Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 13:Một số chỉ tiêu về hoạt động tín dụng:

Bảng 13:Một số chỉ tiêu về hoạt động tín dụng:

Tải bản đầy đủ - 0trang

Triệu

đồng



319.248



619.951



795.464



300.703



175.513



Triệu

đồng



274.225



462.303



749.183



188.078



286.880



5. Tổng dư nợ



Triệu

đồng



233.417



391.065



437.346



157.648



46.281



6. Dư nợ bình

quân



Triệu

đồng



210.905



312.241



414.205



101.336



101.964



%



25,69



27,27



28,24



1,58



0,97



%



414,18



554,10



355,47



139,92



-198,63



85,90



74,57



94,18



-11,33



19,61



1,30



1,48



1,81



0,18



0,33



3. Doanh số cho

vay

4. Doanh số thu

nợ



7.Vốn huy động/

Tổng nguồn vốn

8. Dư nợ/ tổng vốn

huy động

9. Hệ số thu nợ

%

10. Vòng quay vốn

tín dụng



lần



( Nguồn: Phòng Kế hoạch kinh doanh NHNo&PTNT Chi nhánh huyện Tân Hiệp)



4.2.1.4. Vốn huy động trên tổng nguồn vốn

Vốn huy động trên tổng nguồn vốn cho ta biết số vốn huy động đáp

ứng được bao nhiêu phần trăm trên tổng nguồn vốn hoạt động. Thông thường

một ngân hàng huy động vốn có hiệu quả là đạt được tỷ lệ khoảng 70% 80% trong tổng nguồn vốn hoạt động.

Từ bảng đánh giá (bảng 13), ta xem xét chỉ tiêu vốn huy động trên tổng



nguồn vốn (chỉ tiêu thứ 7) của ngân hàng trong 03 năm, ta thấy:

V Ố N HUY



ĐỘ NG TRÊN T



Ổ NG NGU



ỒNV ỐN



Đ VT: %

N ă m 2008

N ă m 2007



V ố n huy độ ng trên

tổ ng ngu ồ n v ố n



N ă m 2006

24



25



26



27



28



29



Hình 12. Vốn huy động trên tổng nguồn vốn.

Tỷ lệ vốn huy động trên tổng nguồn vốn đều tăng qua các năm, cụ thể

năm 2006 đạt 25,69%, năm 2007 là 27,27% tăng so với năm 2006 là 1,58%.

Đến năm 2008, nguồn vốn này đạt được 28,24%, tăng so với năm 2007 là

0,97%. Mặc dù tỷ lệ này không cao nhưng sự tăng trưởng qua các năm đẽ

chứng tỏ sự nỗ lực không ngừng của Ngân hàng trong công tác huy động vốn

cũng như thu nhập cũng như ý thức gửi tiền vào Ngân hàng của người dân

trên địa bàn ngày càng tăng từ đó tăng lượng tiền gửi của khách hàng lên.

Nhưng ngân hàng cần nỗ lực hơn nữa trong công tác huy động vốn

trong thời gian tới để nâng cao tỷ lệ này, nhằm có thể tự chủ được trong cơng

tác cho vay, mặt khác đem lại lợi nhuận cao hơn cho Ngân hàng.

4.2.1.5. Dư nợ trên tổng vốn huy động.

Từ bảng đánh giá hiệu quả sử dụng vốn qua 03 năm ở trên và chỉ tiêu thứ

8 (chỉ tiêu dư nợ trên tổng vốn huy động). Chỉ tiêu này càng gần 1 thì càng

tốt, giúp ta so sánh khả năng cho vay của Ngân hàng và nguồn vốn tự huy

động.



D Ý N Ợ TRÊN T



Ổ NG V Ố N HUY ĐỘ NG

DƯ NỢ TRÊN TỔNG

VỐN HUY ĐỘNG

Đ VT: %



N ă m 2008

N ă m 2007



Dý n nợợ trên

ng



trênt tổổng

vvốn

ố n huy

huy động

độ ng



N ă m 2006

0



200



400



600



Hình 13. Dư nợ trên tổng vốn huy động.

Cụ thể năm 2006, chỉ tiêu này là 414,18%, đến năm 2007 tăng lên 139,92%

đạt được 554,10%. Năm 2008 giảm còn 355,47%, giảm 198,63% so với năm

2007. Nhìn chung chỉ tiêu này tăng trong năm 2007 và giảm xuống trong

năm 2008. Có nghĩa là tỷ lệ tham gia của vốn huy động vào dư nợ giảm năm

2007 và tăng lên trong năm 2008.

