Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Vai trò chiến lược phát triển bệnh viện Tỉnh Phú Thọ

Vai trò chiến lược phát triển bệnh viện Tỉnh Phú Thọ

Tải bản đầy đủ - 0trang

1. Thực trạng chiến lược phát triển Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ

1.1. Khái quát lịch sử hình thành

Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ được thành lập từ năm 1965 với tên gọi là

Bệnh viện cán bộ. Từ năm 2006 đến nay, Bệnh viện được đổi tên thành Bệnh viện

đa khoa tỉnh Phú Thọ.

Bệnh viện Đa khoa (BVĐK) tỉnh Phú Thọ là Bệnh viện tuyến cao nhất của

tỉnh Phú Thọ, được xếp loại Bệnh viện hạng I với quy mô 1500 giường bệnh, tổng

số cán bộ viên chức Bệnh viện trên 1400 cán bộ, trong đó có 420 bác sĩ.

Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ có tổng số 42 Khoa, Phòng, Trung tâm bao

gồm 9 Phòng chức năng, 7 Khoa cận lâm sàng, 25 Khoa lâm sàng và 6 Trung tâm

(Trung tâm Đào tạo và chỉ đạo tuyến, Trung tâm Tim mạch, Trung tâm Ung bướu,

Trung tâm khám chữa bệnh chất lượng cao, Trung tâm Huyết học truyền máu và

Trung tâm xét nghiệm tự động).

Từ năm 2009, Bệnh viện đã áp dụng thành công và được cấp chứng nhận đạt

tiêu chuẩn chất lượng ISO 9001 - 2008. Tất cả các khâu trong quy trình khám, chữa

bệnh tại Bệnh viện đều được chuẩn hóa, các quy chế chuyên mơn trong thường trực

cấp cứu, khám bệnh và chăm sóc bệnh nhân được thực hiện nghiêm túc.

Bệnh viện có cơ sở vật chất khang trang, trang thiết bị máy móc hiện đại:

Bệnh viện nằm trong khuôn viên rộng 2.94 ha với 3 tòa nhà 7 tầng, 2 tòa nhà 11

tầng (Tòa nhà đa trung tâm và Trung tâm khám chữa bệnh chất lượng cao).

Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ là Bệnh viện Vệ tinh của các bệnh viện

trung ương bao gồm: Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức; Viện Tim mạch Việt Nam,

Bệnh viện Bạch Mai; Bệnh viện K Trung ương, Bệnh viện Phụ sản Trung ương,

Bệnh viện Nhi Trung ương, Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương, Bệnh viện

nội tiết Trung ương, Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương. Chính vì vậy, Bệnh

viện đã nhận được sự hỗ trợ trong công tác đào tạo cán bộ, chuyển giao chuyên

môn kỹ thuật từ các bệnh viện hạt nhân. Đến nay, Bệnh viện đã thực hiện được

100% danh mục kỹ thuật loại I và 46% danh mục kỹ thuật loại đặc biệt, trang thiết

bị của Bệnh viện ngày càng được đầu tư hiện đại và đồng bộ. Cụ thể như Bệnh viện

đã ứng dụng nhiều kỹ thuật chuyên sâu như gây mê hồi sức, phẫu thuật cột sống,

phẫu thuật u não, phẫu thuật thay khớp, phẫu thuật chấn thương, phẫu thuật Tim

hở, phẫu thuật nội soi tiêu hóa, nội soi tiết niệu, nội soi chuẩn đốn, chuẩn đốn

hình ảnh, giải phẫu bệnh, ghép thận...

5



1.2. Kết quả đạt được những năm qua

Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ được xây dựng theo mơ hình Bệnh viện –

Khách sạn, hệ thống các khoa phòng của Bệnh viện được thiết kế tinh tế, sang

trọng với không gian khang trang, rộng rãi, là địa chỉ lý tưởng dành cho những

người bệnh có nhu cầu khám chữa bệnh. Đặc biệt, với hệ thống dịch vụ khép kín và

tồn diện trong quy trình khám chữa bệnh từ bước thăm khám, điều trị cho tới hồi

phục chức năng, chăm sóc điều dưỡng, bệnh viện được trang bị bởi hệ thống khoa,

phòng đầy đủ, người bệnh khơng bao giờ phải lo lắng về tình trạng quá tải trong

khám chữa bệnh khi đến với Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ.

