Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3, Phân tích chi tiết

3, Phân tích chi tiết

Tải bản đầy đủ - 0trang

tăng 5,37 % .Sự tăng lên của khối lượng hàng hố vận chuyển ở tuyến 1 có thể do các

ngun nhân sau :

-Nguyên nhân thứ 1 : Nhu cầu hàng hoá trong nước tăng cao nên nhập khẩu

hàng hoá cũng tăng .

- Nguyên nhân thứ 2 : Uy tín của công ty trên tuyến ngày càng tăng

- Nguyên nhân thứ 3: Việc nâng cấp, cải tiến kỹ thuật đảm bảo cho tàu trên

tuyến hoạt đơng liên tục mất ít thời gian sửa chữa.

- Nguyên nhân thứ 4 : Do khả năng kết hợp hàng hố vận chuyển trên tuyến

tăng.

Phân tích

- Nguyên nhân thứ nhất : nhu cầu hàng hoá trong nước tăng cao nên nhập

khẩu hàng hoá cũng tăng do kinh tế đất nước trong kỳ gốc chưa ôn định cho nên nhu

tiêu thụ cầu hàng hoá nhập khẩu chưa cao . Ở kỳ nghiên cứu , nền kinh tế phát triển

mạnh nâng cao thu nhập của người dân từ kích thích nhu cầu tiêu dùng hàng hố chất

lượng nhập khẩu từ nước ngồi qua đó có nhiều đơn hàng thuê vận chuyển hàng về

Việt Nam hơn kỳ gốc . Việc đó đã làm tăng khối lượng vận chuyển của công ty .Đây

là nguyên nhân khánh quan , nguyên nhân này có tác tích động tích cực đến hoạt động

sản xuất kinh doanh của công ty. Doanh nghiệp cần chú yếu xem nhu cầu vận chuyển

là loại hàng gì để đầu tư đội tàu một cách hiệu quả .

Nguyên nhân thứ hai : Uy tín của cơng ty ngày càng tăng: Trong kỳ nghiên

cứu,nhờ nâng cao chất lượng phục vụ, giảm thời gian làm thủ tục cho khách hàng,

công tác bảo quản và vận chuyển hàng tốt đáp ứng nhu cầu của khách hàng, thương

hiệu của công ty không ngừng nâng cao trên thị trường vận tải. Nhiều chủ hàng mới

đã biết đến công ty làm cho khối lượng hàng vận chuyển trong kỳ tăng lên rõ rệt.

Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tích cực. Doanh nghiệp cần phát huy bằng

các biện pháp như: không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ, giữ uy tín với khách

hàng, đảm bảo giao hàng đúng thời gian, địa điểm, nghiên cứu để tiết kiệm chi phí

khai thác, hạ giá thành vận chuyển, nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty.

Nguyên nhân thứ 3 : do xác định tuyến 1 là một tuyến khai thác quan trọng

của công ty nên ở thời điểm cuối năm của kỳ gốc cứu công ty nâng cấp trang thiết bị

trên tàu, sữa chữa những thiết bị hỏng hóc để nâng cao hiểu quả khai thác của tàu trên

tuyến. Chính vì vậy mà trong kỳ nghiên cứu thời gian sửa chữa của tàu là ít hơn so với

Cao Tùng Dương-57838



Page 15



kỳ gốc, thời gian nghiên cứu giảm đã đẩy thời gian khai thác trong năm trên tuyến

tăng kết quả dẫn đến khối lượng hàng hóa vận chuyển trên tuyến trong kỳ nghiên cứu

là tăng so với kỳ gốc. Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực đến hoạt

động kinh doanh của cơng ty. Tiếp tục chú trọng sửa chữa bão dưỡng tàu một cách

định kỳ .Thường xuyên , thay thế những thiết bị kĩ hoạt động kém hiệu quả .