Tuy tỷ lệ vốn huy động tham gia vào dư nợ còn thấp (tốc độ tăng của vốn

huy động không nhanh bằng tốc độ tăng của dư nợ) nhưng Ngân hàng đã áp

dụng nhiều hình thức huy động thích hợp nhằm tăng nguồn vốn huy động,

xác định công tác huy động vốn là nhiệm vụ trọng tâm, quyết định sự tồn tại

của NHNo&PTNT Huyện Tân Hiệp nên vốn huy động tham gia vào dư nợ

dần được cải thiện trong năm 2008.

Mặc dù NHNo&PTNT Chi nhánh Huyện Tân Hiệp sử dụng vốn vay Ngân

hàng cấp trên là chủ yếu, nhưng dư nợ vẫn tăng hàng năm là do nhu cầu vay

vốn trên địa bàn là rất cao, trong khi đó khả năng huy động vốn tại chỗ của

Ngân hàng còn hạn chế, chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với doanh số cho vay tại Ngân

hàng. Do phải trả lãi suất cho vốn điều hòa cao làm tăng lãi suất đầu vào, làm

giảm hiệu quả hoạt động tín dụng của Ngân hàng. Mặt khác có sự cạnh tranh

của các tổ chức tín dụng hoạt động trên cùng địa bàn tăng lãi suất huy động

vốn để thu hút khách hàng gửi tiền vào tổ chức mình, từ đó thị phần bị chi



phối thu hẹp. Bên cạnh đó, đời sống một bộ phận dân cư còn nghèo, do đó

cơng tác huy động vốn của Ngân hàng còn gặp nhiều khó khăn. Nhận thức

được trách nhiệm của mình trong việc đầu tư vốn phục vụ phát triển kinh tế

trên địa bàn, với khối lượng đầu tư lớn như vậy đã giúp cho các thành phần

kinh tế, nhất là hộ nông dân đủ vốn để sản xuất, khơi dậy tiềm năng lao động

sẵn có tại địa phương, hạn chế và đẩy lùi nạn cho vay nặng lãi trên địa bàn

Huyện Tân Hiệp.

4.2.1.6. Hệ số thu nợ.

Chỉ tiêu này đánh giá hoạt động tín dụng trong việc thu hồi nợ. Nó

phản ánh trong thời kỳ nào đó, ứng với doanh số cho vay Ngân hàng thu được

bao nhiêu đồng vốn (hệ số này đối với NHNo&PTNT chi nhánh huyện Tân

Hiệp

trung bình khoảng 85,09% trong 03 năm 2006, 2007, 2008).

H Ệ S Ố THU N





Đ VT: %



N ă m 2008

N ă m 2007



H ệ s ố thu n ợ



N ă m 2006

0



50



100



Hình 14. Hệ số thu nợ.

Qua bảng số liệu ở bảng các chỉ tiêu (chỉ tiêu thứ 9) và biểu đồ minh họa

hình 14 cho thấy hệ số thu nợ của NHNo&PTNT Huyện Tân Hiệp ln vượt

mức trung bình, năm 2006 là 85,90%, năm 2007 giảm xuống nhưng không

giảm mạnh nên đạt trên trung bình là 74,57% và năm 2008 tăng trưởng trở

lại đạt đến 94,18%, điều này cho thấy uy tín của NHNo& PTNT Huyện Tân

Hiệp rất cao. Có được kết quả này là nhờ vào sự nỗ lực cố gắng của các cán



bộ tín dụng. Cán bộ tín dụng đã cho vay đúng đối tượng, làm tốt khâu thẩm

định trước khi cho vay, kiểm tra sau khi cho vay, nhắc nhở khách hàng trả nợ

khi nợ gần đến hạn nên kết quả thu hồi nợ mới tốt như vậy. Điều kiện tự

nhiên - xã hội cũng có vai trò quyết định không nhỏ đến kết quả sản xuất

kinh doanh của nông hộ, cho thấy đầu tư vào sản xuất nông nghiệp, chăn

nuôi và ngành nghề khác phục vụ cho nông hộ là một giải pháp đúng của

NHNo& PTNT Huyện Tân Hiệp.



4.2.1.7. Vòng quay vốn tín dụng.

VỊNG QUAY V



Ố N TÍN D



Ụ NG

Đ VT: L ầ n



N ă m 2008

N ă m 2007



Vòng quay v

tín d ụ ng



N ă m 2006

0



0.5



1



1.5



ốn



2



Hình 15. Vòng quay vốn tín dụng.

