Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
V. Kết cấu của khóa luận

V. Kết cấu của khóa luận

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chơng i. những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật chống

hạn chế cạnh tranh trong đấu thầu xây dùng



I.1. Khái quát về cạnh tranh

I.1.1 Khái niệm về cạnh tranh

Cạnh tranh khơng còn là khái niệm xa lạ, dưới giác độ quy luật kinh tế, cạnh

tranh xuất hiện như một hiện tượng xã hội trong nền kinh tế thị trường.

Kinh tế thị trường là một trong những thành tựu lớn của lịch sử văn minh

nhân loại. Khơng có cạnh tranh, thì nền kinh tế thị trường khơng thể phát triển

toàn diện. Như ta đã biết, cùng với sự phát triển chậm chạp của xã hội, nền kinh tế

tập trung hóa triệt tiêu động lực phát triển kinh tế, kìm hãm khả năng sáng tạo,

năng động của con người. Cạnh tranh chính là động lực để nền kinh tế phát triển.

Về mặt thuật ngữ, cạnh tranh, dưới góc độ kinh tế được hiểu là sự tranh đua

giữa các doanh nghiệp kinh doanh cùng loại hàng hóa hoặc hàng hóa có thể thay

thế nhau trên một thị trường xác định với mục đích thu hút khách hàng về phía

mình. Các quốc gia đều rất quan tâm nghiên cứu về cạnh tranh, do vậy dưới góc

độ pháp lý, cạnh tranh có nhiều khái niệm khác nhau.

Trong từ điển tiếng Việt



[20]



, cạnh tranh được giải thích theo nghĩa kinh tế,



triết học: “Cạnh tranh là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng

hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế nhằm giành các

điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất”.

Theo từ điển kinh doanh xuất bản tại Anh năm 1992



[21]



thì: “Cạnh tranh là



sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên cùng một thị trường

nhằm tranh đua giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại

khách hàng về phía mình”

Như vậy, dù cạnh tranh được nghiên cứu, đề cập ở góc độ nào thì các yếu tố

cạnh tranh luôn bao gồm: 1. khách hàng; 2. Các bên tham gia cạnh tranh; 3. Mơi

trường pháp lý, chính trị thuận lợi; 4. Thị trường liên quan được xác định thông

qua thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan.



5



Tóm lại, khi nói đến cạnh tranh, ta có thể hiểu đó là những hành vi mà để đạt

được những lợi ích nhất định khi tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh trong

nền kinh tế thị trường, các chủ thể phải thường xuyên thực hiện.

Quy luật cạnh tranh giống quy luật sinh tồn và đào thải tự nhiên, nó có thể

gây thiệt hại cho người này bằng cách loại bỏ hoàn toàn sự tồn tại trên thị trường

nhưng cũng duy trì và phát triển đưa lại lợi ích cho những thành viên khác trên thị

trường, tạo ra những hiệu quả to lớn cho nền kinh tế. Nhờ có cạnh tranh mà các

đối thủ trên thị trường buộc phải tự tìm cho mình điều kiện tốt nhất, chiến lược

cạnh tranh phù hợp nhất để giành được vị trí cao nhất.

Cạnh tranh lành mạnh của các đối thủ cạnh tranh mang lại lợi ích cao cho

tồn xã hội, tuy nhiên, bên cạnh các phương thức tích cực vẫn tồn tại các biện

pháp cạnh tranh tiêu cực, không lành mạnh làm ảnh hưởng xấu đến đối thủ, và có

thể ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế. Vì vậy, những hành vi cạnh tranh

khơng lành mạnh này cần được ngăn cấm và loại bỏ.

I.1.2. Đặc trưng của cạnh tranh:

Bất kỳ khái niệm nào cũng tồn tại song song hai mặt tích cực và tiêu cực, do

vậy khi nghiên cứu cạnh tranh cần chỉ rõ hai mặt của nó, từ đó tìm ra những giải

pháp phù hợp nhằm phát triển mặt tích cực, đồng thời hạn chế, triệt tiêu những

yếu tố tiêu cực.