Nguyên nhân thứ 4 : do trong kỳ gốc khả năng kết hợp hàng hóa vận chuyển

trên tuyến là chưa cao dẫn đến tình trạng vẫn còn thừa những chỗ trống trên tàu khai

thác trên tuyến nhưng sang đến kỳ nghiên cứu tình trạng này là thay đổi theo chiều

hướng có lợi cho cơng ty, chỗ trống trên tàu đã giảm thay vào đó khối lượng hàng hóa

trên tàu tăng. Sự tăng này là do bộ phận khai thác của cơng ty đã có sự kết hợp linh

động giữa các mặt hàng vận chuyển trên tuyến, đảm bảo cho tàu khai thác hết trọng tải

hết dung tích.Chính vì vậy mà khối lượng hàng vận chuyển ở kỳ nghiên cứu so với kỳ

gốc là tăng. Đây là ngun nhân chủ quan có tác động tích cực đến hoạt động kinh

doanh của công ty. Biện pháp duy trì và phát triển : Tăng cường tuyển dụng thêm

những người quản lí có năng lực để có thể khai thác tối đa trọng tải của tàu

1.2 Cự ly vận chuyển bình quân

Cự ly vận chuyển bình quân ở kỳ nghiên cứu của tuyến 1 là 2.058 Km giảm

33,48 % so với kỳ gốc(3.094 Km) hay giảm 1.036 Km . Cự ly vận chuyển bình quân

của tuyến 1 giảm làm tổng khối lượng hàng luân chuyển của công ty giảm một lượng

là 133.293.116 Tkm hay giảm 8,53% .Sự giảm của cự ly vận chuyển bình qn ở

tuyến 1 có thể do các nguyên nhân sau :



-Nguyên nhân thứ 1 : Hoạt động chủ yếu ở tuyến vận tải nội địa

- Nguyên nhân thứ 2 : Sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các công ty vận

chuyển trên tuyến

- Nguyên nhân thứ 3 : Điều kiện thời tiết trên tuyến thuận lợi

- Nguyên nhân thứ 4 : Sự chuyên nghiệp trong việc khai thác của thuyền viên.

Phân tích chi tiết từng nguyên nhân :

Cao Tùng Dương-57838



Page 16



_ Nguyên nhân thứ 1 : Hoạt động chủ yếu yếu ở tuyến vận tải nội địa. Do

chính sách mới của nhà nước, ở kỳ nghiên cứ bộ GTVT đã tạm ngừng cấp phép cho

các tàu nước ngồi vận chuyển nội địa. Chính sách mới này của nhà nước đã tạo điều

kiện rất lớn để phục hồi ngành vận tải nội địa. Do đó , cơng ty vận tải nước ngồi ngày

càng ít hoạt động trong tuyến nội địa. Nhà nước đã và đang bảo hộ vận tải trong nước

nhằm khôi phục nghành kinh tế mũi nhọn này . Điều này đã tạo cơ hội cho công ty

khai thác được nhiều đơn vận tải hàng nội địa ở kỳ nghiên cứu nhiều hơn . Vì là chủ

yếu vận chuyển tuyến nội địa nên cự ly vận chuyển đã giảm. Đây là nguyên nhân

khách quan và có ảnh hưởng tích cực đến cơng ty. Điều mà cơng ty cần lưu tâm hơn

chính là việc nâng cao chất lượng phục vụ hơn để tìm kiếm nhiều đơn hàng hơn nữa.

- Nguyên nhân thứ 2 Ở kỳ gốc cơng ty khai thác trên tuyến đường ít sự cạnh

tranh với công ty khác nên cự li vận chuyển của công ty lớn . Khi bước vào kỳ

nghiên , những công ty khác nhận thấy được tiềm năng phát triển khai thác vận tải

trên tuyến 2 . Do đó , ngày càng có nhiều cơng ty hoạt động trên tuyến mà nhu cầu

vận chuyển trên tuyến tăng không đáng kể . Đồng thời , các công ty canh tranh đều là

những doạnh nghiệp và có uy tín trong ngành vận tải .Vì vậy , cơng ty ngày càng khó

khăn trong việc kí kết những hợp đồng vận chuyển trên tuyến . Đây là nguyên nhân

khách quan có tác động tiêu cực đến hoạt động của công ty . Biện pháp cho nguyên

nhân tiêu cực này là cần đẩy mạnh việc tìm nguồn hàng trên các tuyến, giữ quan hệ

tốt với các bạn hàng bằng cách cung cấp dịch vụ tốt và có một số ưu đãi cho các bạn

hàng quen.