Vòng quay vốn tín dụng có sự ổn định và ln đạt tiêu chuẩn đặt ra

của chi nhánh là trên 1 vòng để đo lường tốc độ luân chuyển vốn tín dụng,

thời gian thu hồi vốn nhanh hay chậm. Từ bảng đánh giá hiệu quả hoạt động

ở trên (chỉ tiêu 10- vòng quay vốn tín dụng) ta thấy vòng quay vốn tín dụng

của Ngân hàng đều tăng qua các năm. Cụ thể năm 2006 là 1,30 lần; Năm

2007 đạt được 1,48 lần, tăng 0,18 lần so với năm 2006. Sang năm 2008 là

1,81 lần, tăng 0,33 lần so với năm 2006.



Nhìn chung, vòng quay vốn tín dụng của NHNo & PTNT Huyện Tân Hiệp

khá ổn định và có xu hướng tăng dần qua các năm, tức là mức dư nợ và dư

nợ bình quân tăng đều qua các năm. Nguyên nhân là do NHNo & PTNT

Huyện Tân Hiệp cho vay chủ yếu là ngắn hạn, không cho vay dài hạn và cho

vay trung hạn chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ nên vòng quay vốn tín dụng vẫn giữ được

tốc độ tăng đều, Mặt khác, công tác chỉ đạo thu hồi nợ của Ngân hàng tốt,

khách hàng vay vốn làm ăn có hiệu quả, Ngân hàng đầu tư đúng hướng giúp

khách hàng vay vốn trả được gốc và lãi tiền vay nên góp phần giữ ổn định

vòng quay vốn tín dụng.

4.3. PHÂN TÍCH CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG.

Nhìn chung hoạt động tín dụng của Ngân hàng trong thời gian qua

ln tăng trưởng, góp phần mang lại lợi nhuận cho Ngân hàng. Song cùng

với việc mở rộng tín dụng ít nhiều sẽ tiềm ẩn những rủi ro.

Đối với khoản cho vay khi đến hạn trả nợ mà khách hàng khơng trả nợ đúng

hạn thì có thể chuyển sang nhóm nợ xấu. Nếu khách hàng vì những nguyên

nhân khách quan nên khơng trả được nợ đúng hạn thì có thể làm đơn xin gia

hạn hoặc điều chỉnh kỳ hạn nợ, nếu được chi nhánh đồng ý thì được điều

chỉnh kỳ hạn nợ hoặc được gia hạn nợ. Sau khi hết thời gian gia hạn hoặc

điều chỉnh kỳ hạn nợ mà khách hàng vẫn khơng trả được nợ cho chi nhánh

thì nợ đó được chuyển sang nhóm nợ xấu. Còn nếu khách hàng khơng có đơn

xin gia hạn hoặc điều chỉnh kỳ hạn nợ, tất yếu chi nhánh cũng chuyển nợ đó

sang nhóm nợ xấu ngay sau khi hết hạn.

Nợ xấu là một trong những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng của

ngân hàng và đây là một vấn đề rất đáng quan tâm bởi vì khơng những nó

phản ánh mức độ hiệu quả tín dụng mà còn chứng tỏ năng lực quản lý của

đội ngũ, nhân viên ngân hàng đó có tốt hay khơng, từ đó tăng sức cạnh tranh,

hoạt động ngân hàng được bền vững hơn. Nếu không quản lý tốt các món nợ



này nó sẽ trở thành các khoản nợ khó có khả năng thu hồi làm giảm hiệu quả

kinh doanh của chi nhánh.

4.3.1. Nợ xấu.

Bảng 14: Tình hình nợ xấu qua 03 năm tại NHNo&PTNT Chi nhánh

huyện Tân Hiệp

ĐVT: Triệu đồng

Khoản mục

Nợ xấu



Năm



Năm



Năm



So sánh



2006



2007



2008



Số tiền



%



Số tiền



%



334



331



678



-3



-0,9



347



104,83



( Nguồn: Phòng Kế hoạch- Kinh doanh NHNo&PTNT Chi nhánh huyện Tân Hiệp)