Ta đã biết, khơng có cạnh tranh, thì nền kinh tế sẽ trở nên chậm phát triển bởi

tính năng động và sáng tạo sẽ khơng được sử dụng. Cạnh tranh là động lực phát

triển nền kinh tế mang lại lợi ích cho người tiêu dùng và cho xã hội. Cạnh tranh

xuất hiện như một quy luật tất yếu của nền cơ thế thị trường, mang lại nền kinh tế

năng động, không ngừng tăng trưởng.

Khi xem xét các hoạt động cạnh tranh của các doanh nghiệp, mặt tiêu cực

của cạnh tranh cũng trở nên rõ ràng. Các doanh nghiệp lớn thường chiếm vị thế áp

đảo trong các cuộc cạnh tranh, khẳng định được rõ nét vị trí của mình. Còn lại, các

doanh nghiệp chưa đủ năng lực cạnh tranh thường gặp phải thất bại khi tham gia



6



vào luồng quay kinh tế. Cần phải điều chỉnh cạnh tranh, để các doanh nghiệp vừa

và nhỏ có thể tồn tại, không bị “nuốt chửng” bởi các doanh nghiệp lớn.



I.2. Khái quát về đấu thầu:

I.2.1. Khái niệm về đấu thầu

Đấu thầu là khái niệm được sử dụng rộng rãi và phổ biến trên toàn thế giới.

Trong nền kinh tế thị trường, người bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ ln phải

cạnh tranh với nhau để nhận được các hợp đồng. Về phía người tiêu dùng, họ ln

có nhu cầu nhận được hàng hóa, dịch vụ tốt nhất với giá thành hợp lý. Chính vì

vậy, những người có thường tổ chức chọn lựa những người có khả năng cung ứng

cho họ những dịch vụ tốt nhất, tạo ra sự bình đẳng cho các nhà cung ứng dịch vụ

hàng hóa, đồng thời có cơ hội cạnh tranh lành mạnh với nhau để nhận được hợp

đồng cung ứng. Việc người tiêu dùng tìm nhà cung ứng dịch vụ theo cách trên gọi

là đấu thầu. Trong các cuộc đấu thầu, nhà thầu nào đáp ứng được nhu cầu của

người mời thầu với chi phí thấp nhất, sẽ được chấp nhận trao hợp đồng. Đấu thầu

ngày càng được phổ biến, do đó các quy định về đấu thầu dần dần được pháp điển

hóa., ghi nhận trong quy định của luật quốc tế và luật quốc gia.

Theo điều 2 Luật mẫu của Uncitral



[1]



: “ Đấu thầu là tiến hành mua sắm



hàng hóa, xây dựng và dịch vụ theo một cách nào đó”.

Theo từ điển tiếng Anh của trường đại học Oxford



[22]



: “Đấu thầu là việc đưa



ra một đề nghị thực hiện một công việc hoặc để cung cấp hàng hóa với một giá đã

định và là việc tuyên bố lựa chọn một trong những giá đã chào để thực hiện việc

cung cấp hàng hóa hay dịch vụ”.

Theo đại từ điển Tiếng Việt [20]: “Đấu thầu là một phương thức giao dịch đặc

biệt trong mua sắm hàng hóa và cơng trình xây dựng, trong đó người mua cơng

bố trước các điều kiện về hàng hóa, cơng trình xây dựng, người bán sẽ công bố

giá để người mua lựa chọn”.

Khái niệm đấu thầu lần đầu tiên được nhắc đến ở Việt Nam trong Khoản 1

Điều 1 Quy chế đấu thầu ban hành kèm theo Nghị Định số 43/CP ngày 16 tháng



7



07 năm 1996 : “Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng được các yêu

cầu của bên mời thầu”. [2]

Theo Khoản 2 Điều 3 dự thảo pháp lệnh Đấu thầu: “ Đấu thầu là quá trình

lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu theo hình thức lựa chọn được quy định

trong pháp lệnh này”. [23]

Theo Khoản 2 Điều 4 Luật Đấu thầu[3] được Quốc hội thơng qua ngày

29/11/2005: “Đấu thầu là q trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của

bên mời thầu để thực hiện gói thầu thuộc các dự án quy định tại Điều 1 của Luật

Đấu Thầu:

