Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG I: VAI TRÒ CỦA VỐN ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH CNH, HĐH GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM

CHƯƠNG I: VAI TRÒ CỦA VỐN ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH CNH, HĐH GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 0trang

tục khẳng định: “Đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước gắn với phát triển KTTT...”. Điều

đó thể hiện sự nhất quán, tầm nhìn xa và tính nhạy bén của Đảng ta về vấn đề này.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung và

phát triển 2011) xác định: “Từ nay đến giữa thế kỷ XXI, toàn Đảng, toàn dân ta

phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại,

theo định hướng XHCN”. Để thực hiện thành công mục tiêu trên, Cương lĩnh cũng

chỉ rõ: toàn Đảng, toàn dân ta cần nêu cao tinh thần cách mạng tiến công, ý chí tự

lực, tự cường, phát huy mọi tiềm năng và trí tuệ, tận dụng thời cơ, vượt qua thách

thức, quán triệt và thực hiện tốt tám phương hướng cơ bản; trong đó, “Đẩy mạnh

CNH, HĐH đất nước gắn với phát triển KTTT, bảo vệ tài nguyên, môi trường” là

phương hướng cơ bản đầu tiên. Đây không chỉ là sự tiếp tục đường lối và chiến

lược CNH, HĐH đã được xác định ở các kỳ đại hợi trước, mà còn thể hiện sự nhạy

bén và phát triển sáng tạo của Đảng ta trong việc nhận thức và vận dụng học thuyết

kinh tế Mác – Lê-nin vào điều kiện cụ thể của đất nước trong thời kỳ mới.

Quá trình CNH, HĐH đòi hỏi phải có đợi ngũ trí thức để có thể nhanh chóng

nắm bắt và ứng dụng các cơng nghệ mới vào trong sản xuất, quản lý. Đồng thời sự

phát triển của CNH, HĐH cũng tạo điều kiện cho sự phát triển của giáo dục, đào

tạo, điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế tri thức. Quá trình CNH, HĐH ở nước ta

phải nắm bắt các tri thức và công nghệ mới nhất của thời đại để HĐH nông nghiệp

và các ngành kinh tế hiện có, đồng thời phát triển nhanh các ngành công nghiệp và

dịch vụ dựa vào tri thức, vào khoa học và công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế

theo hướng tăng nhanh các ngành kinh tế tri thức.

Đảng ta xác định: CNH, HĐH ở nước ta phải dựa vào tri thức, theo con

đường đi tắt, rút ngắn. CNH, HĐH phải thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ: chuyển

từ nền kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp và từ một nền kinh tế công

nghiệp sang KTTT. Từ mợt trình đợ thấp về kinh tế và kỹ thuật, muốn đi nhanh và

phát triển theo hướng hiện đại cần kết hợp phát triển tuần tự với phát triển nhảy

4



vọt. Mạnh dạn đi ngay vào phát triển KTTT thì chúng ta mới có khả năng thay đổi

phương thức và đẩy nhanh tốc độ CNH, HĐH, thực hiện được các mục tiêu phát

triển kinh tế - xã hội mà Đảng ta đã đề ra.

Do vậy, chú trọng đầu tư vớn cho q trình CNH, HĐH gắn với phát triển

KTTT là con đường vừa có thể đảm bảo cho sự phát triển bền vững do nó khơng

dựa chủ yếu vào việc khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên, vừa có thể đảm

bảo cho sự phát triển nhanh vì nó tạo ra sự bùng nổ về thông tin và sức sáng tạo của

nguồn nhân lực.

2. Vai trò của vốn đầu tư đối với quá trình CNH, HĐH gắn với phát

triển kinh tế tri thức

2.1. Một số lý luận cơ bản về vốn

Trong cuộc đua tranh phát triển kinh tế hiện nay vấn đề tăng trưởng nhanh và

bền vững đang đặt ra gay gắt đối với tất cả cá quốc gia. Đới với những nước đi sau,

có điểm xuất phát thấp về kinh tế thì u cầu về vớn cho tăng trưởng và phát triển

kinh tế càng trở nên cấp thiết, hoặc là đuổi kịp và vượt lên trước, hoặc là tụt lại phía

sau và ngày càng xa rời các cơ hợi phát triển. Vớn có thể được chia thành hai loại là

vốn đầu tư và vốn sản xuất.