TÌNH HÌNH NỢ XẤU QUA 03 NĂM CỦA NHNo&PTNT

CHI NHÁNH HUYỆN TÂN HIỆP

Đ VT: Tri ệu đồ ng

334

Năm 2006



Năm 2007

678

331



Năm 2008



Hình 16: Tình hình nợ xấu qua 03 năm của NHNo&PTNT Chi nhánh

huyện Tân Hiệp

Nhìn vào bảng 14 và hình 16 ta thấy: Nợ xấu của NHNo&PTNT Chi

nhánh Huyện Tân Hiệp qua ba năm tăng, giảm không ổn định. Cụ thể năm

2006, tổng nợ xấu là 334 triệu đồng, năm 2007 là 331 triệu đồng, giảm so với

năm 2006 là 3 triệu đồng. Năm 2008, tăng 347 triệu đồng so với năm 2007,

tức nợ xấu là 678 triệu đồng. Nguyên nhân nợ xấu năm 2008 tăng lên là do

tình hình thiên tai (chủ yếu là do rầy nâu và bệnh vàng lùn xoắn lá ở lúa),



bệnh lở mồm long móng trên heo, bò, dịch cúm gia cầm, thêm vào đó là giá

cả sản phẩm nơng sản lại giảm thấp. Đã ảnh hưởng đáng kể đến thu nhập của

người dân,chính vì vậy mà một số hộ vay gặp khó khăn trong việc trả nợ vay

cho Ngân hàng.

Để hiểu rõ hơn về tình hình nợ xấu ta phân chia nợ xấu theo thành phần

kinh tế và theo thời hạn. Trước hết ta xem xét:

4.3.1.1. Nợ xấu theo thành phần kinh tế:

Theo thành phần kinh tế ta có bảng số liệu về tình hình nợ xấu ở bảng số

liệu 14 dưới đây:

Bảng 15. Nợ xấu theo thành phần kinh tế qua 03 năm tại NHNo&PTNT

Chi nhánh huyện Tân Hiệp.

(ĐVT: Triệu đồng)

Năm

Khoản

mục



Doanh

nghiệp

Hộ gia đình,

cá thể

Tổng

cộng



2006



So sánh



2007



2008



2007/2006



2008/2007



Tỷ

trọng

(%)



Số

tiền



Tỷ

trọng

(%)



Số

tiền



Tỷ

trọng

(%)



Số

tiền



0



0



0



0



0



0



0



0



0



0



334



100



331



100



678



100



-3



-0,9



347



104,83



334



100



331



100



678



100



-3



-0,9



347



104,83



Số

tiền



Số

tiền



%



%



(Nguồn: Phòng Kế hoạch Kinh doanh NHNo&PTNT Chi nhánh huyện Tân Hiệp)



Nhìn vào bảng số liệu 14 phản ánh nợ xấu theo thành phần kinh tế, ta

nhận thấy: Đối với thành phần doanh nghiệp thì trong ba năm 2006, 2007,

2008 nợ xấu là khơng có. Cho thấy khối doanh nghiệp trong các năm qua

thực hiện kinh doanh có hiệu quả và khả năng thu nợ của Chi nhánh là tốt

cũng như cán bộ tín dụng của Chi nhánh có khả năng thẩm định phương án



và cơng tác phân tích tình hình tài chính đối với các doanh nghiệp này là

nghiêm túc và chính xác.

Đối với hộ gia đình- cá thể, nợ xấu trong năm 2006 là 334 triệu đồng.

Sang năm 2007, nợ xấu còn 331 triệu đồng, so với năm 2006 là giảm khoảng

0,9%, với số tuyệt đối là 3 triệu đồng. Nhưng đến năm 2008, dư nợ đối với

thành phần này là 678 triệu đồng, tức là tăng 347 triệu đồng, với tỷ lệ tăng

tương ứng 104,83%. Nợ xấu đối với hộ gia đình- cá thể tăng lên trong năm

2008 là do tình hình thiên tai(chủ yếu là do rầy nâu và bệnh vàng lùn xoắn lá

trên cây lúa), bệnh lở mồm long móng trên heo, bò, dịch cúm gia cầm, thêm

vào đó là giá cả sản phẩm nơng sản lại giảm thấp. Tình hình này đã ảnh

hưởng đáng kể đến thu nhập của người dân, chính vì vậy mà một số hộ vay

gặp khó khăn trong việc trả nợ vay cho Ngân hàng. Nhìn lại tình hình nợ xấu

theo thành phần kinh tế của ngân



Hình 17. Nợ xấu theo thành phần kinh tế qua 03 năm của NHNo&PTNT

Chi nhánh huyện Tân Hiệp.



4.3.1.2. Nợ xấu theo thời hạn.

Bảng 16. Nợ xấu theo thời hạn của NHNo&PTNT Chi nhánh huyện Tân

Hiệp qua 03 năm.