1. Dự án sử dụng vốn nhà nước từ 30% trở lên cho mục tiêu đầu tư phát

triển, bao gồm:

a) Dự án đầu tư xây dựng mới, nâng cấp mở rộng các dự án đã đầu tư xây

dựng;

b) Dự án đầu tư để mua sắm tài sản kể cả thiết bị, máy móc khơng cần lắp

đặt;

c) Dự án quy hoạch phát triển vùng, quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch

xây dựng đô thị, nông thôn;

d) Dự án nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, hỗ trợ kỹ thuật;đ) Các

dự án khác cho mục tiêu đầu tư phát triển;

2. Dự án sử dụng vốn nhà nước để mua sắm tài sản nhằm duy trì hoạt động

thường xuyên của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội,

tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề

nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân;

3. Dự án sử dụng vốn nhà nước để mua sắm tài sản nhằm phục vụ việc cải

tạo, sửa chữa lớn các thiết bị, dây chuyền sản xuất, cơng trình, nhà xưởng đã đầu

tư của doanh nghiệp nhà nước.”

Các khái niệm trên nhìn chung khơng có sự khác biệt lớn giữa khái niệm hiện

nay về đấu thầu. Quan niệm về đấu thầu bao gồm các đặc trưng sau:

Thứ nhất, bên mời thầu là người, tổ chức đứng ra thực hiện việc đấu thầu.

Bên mời thầu có thể là chủ dự án, chủ đầu tư hoặc người đại diện hợp pháp của

8



chủ dự án, chủ đầu tư được giao trách nhiệm trực tiếp quản lý và thực hiện dự án.

Chủ đầu tư là người sở hữu vồn, người vay vốn hoặc người được giao trách nhiệm

trực tiếp quản lý và sử dụng vốn để thực hiện đầu tư. Các dự án bao gồm dự án

đầu tư và dự án khơng có tính chất đầu tư. Đối với các dự án đầu tư thì chủ dự án

là chủ đầu tư.

Thứ hai, mục đích của đấu thầu là lựa chọn nhà thầu, đó có thể là nhà tư vấn,

nhà xây dựng hay nhà cung ứng hàng hóa. Nhà thầu phải đáp ứng được những

nguyên tắc tối thiểu như: có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự

để ký kết thực hiện hợp đồng theo hợp đồng dân sự. Việc lựa chọn nhà thầu là một

trong bước bắt buộc trong quy trình đấu thầu. Quy trình đấu thầu được tổ chức

khác nhau phụ thuộc vào từng loại đấu thầu nhưng đây là bước quan trọng và bắt

buộc để lựa chọn nhà thầu. Quy trình đấu thầu được thiết lập để đảm bảo sự cạnh

tranh, công bằng, minh bạch giữa các nhà thầu.

Thứ ba, thông qua việc xem xét phân tích, xếp hạng các nhà thầu để chọn

lựa nhà thầu. Đây là công việc phụ thuộc vào mức độ đáo ứng các yêu cầu của

bên mời thầu. Thông qua việc đánh giá, xét thầu sẽ chọn được nhà thầu tối ưu, góp

phần nâng cao hiệu quả của việc sử dụng vốn đầu tư.

Thứ năm, đấu thầu là quan hệ pháp lý mà bên mời thầu, các nhà thầu, và một

số chủ thể liên quan khác có sự ràng buộc về quyền, nghĩa vụ pháp lý.

Như vậy đấu thầu có thể hiểu một cách khái quát là việc lựa chọn nhà thầu

đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu theo một cách thức nào đó.

I.2.2. Khái niệm đấu thầu xây dựng.

Đấu thầu xây dựng là hình thức đấu thầu nhằm lựa chọn nhà thầu thực hiện

các công việc xây dựng theo yêu cầu của bên mời thầu. Nhà thầu phải là nhà xây

dựng có đủ tư cách hợp lệ theo quy định của Điều 7, Điều 8 Luật Đấu Thầu [3],

ngoài ra nhà thầu xây dựng phải là tổ chức, cá nhân có đủ năng lực hoạt động xây

dựng, năng lực hành nghề xây dựng khi tham gia quan hệ hợp đồng trong hoạt

động xây dựng theo quy định Khoản 2 Điều 3 Luật Xây Dựng 2003 [4]. Nhà thầu



9



xây dựng có thể tham gia độc lập hoặc liên danh cùng các nhà thầu khác để dự

thầu.