1.2.1. Nguồn nhân lực và tiền lương

Nhân lực của Bệnh viện tăng lên hàng năm theo sự phát triển chung của đơn

vị. Bệnh viện có 01 Giám đốc và 02 Phó Giám đốc. Ban Giám đốc là những người

có học vị cao và nhiều kinh nghiệm trong chuyên môn và quản lý. Lãnh đạo các

khoa là những người có trình độ chun mơn cao, nhưng khơng tránh khỏi một số

trưởng phó khoa chưa quen với việc quản lý và chưa phối hợp tốt với nhau trong

công việc.

Đội ngũ bác sỹ và điều dưỡng hầu hết có tay nghề cao, một số được đào tạo

bài bản và đặc biệt chuyên sâu. Do đó, đã triển khai được khá nhiều kỹ thuật mới

hiện đại. Hàng năm, bệnh viện được tuyển dụng mới và đánh giá cán bộ nhân viên

đúng quy định. Ngồi chế độ tiền lương theo quy định, trung bình mỗi cán bộ, viên

chức và người lao động được hưởng tăng thu nhập trung bình 3.500.000

đồng/tháng. Đây là mức trung bình so với các bệnh viện tuyến trung ương.

1.2.2. Nghiên cứu phát triển khoa học

Bệnh viện có Hội đồng khoa học tập trung những cán bộ có trình độ chun

mơn cao tư vấn cho Giám đốc bệnh viện về các lĩnh vực y khoa. Hàng năm, Bệnh

viện có trung bình 15 đề tài nghiên cứu khoa học các cấp. Có một số đề tài mang

tính ứng dụng thực tiễn cao trong cấp cứu, điều trị và chăm sóc người bệnh.



Hàng



tháng Hội đồng khoa học Bệnh viện đã tổ chức nhiều buổi hội thảo khoa học cập

nhật kiến thức, phổ biến kinh nghiệm, thông qua phác đồ điều trị và triển khai kỹ

thuật mới được đông đảo các bộ, viên chức tham gia.

Ngoài ra, hàng năm bệnh viện tổ chức các lớp đào tạo về cấp cứu nội khoa,

cấp cứu nhi khoa và đọc điện tim đồ, quản lý chăm sóc,… cho cán bộ bệnh viện và

các bệnh viện tuyến huyện.

1.2.3. Hiệu quả công tác hoạt động

6



- Công tác khám chữa bệnh: Đến cuối năm 2016, quy mô 1500 giường bệnh,

tổng số cán bộ viên chức Bệnh viện trên 1400 cán bộ, trong đó có 420 bác sĩ. Tổng

số bệnh nhân đến khám bệnh hàng năm trên 300.000 lượt, bệnh nhân vào điều trị

nội trú 100.000 lượt. Đối tượng người bệnh có thẻ bảo hiểm y tế chiếm 70%; còn

bệnh nhân viện phí chỉ chiếm khoảng 30% tổng số lượt bệnh nhân điều trị. Những

năm qua, bệnh viện đã tổ chức thực hiện và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Hàng năm tỷ lệ bệnh nhân phải chuyển đi tuyến trên rất thấp.

Thế mạnh của Bệnh viện là phát triển mạnh các chuyên khoa mũi nhọn như

ung bướu, tim mạch, chấn thương chỉnh hình, đột qụy, hỗ trợ sinh sản, huyết học

truyền máu, ghép thận, lọc máu - thận nhân tạo...

- Công tác chỉ đạo tuyến: Căn cứ chiến lược phát triển bệnh viện, hàng năm,

Bệnh viện lập kế hoạch khảo sát và triển khai chuyển giao kỹ thuật tuyến dưới theo

nhu cầu. Khi có khó khăn về chun mơn, các bệnh viện huyện đề nghị, Bệnh viện

đã khẩn trương cử các kíp chun mơn chi viện và giải quyết kịp thời khó khăn cho

tuyến, đảm bảo an tồn cho người bệnh.