2.1.1. Vốn đầu tư

Thông qua vốn đầu tư các chủ thể kinh tế có thể có được những tài sản vật

chất mà mình mong muốn để phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh của mình

hay phục vụ mợt vài nhu cầu khác. Qua đó vớn đầu tư được chia làm hai loại là vốn

đầu tư sản xuất và vốn đầu tư phi sản xuất. Vốn đầu tư sản xuất là những khoản chi

phí nhằm duy trì hoặc gia tăng mức vớn sản xuất. Trong đó vớn đầu tư sản xuất lại

được chia thành hai loại là vốn đầu tư vào tài sản cố định (TSCĐ) và vốn đầu tư

vào tài sản lưu đợng. Đến lượt mình, vớn đầu tư vào TSCĐ lại được chia thành hai

loại vốn đầu tư cơ bản và vốn đầu tư sửa chữa lớn. Vốn đầu tư cơ bản làm tăng

khối lượng thực thể của tài sản cố định, bảo đảm bù đắp số tài sản cố định bị hao

5



mòn và tăng thêm phần xây lắp dở dang.. còn vớn sửa chữa lớn khơng làm tăng

khới lượng thực thể của tài sản. Tuy vậy nó có vai trò quan trọng là nhằm bảo đảm

thay thế tài sản bị hư hỏng.

Các hoạt động đầu tư được chia thành hai hình thức là đầu tư trực tiếp và đầu

tư gián tiếp:

Đầu tư trực tiếp là hoạt động của những người có vớn tham gia trực tiếp vào

q trình hoạt đợng và tổ chức quản lý đầu tư. Họ có thể tham gia và biết được mục

đích và hoạt đợng của số vốn mà họ bỏ ra. Hoạt động đầu tư này có thể thực hiện

dưới dạng các hợp đồng liên doanh, công ty cổ phần, công ty TNHH...

Đầu tư gián tiếp là hình thức chủ thể của các nguồn vớn có thể tham gia vào

các hoạt đợng kinh tế nhằm mang lại hiệu quả cho mình cũng như xã hội, tuy nhiên

họ không trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý và sử dụng nguồn vớn mà họ bỏ

ra. Các hình thức đầu tư gián tiếp như: cổ phiếu, tín phiếu, trái phiếu chính phủ

hoặc trái phiếu cơng ty... hoạt đợng đầu tư gián tiếp thường có đợ rủi ro thấp hơn

đầu tư trực tiếp.

Vốn đầu tư được hình thành trên cơ sở là tiết kiệm trong nước và tiết kiệm

nước ngoài. Tiết kiệm trong nước bao gồm các khoản như: tiết kiệm trong dân cư

(hợ gia đình), tiết kiệm của các doanh nghiệp quốc doanh và doanh nghiệp ngồi

q́c doanh, tiết kiệm của chính phủ. Còn tiết kiệm nước ngoài bao gồm đầu tư trực

tiếp nước ngoài, đầu tư gián tiếp từ nước ngoài, các nguồn viên trợ chính thức và

khơng chính thức...

2.1.2. Vốn sản xuất

Vớn sản xuất là tồn bợ giá trị của các tài sản được sử dụng làm phương tiện

trực tiếp cho các hoạt đợng kinh tế. Vớn sản xuất có thể chia thành hai loại là vốn

cố định và vốn lưu động.

Vốn cố định là giá trị của các TSCĐ như: nhà xưởng, nhà kinh doanh, thiết

bị máy móc, phương tiện vận tải, hệ thống cơ sở hạ tầng của quốc gia.

6



Vốn lưu kho là tồn bợ giá trị của các loại hàng hóa là thành phẩm, bán

thành phẩm mà chưa tiêu thụ, giá trị các thiết bị chưa được lắp đặt, các ngun vật

liệu chưa sử dụng.

Tuy nhiên dưới góc đợ vĩ mô khi nghiên cứu vốn sản xuất chúng ta cần chú ý

một số vấn đề như: cần phải quan tâm đến quy mô và cơ cấu hiện vật của vốn, quy

mô vốn tăng thêm (phản ánh khả năng và mức đợ tích lũy tài sản) và phần vớn, tài

sản có liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh tế (vốn cớ định).