Trong trường hợp liên danh, các thành viên tham gia phải có văn bản quy

định rõ ràng về trách nhiệm riêng và chung đối với cơng việc thuộc gói thầu, chỉ

ra người đứng đầu của liên danh.

I.2.3. Phân loại đấu thầu xây dựng

Đấu thầu xây dựng được chia thành nhiều loại khác nhau tùy thuộc vào tiêu

chí để phân loại. Dưới đây là một số cách phân loại đấu thầu xây dựng thường

được sử dụng.

 Theo hình thức lựa chọn nhà thầu

Dựa theo tiêu chí hình thức lựa chọn nhà thầu, đấu thầu xây dựng được chia

thành: Đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế, chỉ định thầu, mua sắm trực tiếp, tự

thực hiện, mua sắm đặc biệt.

- Đấu thầu rộng rãi: hình thức đấu thầu khơng hạn chế số lượng nhà thầu

tham gia. Bên mời thầu thông báo rộng rãi thông báo mời thầu trên các phương

tiện thông tin đại chúng để có sự tham gia của các nhà thầu. Bên cạnh đó, các yêu

cầu, điều kiện mời dự thầu có tích chất thu hẹp phạm vi các nhà thầu tham gia

cũng phải được giảm thiểu trong hồ sơ mời thầu. Đây là hình thức đấu thầu được

khuyến khích áp dụng trong các quy định đấu thầu quốc tế, ở các nước trên thế

giới, cũng như ở Việt Nam bởi nó áp dụng triệt để học thuyết bàn tay vơ hình của

Adam Smith trong cơ chế thị trường [13]. Để thu hút sự tham gia đông đảo của các

nhà thầu tại Điểm c Khoản 1 Điều 5 Luật Đấu Thầu [3] và Điểm b Khoản 4 Điều 7

Nghị định số 111/2006/ NĐ – CP ngày 29 tháng 9 năm 2006 [5] của Chính Phủ

hướng dẫn thi hành Luật Đấu Thầu quy định thời hạn cung cấp thông tin chậm

nhất là 15 ngày trước ngày phát hành hồ sơ mời thầu.

- Đấu thầu hạn chế: Bên mời thầu chỉ mời một số nhà thầu mà họ cho rằng

đáp ứng đủ các điều kiện tham gia dự thầu. Điều này làm giảm đi sự cạnh tranh

giữa các nhà thầu dẫn đến việc bên mời thầu có thể khơng lựa chọn được nhà thầu

tối ưu. Do đó, đấu thầu hạn chỉ được xem xét áp dụng khi có một trong những

10



điều kiện nhất định, Khoản 1 Điều 19 Luật Đấu Thầu [3] quy định các trường hợp

áp dụng đấu thầu hạn chế:

+ Theo yêu cầu của nhà tài trợ nước ngoài đối với nguồn vốn sử dụng cho

gói thầu;

+ Gói thầu có yêu cầu cao về kỹ thuật hoặc kỹ thuật có tính đặc thù; gói thầu

có tính chất nghiên cứu, thử nghiệm mà chỉ có một số nhà thầu có khả năng đáp

ứng yêu cầu của gói thầu.

Khi thực hiện đấu thầu hạn chế, chủ đầu tư phải mời ít nhất năm nhà thầu có

đủ năng lực và kinh nghiệm tham gia đấu thầu. Trong trường hợp có ít hơn năm

nhà thầu, chủ đầu tư phải trình người có thẩm quyền xem xét, quyết định xem xét

tiếp tục tổ chức đấu thầu hạn chế hoặc áp dụng hình thức lựa chọn khác.

- Chỉ định thầu: Đây là hình thức khơng tồn tại việc đánh giá thông qua sự

cạnh tranh giữa các nhà thầu bởi vậy nó khơng được khuyến khích áp dụng do làm

giảm hiệu quả kinh tế và có thể phát sinh tiêu cực. Khi thực hiện chỉ định thầu,

bên mời thầu trực tiếp lựa chọn nhà thầu đáp ứng yêu cầu của gói thầu để thương

thảo hợp đồng.