- Cơng tác phòng bệnh: Bệnh viện ln đặt nhiệm vụ phòng chống bệnh

quan trọng ngang với điều trị, đặc biệt đối với tình hình bệnh dịch đang diễn ra hết

sức phức tạp như hiện nay. Tại các khoa, đội ngũ cán bộ đã tư vấn và hướng dẫn

người bệnh cách phòng tránh các bệnh dễ lây theo mùa, theo chuyên khoa; chú

trọng phân luồng bệnh nhân tại phòng khám và tại các khoa điều trị để phòng tránh

lây nhiễm chéo. Cơng tác kiểm sốt nhiễm khuẩn cũng được đặc biệt chú trọng để

phòng tránh nhiễm trùng trong Bệnh viện.

- Công tác hợp tác quốc tế: Tăng cường hợp tác quốc tế đang là một bước

tiến mới của Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ trong công tác đào tạo và chuyển

giao các kỹ thuật chuyên sâu góp phần vào việc nâng cao chất lượng khám, chữa

bệnh theo hướng hiện đại hóa, chuyên nghiệp hóa. Bệnh viện hợp tác với Bệnh

viện Đại học Quốc gia Chonnam Hàn Quốc nhằm liên kết hỗ trợ đào tạo nguồn

nhân lực, chuyển giao công nghệ cho bệnh viện góp phần chăm sóc, khám chữa

bệnh tốt hơn nữa cho bệnh nhân.

1.2.4. Cơng tác tài chính kế toán

Những năm qua, Bệnh viện đã chấp hành tốt chế độ tài chính kế tốn của nhà

nước. Bệnh viện có hai nguồn thu chính là từ ngân sách nhà nước cấp và nguồn thu

viện phí. Hàng quý, Bệnh viện quyết toán số thực chi với cơ quan bảo hiểm xã hội

tỉnh. Tuy nhiên, việc tạm ứng, thanh quyết toán của BHXH thường chậm làm cho

7



bệnh viện gặp khó khăn trong việc điều hành các hoạt động thường xuyên của đơn

vị.

1.2.5. Hệ thống thông tin

Hiện nay, Bệnh viện đã đưa công nghệ thông tin ứng dụng vào quản lý công

tác khám chữa bệnh cả ngoại trú và nội trú, giúp bệnh nhân giảm bớt thời gian chờ

đợi, quá trình khám chữa bệnh rút gọn thời gian và độ chính xác cao, hiện bệnh

viện đang thực hiện cơng tác hạch tốn kinh tế đến từng khoa phòng.

1.2.6. Văn hóa ứng xử

Trong những năm qua, Bệnh viện không ngừng đẩy mạnh cải cách hành

chính, đổi mới quản lý, nâng cao tinh thần thái độ phục vụ người bệnh, quản lý,

khám chữa bệnh theo mơ hình bệnh viện thơng minh. Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú

Thọ đã ý thức được tầm quan trọng của văn hóa ứng xử trong cơng tác khám chữa

bệnh. Do đó, đã triển khai tạp huấn kỹ năng giao tiếp, ứng xử cho cán bộ, viên

chức, đưa tinh thần thái độ, giao tiếp với người bệnh vào tiêu chí thi đua khen

thưởng của các khoa, phòng. Bệnh viện coi “bệnh nhân là ân nhân” của mình và

khơng có tình trạng “phong bao, phong bì”. Bước đầu tạo được chuyển biến tốt, đã

tạo được niềm tin trong lòng nhân dân.

2. Tồn tại, hạn chế

2.1. Yếu tố kinh tế thị trường

Bệnh viện đang từng bước phát triển trên con đường dần dần tự chủ về tài

chính, trong giai đoạn nền kinh tế thế giới cũng như kinh kế đất nước gặp nhiều

khó khăn, lạm phát tăng nhanh..., đội ngũ cán bộ nhân viên bệnh viện non trẻ nên

chưa nhiều kinh nghiệm trong công tác quản lý cũng như công tác chuyên mơn do

đó chưa đáp ứng với nhu cầu khám, chữa bệnh ngày càng cao, cùng với mơ hình

bệnh tật phát sinh đa dạng và phức tạp.