Về mặt bản chất thì vớn sản xuất khơng phải là tiền mà nó là tồn bợ giá trị

tài sản được hình thành từ vớn đầu tư, thơng qua hoạt động đầu tư các tài sản vật

chất được tạo ra và vớn sản xuất được hình thành. Vì vậy ḿn tăng vớn sản xuất

thì trước tiên cần phải có những biện pháp nhằm làm tăng khối lượng vốn đầu tư.

2.2. Vai trò của vốn đầu tư đối với quá trình CNH, HĐH gắn với phát

triển kinh tế tri thức

Với các nước đang phát triển trong điều kiện nền kinh tế còn kém phát triển,

nguồn vớn còn hạn hẹp, khoa học kỹ thuật phát triển chưa cao, đặc biệt đối với quá

trình CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức thì vai trò của chính phủ trong

việc huy động và sử dụng các nguồn vốn trong nền kinh tế là vơ cùng quan trọng.

Nếu chính phủ có thể huy động tối đa các nguồn lực trong nước để đưa vào đầu tư

phát triển thì sẽ làm cho khới lượng vốn đầu tư trong nền kinh tế tăng lên. Khi khối

lượng vốn đầu tư tăng lên sẽ tác động đến cung đầu tư tăng lên qua đó tác đợng đến

nhu cầu mua sắm trang thiết bị sản xuất, mua các loại nguyên vật liệu để mở rộng

quy mô sản xuất. Khi đó cầu về lao đợng sẽ tăng lên do việc mở rợng quy mơ sản

xuất. Vì vậy vấn đề giải quyết việc làm cũng được giải quyết khi các doanh nghiệp

có vớn sẽ tiếp tục đầu tư để mua sắm hoặc đầu tư nghiên cứu công nghệ mới thay

thế những công nghệ cũ đã lỗi thời lạc hậu nhằm nâng cao năng suất lao động và

đáp ứng được các nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng. Qua đó năng lực sản



7



xuất của nền kinh tế cũng được cải thiện. Tất cả những điều đó sẽ giúp tăng sản

lượng của nền kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Vốn đầu tư của các cơ sở kinh tế tḥc các loại hình và các thành phần kinh

tế trong các ngành kinh tế q́c dân, với mục đích tăng thêm tài sản cố định, tài sản

lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh, gồm cả đầu tư cho nghiên cứu ứng

dụng kỹ thuật công nghệ mới, sản xuất sản phẩm mới, mơ hình quản lý mới,…

Vớn đầu tư của nhà nước, của các cơ sở kinh tế để xây dựng cơ sở hạ tầng

giao thông, cầu cống, bến cảng, thuỷ lợi phục vụ nông lâm nghiệp,... Bộ phận vốn

đầu tư này tuy không trực tiếp tham gia vào q trình hoạt đợng sản xuất kinh

doanh tại các cơ sở, nhưng nó có liên quan chặt chẽ và tạo yếu tố thuận lợi cho sản

xuất kinh doanh phát triển; ở góc đợ nào đó, có thể nói đầu tư vào cơ sở hạ tầng là

bước mở đầu của đầu tư hoạt động sản xuất kinh doanh. Bởi lẽ đó đầu tư cho cơ sở

hạ tầng cũng là mợt bộ phận của đầu tư hoạt động kinh tế.

Vốn đầu tư của nhà nước và các cơ sở kinh tế cho bảo vệ môi trường như:

đầu tư cho xử lý chất thải, chớng ơ nhiễm nguồn nước, khí thải, trồng rừng sinh thái

kể cả đầu tư áp dụng công nghệ sạch. Có những khoản đầu tư bảo vệ mơi trường có

tầm chiến lược lâu dài, song vì tính chất cấp bách tồn cầu về bảo vệ mơi trường và

tác đợng trực tiếp của môi trường tới phát triển kinh tế, bởi vậy đầu tư cho bảo vệ

môi trường được coi là bộ phận của đầu tư cho kinh tế. Trong tổng vốn đầu tư kinh

tế, phần lớn được thực hiện thông qua hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản với mục

đích tạo ra tài sản cớ định và mợt phần tài sản lưu động cho lĩnh vực hoạt động sản

xuất kinh doanh.