Khoản 1 Điều 20 luật Đấu Thầu[3] quy định hình thức chỉ định thầu được áp

dụng hết sức chặt chẽ trong các trường hợp sau:

+ Sự cố bất khả kháng do thiên tai, địch họa, sự cố cần khắc phục ngay thì

chủ đầu tư hoặc cơ quan chịu trách nhiệm quản lý cơng trình, tài sản đó được chỉ

định ngay nhà thầu để thực hiện; trong trường hợp này chủ đầu tư hoặc cơ quan

chịu trách nhiệm quản lý cơng trình, tài sản đó phải cùng với nhà thầu được chỉ

định tiến hành thủ tục chỉ định thầu theo quy định trong thời hạn không quá mười

lăm ngày kể từ ngày chỉ định thầu;

+ Gói thầu do yêu cầu của nhà tài trợ nước ngồi;+ Gói thầu thuộc dự án bí

mật quốc gia; dự án cấp bách vì lợi ích quốc gia, an ninh an tồn năng lượng do

Thủ tướng Chính phủ quyết định khi thấy cần thiết;

+ Gói thầu mua sắm các loại vật tư, thiết bị để phục hồi, duy tu, mở rộng

công suất của thiết bị, dây chuyền công nghệ sản xuất mà trước đó đã được mua từ



11



một nhà thầu cung cấp và không thể mua từ các nhà thầu cung cấp khác do phải

bảo đảm tính tương thích của thiết bị, cơng nghệ;

+ Gói thầu dịch vụ tư vấn có giá gói thầu dưới năm trăm triệu đồng, gói thầu

mua sắm hàng hóa, xây lắp có giá gói thầu dưới một tỷ đồng thuộc dự án đầu tư

phát triển; gói thầu mua sắm hàng hóa có giá gói thầu dưới một trăm triệu đồng

thuộc dự án hoặc dự toán mua sắm thường xuyên; trường hợp thấy cần thiết thì tổ

chức đấu thầu.

- Mua sắm trực tiếp: Là việc chỉ định thầu trực tiếp đối với người đã hoặc

đang thực hiện hợp đồng mà chủ đầu tư có nhu cầu tăng thêm khối lượng cơng

việc mà trước đó đã được đấu thầu. Đây là hình thức mua sắm đặc biệt, bởi ngoài

việc phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện của trường hợp chỉ định thầu, còn phải

thỏa mãn điều kiện đơn giá không vượt mức đơn giá trong hợp đồng đã ký trước

đó, đồng thời nhà thầu phải chứng minh có đủ năng lực thực hiện gói thầu.

- Tự thực hiện: Hình thức này là việc chủ đầu tư tự đứng ra thực hiện gói

thầu mà khơng cần lựa chọn nhà thầu khác. “Tự thực hiện” được áp dụng đối với

gói thầu mà chủ đầu tư có đủ năng lực thực hiện trên cơ sở tuân thủ đầy đủ các

điều kiện như trường hợp chỉ định thầu. Để tránh thực hiện tùy tiện, các điều kiện

“tự thực hiện” được quy định chặt chẽ tại Khoản 6 Điều 4 Nghị Định số

88/1998/NĐ-CP ngày 01 tháng 09 năm 1999 và điều 23 Luật Đấu Thầu[6].

- Lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt: Hình thức này được áp dụng

nếu gói thầu đưa ra có đặc thù riêng biệt khơng thể áp dụng các hình thức chọn lựa

nhà thầu quy định tại các điều từ Điều 18 đến Điều 23 của Luật Đấu Thầu [3]. Chủ

đầu tư phải đưa ra phương án lựa chọn nhà thầu, đảm bảo mục tiêu cạnh tranh và

hiệu quả kinh tế trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.