(ĐVT: Triệu đồng)

Năm

Khoản

mục



Ngắn

hạn

Trung

hạn

Tổng

cộng



2006



So sánh



2007



2008



2007/2006



2008/2007



Số

tiền



Tỷ

trọng

(%)



Số

tiền



Tỷ

trọng

(%)



Số

tiền



Tỷ

trọng

(%)



Số

Tiền



%



Số

tiền



%



65



19,46



93



28,1



596



87,9



28



43,08



503



540,86



269



80,54



238



71,9



82



12,1



-31



-11,52



-156



-65,55



334



100



331



100



678



100



-3



-0,90



347



104,83



(Nguồn: Phòng Kế hoạch Kinh doanh NHNo&PTNT Chi nhánh huyện Tân Hiệp)



Từ bảng 16 ta thấy, năm 2006 nợ xấu ngắn hạn là 65 triệu đồng chiếm

tỷ trọng là 19,46% trong tổng nợ xấu. Sang năm 2007 là 93 triệu đồng tăng

lên 28 triệu đồng tương đương 43,08% so với năm 2006, chiếm tỷ trọng

28,10% trong tổng nợ xấu, trong năm này thu nhập người dân có phần khơng

ổn định nên việc tự giác đến Ngân hàng trả nợ là thấp và một số hộ vay đã cố

tình khơng trả nợ dẫn đến việc nợ xấu tăng lên. Đến năm 2008, nợ xấu đã

tăng lên 596 triệu đồng, chiếm đến 87,9% trong tổng nợ quá hạn năm 2008,

tăng đến 540,86%, tương đương tăng với số tuyệt đối là 503 triệu đồng.



Nguyên nhân tăng nợ xấu ngắn hạn là do trong những năm này Chi nhánh

tập trung cho vay ngắn hạn và yếu tố khách quan là do tình hình thiên tai tại

địa phương (mất mùa, dịch cúm gia cầm, giá cả nông sản lại xuống thấp,..)

ảnh hưởng trực tiếp đối với thu nhập của người dân, gây khó khăn trong việc

trả nợ cho ngân hàng.

Đối với nợ xấu trung hạn thì giảm dần qua các năm, năm 2006 nợ xấu

là 269 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 80,54% trong tổng nợ xấu năm 2006. Năm

2007 nợ xấu giảm xuống so với năm 2006 là 31 triệu đồng, giảm với tỷ lệ là

11,52%, tỷ trọng cũng giảm xuống còn 71,9%. Sang năm 2008, nợ xấu trung

hạn tiếp tục giảm xuống 156 triệu đồng so với năm 2007, nợ xấu chỉ còn 82

triệu đồng , tỷ lệ giảm tương ứng là 65,55%, tỷ trọng giảm xuống chỉ còn

12,1% trong tổng nợ xấu. Việc giảm nợ xấu trung hạn trong những năm qua

là do khi vay vốn trung hạn người dân có thể xoay chuyển vốn vay và thu

nhập từ nhiều nguồn khác nhau để đảm bảo trả nợ đúng hạn, nếu như năm

đầu nông dân bị thất mùa thì qua năm sau có thể cải thiện kịp thời để trả nợ,

bên cạnh đó Ngân hàng còn tiến hành cho vay bổ sung để trả phần nợ đã đến

hạn mà chưa có tiền để trả và hạn chế cho vay trung hạn cũng như tăng thu

nợ đối với loại hình này. Chính vì vậy nên nợ xấu trung hạn giảm dần với tốc

độ tương đối nhanh trong những năm qua.

Kết quả phân tích trên cho thấy kể cả cho vay theo thời hạn hay theo

thành phần kinh tế đều chứa đựng nhiều rủi ro về khả năng thanh toán, do

cho vay thời gian kéo dài trong khi đó tình hình kinh tế ln có những biến

động bất ngờ. Nhưng nhìn chung nợ quá hạn của Chi nhánh vẫn còn ở mức

thấp và có thể chấp nhận được. Và từ năm 2009 trở về sau, chi nhánh sẽ thực

hiện kiểm soát chặt chẽ các khoản nợ đặc biệt là các khoản nợ ngắn hạn và

hộ gia đình- cá thể để khống chế mức gia tăng nợ xấu mới, đồng thời chỉ đạo

cán bộ xử lý, giám sát và đôn



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 13:Một số chỉ tiêu về hoạt động tín dụng:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×