Để tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hợi mợt cách bền vững thì mợt trong

những điều kiện cực kỳ quan trọng đối là phải mở rợng đầu tư. Đầu tư chính là vớn

đầu tư phát triển đã thực hiện trong năm. Để tăng trưởng và phát triển của xã hợi

đòi hỏi phải đầu tư vớn. Đóng góp cho sự phát triển kinh tế Việt Nam đới với q

trình CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức trong 30 năm qua, mà tác động



8



chủ yếu của chính sách mở cửa và hợi nhập thơng qua hai yếu tớ chính đó là tăng

nguồn vớn cho đầu tư phát triển và tăng xuất khẩu, tăng thu nhập và ngoại tệ.

2.2.1. Vai trò của vốn đầu tư từ Ngân sách nhà nước (NSNN)

Đầu tư phát triển từ NSNN tác động tới tăng trưởng kinh tế, điều chỉnh và

chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư theo định hướng của chính phủ. Đới với nền kinh tế

thị trường định hướng xã hợi chủ nghĩa trong q trình CNH, HĐH gắn với phát

triển kinh tế tri thức như nước ta thì đầu tư từ NSNN có tác dụng kích thích các

thành phần kinh tế phát triển có hiệu quả hơn và đồng đều hơn. Trong điều kiện

hiện nay thì đầu tư của tư nhân và nước ngoài chỉ chủ yếu tập trung vào các ngành

nghề, khu vực có khả năng sinh lời cao, mức đợ an tồn lớn, vớn nhỏ, dẫn đến mất

cân đối trong các ngành kinh tế và vùng kinh tế. Để nền kinh tế phát triển một cách

đồng bợ thì chính phủ sẽ dùng vớn đầu tư phát triển từ Ngân sách để đầu tư vào

một số lĩnh vực mà có vớn đầu tư lớn, khả năng thu hồi vớn chậm như các cơng

trình phúc lợi, mặt bằng cơ sở hạ tầng, chi cho đầu tư phát triển giáo dục…

Vốn đầu tư từ NSNN là nguồn vốn đầu tư cơ bản và quan trọng nhất để đầu

tư phát triển cơ sở hạ tầng như: hệ thống giao thông, bưu điện, thông tin liên lạc,

giao thông, bưu điện, thơng tin liên lạc…Các cơng trình này là những cơng trình

cơng cợng đòi hỏi mợt lượng vớn đầu tư lớn nhưng thời gian thu hồi vốn dài, lợi

nhuận thấp. Do đó, các nhà đầu tư thường khơng ḿn đầu tư vào lĩnh vực này.

Hiện nay việc tham gia đầu tư từ các nguồn vớn ngồi NSNN là q ít, để đảm bảo

thực hiện được các mục tiêu phát triển đất nước, Nhà nước phải sử dụng vốn đầu tư

từ NSNN đầu tư cho phát triển các lĩnh vực kết cấu hạ tầng.

Ngành nơng nghiệp nước ta có lợi thế rất lớn về đất đai, khí hậu, kĩ thuật

canh tác lâu đời song lại không được quan tâm đầu tư đúng mức, cơ sở vật chất kỹ

thuật và kết cấu hạ tầng thấp kém và chưa phát triển đồng đều, chưa đáp ứng được

yêu cầu CNH, HĐH. Khoảng cách về thu nhập giữa nông dân giàu và nghèo, giữa

nông thôn và thành thị ngày càng tăng. Vớn tích lũy của khu vực này rất thấp vì

9



vậy việc tăng cường đầu tư vào phát triển nông nghiệp nông thôn từ NSNN và các

nguồn khác trong điều kiện hiện nay là hết sức cần thiết nhằm khắc phục những tồn

tại nêu trên, điều đó sẽ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hợi ở nơng thơn.

2.2.2. Vai trò của vốn đầu tư nước ngồi

Thực hiện hoạt đợng đầu tư trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã cho thấy

đầu tư trực tiếp nước ngồi có vai trò hết sức to lớn đối với nước tiếp nhận đầu tư

đặc biệt là ở những nước đang phát triển. Ngày nay do vai trò quan trọng của FDI

nên các nước đang phát triển và cả những nước phát triển đều ra sức cạnh tranh để

thu hút FDI.