Trong các hình thức đấu thầu nói trên, chỉ có hai hình thức mang tính cạnh

tranh, đó là đấu thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế. Hình thức đấu thầu rộng rãi thế

hiện tính cạnh tranh tối đa, tất cả các nhà thầu đều bình đẳng tham gia cạnh tranh

để giành hợp đồng. Mặc dù chỉ bó hẹp trong phạm vi một số nhà thầu nhưng hình

thức đấu thầu hạn chế vẫn thể hiện tính cạnh tranh, đây là sự cạnh tranh có giới

hạn trong phạm vi một số nhà thầu được lựa chọn. Các hình thức còn lại là hình

12



thức đấu thầu phái sinh và nó đều mang tính chất của chỉ định thầu, thức là việc

lựa chọn nhà thầu không dựa trên cơ sở của sự cạnh tranh giữa các nhà thầu.

 Theo phương thức tiến hành đấu thầu

Đấu thầu xây dựng được chia thành các phương thức tiến hành đấu thầu như:

Đấu thầu thành một túi hồ sơ, đấu thầu hai giai đoạn.

- Đấu thầu thành một túi hồ sơ: Được áp dụng đối với hình thức đấu thầu

rộng rãi và đấu thầu hạn chế cho gói thầu mua bán hàng hóa, xây lắp và gói thầu

EPC. Nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu gồm để xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài chính

theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu. Việc mở thầu chỉ được tiến hành một lần. Các

hình thức đấu thầu nói chung bao gồm đấu thầu hai giai đoạn và đấu thầu một giai

đoạn. Trong đấu thầu một giai đoạn lại chia ra thành đấu thầu một tùi hồ sơ và đấu

thầu hai túi hồ sơ. Theo pháp luật Việt Nam hiện nay, đấu thầu xây dựng một giai

đoạn chỉ có phương thức một túi hồ sơ, còn phương thức hai túi hồ sơ chỉ được áp

dụng cho đấu thầu tuyển chọn tư vấn. Điều này được quy định tại Điều 5 Nghị

Định 88/1999/NĐ-CP[6] và Khoản 1 và Khoản 2 Điều 26 Luật Đấu Thầu[3].

- Đấu thầu hai giai đoạn: Cũng được áp dụng đối với hình thức đấu thầu rộng

rãi và đấu thầu hạn chế cho gói thầu mua bán hàng hóa, xây lắp và gói thầu EPC

nhưng có u cầu kỹ thuật, cơng nghệ mới, phức tạp và đa dạng. Phương thức đấu

thầu này được chia làm hai giai đoạn. Trong đó, giai đoạn một, các nhà thầu phải

nộp đề xuất kỹ thuật, phương án tài chính nhưng chưa có giá dự thầu để bên mời

thầu xem xét và thảo luận với từng nhà thầu để thống nhất về yêu cầu và tiêu

chuẩn kỹ thuật, nhờ đó nhà thầu có thể chủ động chuẩn bị và nộp hồ sơ dự thầu

chính thức của mình. Ở giai đoạn hai, các nhà thầu đã tham gia giai đoạn một

được mời nộp hồ sơ dự thầu giai đoạn hai, bao gồm đề xuất về kỹ thuật, đề xuất về

tài chính trong đó có giá dự thầu, biện pháp bảo đảm dự thầu.

Theo pháp luật Việt Nam, phương thức đấu thầu hai giai đoạn chỉ được áp

dụng đối với các gói thầu xây dựng có giá trị từ 500 tỷ đồng trở lên, hoặc gói thầu

xây dựng đặc biệt phức tạp, hoặc các dự án thực hiện theo hợp đồng chìa khóa

trao tay.

 Theo quốc tịch của các nhà thầu

13



Theo xu hướng hội nhập quốc tế hiện nay, các gói thầu xây dựng cũng được

chia thành đấu thầu trong nước và đấu thầu quốc tế.

-Theo Khoản 2, Khoản 3, Điều 3 Nghị định 88/ 1999/ NĐ-CP: “Đấu thầu

trong nước chỉ có nhà thầu trong nước tham dự” còn “Đấu thầu quốc tế là cuộc

đấu thầu có các nhà thầu trong nước và ngoài nước tham gia”. [6]

-Theo Khoản 5, Khoản 6 Điều 4 Luật Đấu Thầu: “Đấu thầu trong nước là

quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu với sự tham

gia của các nhà thầu trong nước” còn “ Đấu thầu quốc tế là quá trình lựa chọn

nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu với sự tham gia của các nhà thầu

nước ngoài và nhà thầu trong nước”. [3]



I.3 Mục đích của đấu thầu xây dựng và vai trò của pháp luật về đấu thầu

xây dựng ở Việt Nam.