Giá cả thị trường ngày càng tăng kéo theo giá thuốc, vật tư, điện, nước cũng

tăng lên khơng ngừng. Trong khi đó, nguồn ngân sách nhà nước cấp cho đầu

giường bệnh là cố định trong 5 năm. Hiện nay, hàng năm bệnh viện chỉ được cấp

một phần nhỏ kinh phí, còn lại bệnh viện phải chi từ nguồn viện phí để trang trải

chi tiêu.

2.2. Yếu tố chính sách

Chính sách phân tuyến khám chữa bệnh còn nhiều bất cập, Bệnh viện chỉ

được nhận đối tượng khám chữa bệnh ban đầu người già và trẻ em; không có cơng

nhân, sinh viên, học sinh. Đây là hai diện đối tượng có tần số khám bệnh và chi phí

8



khám chữa bệnh cao nhất trong tất cả các đối tương tham gia BHYT. Do đó, đơn vị

thường xuyên rơi vào tình trạng vượt quỹ BHYT hàng năm.

Chính sách về đấu thầu thuốc: có nhiều mặt hàng thuốc khơng trúng thầu,

bệnh viện khơng được mua thuốc ngồi danh mục trúng thầu, nhất là thuốc phục vụ

người có thẻ bảo hiểm y tế dẫn đến không đủ thuốc chữa các bệnh chuyên khoa,

gây khó khăn cho bệnh viện.

Chính sách điều chỉnh giá viện phí từ cuối năm 2012 là một thuận lợi cho

ngành y tế nói chung và cho đơn vị nói riêng. Với mức giá viện phí mới, đơn vị đã

phần nào cân đối được mức thu chi cho các hoạt động thường xun của mình, tuy

nhiên vẫn còn q nhiều dịch vụ chưa điểu chỉnh, hơn nữa giá điều chỉnh khơng sát

thị trường còn nhiều bất cập.

2.3. Yếu tố tự nhiên, văn hóa xã hội, dân số

Trình độ nhận thức của người dân về công tác bảo vệ sức khỏe vẫn còn chưa

cao. Vẫn còn nhiều người bệnh phải nhập viện do hậu quả của vi phạm luật an toàn

giao thông, lạm dụng rượu, bia; sử dụng các vị thuốc bảo vệ thực vật, do chữa bệnh

theo phương pháp truyền miệng khơng chính thống. Hoặc người dân do q nghèo

nên không đi chữa bệnh sớm, chờ bệnh tự khỏi nên khi đến viện bệnh thường quá

nặng, ngày điều trị kéo dài và chi phí tăng cao.

2.4. Yếu tố cơng nghệ và kỹ thuật

Nguồn vốn đầu tư cơ sở hạ tầng còn thiếu; bệnh viện còn chưa thực sự làm

tốt cơng tác quảng hình ảnh đơn vị. Nhân lực bác sỹ tuổi nghề còn trẻ nên chưa

triển khai được các kỹ thuật cao như tim mạch can thiệp…

2.5. Các đối thủ cạnh tranh trong ngành

Đó là hệ thống y tế tư nhân đang ngày càng phát triển trong khu vực xung

quanh bệnh viện. Các cơ sở y tế tư nhân này tập trung một số lĩnh vực chính nhưng

họ đưa yếu tố phục vụ nhanh gọn lên hàng đầu và phục vụ ngồi giờ nên thu hút

được một lượng khơng nhỏ bệnh nhân có điều kiện kinh tế khá giả và lượng bệnh

nhân là công nhân trong các doanh nghiệp không có thời gian đi khám bệnh trong

giờ hành chính tại bệnh viện.

Điều quan trọng là tuyến Cao tốc Nội Bài – Lào Cai giúp người dân di

chuyển từ Việt Trì đi Hà Nội nhanh chóng và đơn gian. Hà Nội là nơi tập trung tất

cả các trung tâm y tế chuyên sâu chất lượng cao của cả nước. Nếu Bênh viện đa

khoa tỉnh Phú Thọ khơng có hướng phát triển chuyên sâu một số lĩnh vực sẽ không

giữ được bệnh nhân ở lại điều trị.

9



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Vai trò chiến lược phát triển bệnh viện Tỉnh Phú Thọ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×