Trước hết FDI đóng vai trò là nguồn cung cấp vớn lớn, góp phần giải quyết

tình trạng thiếu vốn đầu tư - một căn bệnh kinh niên và phổ biến của bất kỳ một

quốc gia chậm phát triển nào. Ở Việt Nam tốc độ thu hút vốn FDI bình qn

50%/năm.

Bên cạnh vai trò cung cấp vớn, đầu tư trực tiếp nước ngồi còn mang lại cho

nước tiếp nhận đầu tư cơng nghệ kỹ tḥt tiên tiến góp phần phát triển lực lượng

sản xuất, cơ cấu lại nền kinh tế. Một xu hướng nữa trong đầu tư trực tiếp nước

ngoài là trong nhiều trường hợp các nước phát triển cần mang vào nước chậm phát

triển những công nghệ tiên tiến hơn cả nước mình nhằm thu lợi nhuận cao.

Đầu tư trực tiếp nước ngồi cũng có vai trò là mợt hình thức đào tạo giúp các

nước tiếp nhận đầu tư kiến thức sử dụng công nghệ hiện đại và học tập kinh

nghiệm quản lý của nước ngoài trong sản xuất kinh doanh, nâng cao trình đợ sản

xuất kinh doanh của đất nước, hồ nhập vào sự phân cơng lao động quốc tế. Hơn

thế nữa, đầu tư trực tiếp nước ngồi còn góp phần đào tạo mợt đợi ngũ cơng nhân

có trình đợ kỹ tḥt cao. Bên cạnh đó đầu tư trực tiếp nước ngồi có vai trò rất quan

trọng trong việc tạo ra công ăn việc làm, hạn chế tình trạng thất nghiệp, nâng cao

mức thu nhập cho người lao động. Về cơ bản, tiền lương được giải quyết phù hợp



10



với quy định, cao hơn mức lương của các doanh nghiệp cùng loại thuộc các thành

phần kinh tế khác.

Đầu tư trực tiếp nước ngồi đã góp phần làm chuyển biến nền kinh tế Việt

Nam theo hướng của một nền kinh tế cơng nghiệp hố. Đới với Việt Nam vớn FDI

đóng vai trò như lực khởi đợng, như mợt trong những điều kiện đảm bảo cho sự

thành công của công cuộc CNH-HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức. Mợt sớ dự

án đầu tư trực tiếp nước ngồi đã góp phần làm vực dậy mợt sớ doanh nghiệp Việt

Nam đang trong điều kiện khó khăn, sản xuất đình đớn có nguy cơ phá sản. Khơng

những thế, nó còn góp phần hình thành nhiều ngành nghề sản xuất mới, cũng như

nhiều sản phẩm mới. Vì khả năng thu hồi vớn và có lãi phụ tḥc hồn tồn vào kết

quả sản xuất kinh doanh nên các nhà đầu tư nước ngoài thường tính tốn cân nhắc

kỹ lưỡng khi đưa vào Việt Nam những thiết bị, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, hiện

đại hoặc ở mức thấp nhất cũng còn có khả năng phát huy được hiệu quả nhất định.

FDI là một trong những kênh đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập thế giới tương đới

có hiệu quả. Là khu vực hấp dẫn, tạo ra nhiều việc làm và nâng cao năng lực cho

người lao động Việt Nam. Là môi trường lý tưởng để chúng ta học hỏi, tiếp thu

kinh nghiệm quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh của nền kinh tế thị trường hiện

đại. Là điều kiện tốt để Việt Nam mở rợng thị trường cả trong và ngồi nước.

Tóm lại hoạt đợng FDI đã góp phần thúc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh

tế của đất nước, khai thác tài nguyên, tạo việc làm góp phần chuyển dịch cơ cấu

kinh tế, sản xuất nhiều hàng hoá và dịch vụ có hàm lượng kỹ thuật cao, đẩy mạnh

xuất khẩu đưa nước ta vào phân công lao động quốc tế, tạo hình ảnh và vị thế mới

uy tín ngày càng tăng của Việt Nam trên trường quốc tế, đặc biệt là trong xu thế hợi

nhập khu vực và tồn cầu, yếu tố quyết định để Việt Nam rút ngắn con đường hợi

nhập khu vực và thế giới đó là mở rộng và thu hút FDI.