I.3.1. Mục đích của đấu thầu xây dựng

 Đảm bảo tính cạnh tranh: Qua tổ chức đấu thầu xây dựng, đòi hỏi các nhà

thầu phải phát huy hết khả năng của mình về vốn, trình độ khoa học kỹ

thuật, cơng nghệ và tiềm năng sẵn có.

 Đảm bảo tính cơng bằng: Đấu thầu xây dựng tạo ra được một cơ sở hợp lý

để các nhà thầu có điều kiện bình đẳng với nhau. Trừ phương thức chỉ định

thầu, các nhà thầu có đủ điều kiện theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu đều có

thể tham gia, khơng phân biệt các thành phần kinh tế hoặc loại hình doanh

nghiệp.

 Đảm bảo tính minh bạch: Đấu thầu xây dựng được tiến hành công khai thể

hiện trong suốt quá trình từ mời thầu đến việc mở và xét chọn nhà thầu, ký

kết hợp đồng đều có sự kiểm tra, đánh giá của cấp có thẩm quyền theo quy

định của quy chế đấu thầu. Tránh được sự thiên vị, cảm tình, đặc quyền đặc

lợi hoặc móc ngoặc riêng với nhau.



14



 Đảm bảo sự quản lý của Nhà Nước: Thông qua đấu thầu, Nhà Nước quản lý

các dự án xây dựng, và qua đó chọn lụa được nhà thầu đáp ứng được yêu

cầu xây dựng, tiến độ cơng trình.

I.3.2. Vai trò của pháp luật về đấu thầu xây dựng ở Việt Nam.

Hoạt động xây dựng luôn gắn liền những nguồn vốn đầu tư lớn của Nhà

Nước. Xây dựng là một quá trình liên tục, phát triển cùng với sự tồn tại của đời

sống xã hội. Vấn đề đặt ra là phải quản lý chặt chẽ hoạt động xây dựng tránh sự

thất thoát trong việc sử dụng ngân sách, xây dựng các cơng trình kém chất lượng.

Ngày nay, pháp luật điều chỉnh đối với hoạt động xây dựng được thể hiện trên các

góc độ: lâp quy hoạch xây dựng, lập dự án xây dựng cơng trình, khảo sát, thiết kế,

thi công, giám sát thi công, quản lý dự án đầu tư xây dựng, lựa chọn nhà thầu

trong hoạt động xây dựng. Ta có thể thấy, vai trò của pháp luật được thể hiện trong

một số khía cạnh sau:

 Nâng cao hiệu quả của việc sử dụng vốn đầu tư xây dựng, góp phần thúc

đẩy xã hội phát triển. Chủ đầu tư sẽ có nhiều cơ hội để lựa chọn các dịch vụ

thi cơng xây lắp có chất lượng với giá thành hợp lý nhất thông qua đấu thầu.

Sự cạnh tranh của các nhà thầu chính là cơ sở để chủ đầu tư chọn được nhà

thầu tối ưu. Mỗi nhà thầu muốn trúng được hợp đồng cần phải cung ứng

được các điều kiện về kỹ thuật, chất lượng cao nhất với giá bỏ thầu thấp,

đồng thời vẫn thu được lợi nhuận nếu ký kết và thực hiện công trình. Để đạt

được điều này, các nhà thầu phải khơng ngừng cải tiến quy trình cơng nghệ

nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm đem lại lợi ích kinh tế cho bên tham

gia, thúc đẩy xã hội phát triển

 Nhờ có phát luật về đấu thầu xây dựng, các nhà thầu có mơi trường cạnh

tranh bình đẳng, cơng khai, minh bạch. Khi tham gia đấu thầu, các nhà thầu

có quyền lợi và địa vị ngang nhau, cùng cạnh tranh một cách rõ ràng, không

giấu giếm.

 Được pháp luật điều chỉnh việc lựa chọn nhà thầu trở nên có trật tự hơn.

Bên cạnh đó, các cơ quan, tổ chức được hướng dẫn về cách thức tổ chức

15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

V. Kết cấu của khóa luận

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×