năm 2008

- Quyết định 731/2008/QĐ-BKH Ban hành Mẫu hồ sơ mời thầu xây lắp ngày

10 tháng 6 năm 2008

Trong đấu thầu xây dựng, khái niệm “thông đồng” chỉ những hành vi cấu kết

giữa chủ đầu tư và nhà thầu, giữa chủ đầu tư với nhau, giữa nhà tư vấn và nhà

thầu, … Hành vi “thông đồng” làm giảm tính cạnh tranh trong đấu thầu nói chung

và đấu thầu xây dựng nói riêng. Do có “thơng đồng” mà cơng tác đấu thầu chỉ còn

mang hình thức, gây thiệt hại cho ngân sách Nhà Nước, tâm lý chán nản cho nhà

thầu chân chính. Luật Cạnh Tranh quy định trong Khoản 8 Điều 8 cụ thể về hành

24



vi “thông đồng” - hạn chế cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng: “Thông đồng để

một hoặc các bên của thỏa thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hóa, cung

ứng dịch vụ”.

Rõ ràng những quy định về đấu thầu nói chung và đấu thầu xây dựng nói

riêng đã được Nhà Nước ban hành và sửa đổi, bổ sung nhiều lần để ngày càng gắn

liền với thực tiễn cuộc sống. Tuy nhiên, trong những năm qua, cơng tác đấu thầu

vẫn còn mang tính hình thức nhiều, chưa đem lại hiệu quả cao, kìm nén sự cạnh

tranh lành mạnh của các nhà thầu.



25



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

I.3 Mục đích của đấu thầu xây dựng và vai trò của pháp luật về đấu thầu xây dựng ở Việt Nam.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×