11



CHƯƠNG II: ĐỊNH HƯỚNG VẬN DỤNG QUÁ TRÌNH CNH, HĐH

GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC TẠI VIỆT NAM

1. Thực trạng sử dụng vốn đầu tư cho phát triển kinh tế ở nước ta

1.1. Khái quát chung

Trong những năm qua, mặc dù phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách

thức nhưng nước ta đã đạt được những thành tựu rất quan trọng trong quá trình phát

triển kinh tế xã hợi, kinh tế duy trì ở mức tăng trưởng cao, chất lượng tăng trưởng

ngày càng được cải thiện, các cân đối vĩ mô được đảm bảo.

Trong giai đoạn 2006-2010, tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt 7% trong

đó: khu vực nơng, lâm, thuỷ sản đạt 3,8%; cơng nghiệp-xây dựng đạt 10,2%; dịch

vụ đạt 7,0%. Nhìn chung, trong bới cảnh khung hoẳng tài chính và suy thối kinh

tế tồn cầu thì kết quả đạt được này là rất đáng khích lệ, thể hiện được tính tự thích

ứng và sức bền vững của nền kinh tế ở nước ta. Đặc biệt trong hai năm đầu thực

hiện Kế hoạch 2006-2007, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt ở mức cao hơn so với

mục tiêu 5 năm đề ra (năm 2006: tăng 8,23%; năm 2007: tăng 8,46%); các năm

2008-2010 chịu tác động khá lớn của khung hoảng kinh tế thế giới, tốc độ tăng

trưởng kinh tế năm 2008 vẫn đạt 6,3%; năm 2009 đạt 5,3%, năm 2010 đạt khoảng

6,78%.

Bình quân giai đoạn 2011-2015, tốc độ tăng trưởng kinh tế ước đạt khoảng

5,91%, mặc dù thấp hơn so với giai đoạn 2006-2010, nhưng đặt trong bối cảnh nền

kinh tế phải đới mặt với nhiều khó khăn, thách thức và kinh tế thế giới thường

xuyên xuất hiện nhiều nhân tố bất lợi thì đây vẫn là mức tăng tương đới tớt. Hơn

thế nữa, xu hướng phục hồi kinh tế ngày càng rõ nét kể từ năm 2013, tốc độ tăng

trưởng năm sau cao hơn năm trước. Tăng trưởng năm 2015 đạt 6,68%, vượt mục

tiêu đề ra là 6,2% và là mức cao nhất trong cả giai đoạn 2011-2015; trong đó, cơng

nghiệp và xây dựng với tốc độ tăng 9,64% là ngành đóng góp nhiều nhất vào tăng

12



trưởng năm 2015. Bên cạnh đó, GDP bình qn đầu người cũng tăng hơn 40%, từ

1.532 USD/người năm 2011 lên 2.171 USD/người năm 2015, trong bới cảnh lạm

phát được duy trì ở mức thấp đã góp phần nâng cao mức sớng thực tế của người

dân. Tổng vớn đầu tư tồn xã hợi đạt 31,7% GDP, thấp hơn so với mục tiêu đã được

Quốc hội thông qua đầu nhiệm kỳ (là 33,5% đến 35%). Năm 2015, tổng vớn đầu tư

phát triển tồn xã hợi theo giá hiện hành ước tăng 12%, tương đương 32,6% GDP

và vượt kế hoạch đề ra.

1.2. Khái quát về hoạt động đầu tư

1.2.1. Giai đoạn 2006-2010.

Mặc dù chịu tác động của khủng hoảng tài chính và suy thối kinh tế tồn

cầu, nhưng chúng ta đã huy động được một khối lượng khá lớn vốn đầu tư phát

triển. Tổng nguồn vốn đầu tư tồn xã hợi trong 5 năm 2006-2010 đạt 3.073,8 nghìn

tỷ đồng, gấp hơn 2,5 lần so với giai đoạn trước, trong đó:

Vớn đầu tư từ ngân sách nhà nước ước thực hiện khoảng 647 nghìn tỷ đồng,

chiếm 21% tổng vớn đầu tư tồn xã hợi. Nguồn vớn này được tập trung ưu tiên cho

các dự án kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi, giáo dục, y tế, các chương trình mục

tiêu quan trọng đã góp phần cải thiện hệ thống kết cấu hạ tầng, tạo tiền đề thúc đẩy

tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bảo đảm an sinh xã hợi, góp phần xóa

đói, giảm nghèo, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Vớn trái phiếu Chính phủ 5 năm ước đạt khoảng 136,6 nghìn tỷ đồng, chiếm

4,4%; Vớn tín dụng đầu tư ước đạt 195,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 6,4% tổng vớn đầu

tư tồn xã hợi. Nguồn trái phiếu Chính phủ được tập trung vào các cơng trình giao

thơng, thủy lợi, kiên cớ hóa trường lớp học, từ năm 2008 bổ sung thêm đầu tư nâng

cấp hệ thống bệnh viện tuyến huyện và tuyến tỉnh; từ năm 2009 bổ sung thêm đầu

tư ký túc xá cho sinh viên. Nguồn vốn đầu tư của khu vực doanh nghiệp tư nhân và

dân cư đã tăng lên mạnh mẽ và đóng vai trò ngày càng quan trọng, 5 năm thực hiện

khoảng l.092,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 35,5% tổng vớn đầu tư tồn xã hội.

13



Đáng chú ý trong hai năm 2008-2009, trong bổi cảnh khủng hoảng tài chính

và suy thối kinh tế tồn cầu, nhưng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi đạt kết

quả khá cao. Tính chung trong 5 năm, tổng vốn đăng ký mới và tăng thêm ước đạt

150 tỷ USD, gấp hơn 7 lần so với giai đoạn 2001-2005; trong đó 2 năm 2006-2007

đều đạt tớc đợ năm sau cao hơn năm trước gấp hơn 1,7 lần, riêng năm 2008 gấp

gần 3,4 lần so với năm 2007 (71,7 tỷ USD). Trong 5 năm thực hiện khoảng 658,5

nghìn tỷ đồng, gấp hơn l,4 lần so với kế hoạch đề ra.

Trong bổi cảnh nguồn cung vốn ODA dành cho các nước đang phát triển

giảm, nhưng Việt Nam vẫn nhận được sự ủng hộ và cam kết mạnh mẽ của cộng

đồng các nhà tài trợ quốc tế. Tổng vốn ODA cam kết 5 năm ước đạt trên 3l tỷ USD,

gấp hơn l,5 lần so với mục tiêu đề ra (19-21 tỷ USD), trong đó khới lượng vớn đã

giải ngân ước đạt khoảng 13 tỷ USD, vượt 8,4% so với kế hoạch đề ra.



Năm

2006

2007

2008

2009

2010



Vớn đầu tư



GDP giá thực tế



Tớc đợ tăng



Vớn đầu



(Nghìn tỷ đồng)

(Ngàn tỷ đồng)

GDP (%)

tư/GDP(%)

398,90

973,79

8,23

40,96

532,093

1143,715

8,46

46,52

610,876

1477,717

6,18

41,34

704,2

1658,4

5,32

42,8

805,5

1931,3

6,5

41,7

Bảng 1: Tổng hợp vốn đầu tư, GDP của Việt Nam qua các năm



Qua số liệu tổng hợp trên, ta thấy vốn đầu tư của Việt Nam trong thời kỳ

2006-2010 có xu hướng gia tăng qua các năm, 2006 vốn đầu tư chỉ là 398,9 ngàn

tỷ đồng đến 2010 vốn đầu tư tăng lên 805,5 ngàn tỷ đồng.

1.2.2. Giai đoạn 2011-2015.

Giai đoạn 2011 - 2015, thực hiện chủ trương tái cơ cấu đầu tư, mà trọng tâm

là đầu tư cơng, tỷ trọng vớn đầu tư tồn xã hội so GDP đã giảm từ 38,7% giai đoạn

2001 - 2010 x́ng còn 33,3% năm 2011, và khoảng 31% giai đoạn 2012 - 2015.

Tỷ trọng vốn đầu tư từ khu vực kinh tế nhà nước trong tổng vốn đầu tư tồn xã hợi

14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG I: VAI TRÒ CỦA VỐN ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH CNH, HĐH GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×