-Nguyên nhân thứ 3 : Trong kỳ nghiên cứu tình hình thời tiết trên tuyến

đường mà tàu khai thác gặp nhiều thuận lợi hơn so với kỳ gốc, tàu chạy trên tuyến

khơng còn bị ảnh nhiều bởi các ngun nhân như dòng hải lưu , mữa , bão ,.. với kỳ

gốc. Chính vì vậy mà tàu trên tuyến khơng phải chạy vòng như so với kỳ gốc.Và đội

tàu của cơng ty có thể vận hành một cách an tồn và thuận lợi để đưa hàng hóa đến

cảng đích nhanh nhất có thể vì khi điều kiện thời tiết thuận lợi thì tàu sẽ khơng phải

ghé vào cảng dọc đường để tránh bão . Vậy nên quãng đường mà tàu chạy ở kỳ

nghiên cứu đã được rút ngắn so với kỳ gốc điều này dẫn đến cự ly vận chuyển bình



Cao Tùng Dương-57838



Page 17



quân ở kỳ nghiên cứu giảm so với kỳ gốc. Đây là nguyên nhân khách quan có tác

động tích cựu đến tình hình sản xuất kinh doanh của công ty.

- Nguyên nhân thứ 4 : Xác định tầm quan trọng của tuyến 1 nên công ty đã

mở một số lớp đào tạo ngắn hạn về cách vận hành hiệu quả tàu cho thuyền viên trên

tàu, đồng thời trang bị cho thuyền viên những trang thiết bị cần thiết để vạch ra quãng

đường đi sao có lợi nhất, rút ngắn được hành trình từ cảng xếp đến cảng dỡ. Chính vì

điều này mà sang kỳ nghiên cứu thun viên trên tàu đã vạch ra quãng đường từ cảng

xếp đến cảng dỡ ngắn hơn so với kỳ gốc đến cự ly vận chuyển bình quân của tuyến 4

ở kỳ nghiên cứu giảm so với kỳ gốc. Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tích

cựu đến việc hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Để công ty có thể phát triển

hơn nữa thi cần quan tâm đến chính sách lương , thưởng cho thuyền viên .

2 .Tuyến 2

Qua bảng phân tích, khối lượng hàng hố ln chuyển ở tuyến 2 ở kỳ nghiên

cứu tăng 53,22 % so với kỳ gốc , ảnh hưởng tiêu cực đến tổng khối lượng hàng hố

ln chuyển của cơng ty làm tổng khối lượng luân chuyển tăng 177.132.621 Tkm ,

hay tăng 11,34% . Sự thay đổi này do các nhân tố đó là khối lượng vận chuyển và cự

ly vận chuyển bình quân của tuyến 2

2.1 Khối lượng vận chuyển bình quân

Khối lượng vận chuyển của tuyến 2 ở kỳ nghiên cứu nhiều hơn kỳ gốc một

lượng là 27.221 T , hay đạt 125,53 % so với kỳ gốc . Khối lượng vận chuyển của

tuyến tăng làm cho khối lượng hàng hố ln chuyển của cơng ty là 84.956.741 Tkm

hay 5,44 % . Sự tăng lên của khối lượng hàng hoá vận chuyển ở tuyến 1 có thể do các

nguyên nhân sau :

-Nguyên nhân thứ 1 : Doanh nghiệp mua thêm tàu trọng tải lớn

-Nguyên nhân thứ 2 : Doanh nghiệp làm tốt cơng tác đại lý tìm ra được nhiều

nguồn hàng

-Nguyên nhân thứ 3 : Tình hình sản xuất hàng lúa gạo trong nước được mùa

Cao Tùng Dương-57838



Page 18



-Nguyên nhân thứ 4 : Do làm ăn thua lỗ nên đối thủ cạnh tranh truyền thống

với cảng biển đã rút lui khỏi thị trường.

Phân tích nguyên nhân

Nguyên nhân thứ 1 Ở kỳ gốc, công ty nhận thấy quy mô đội tàu chưa đủ khả

năng đáp ứng nhu cầu vận chuyển ngày càng tăng, nên sang kỳ nghiên cứu đã quyết

định đầu tư mua thêm tàu có trọng tải lớn góp phần cải tiến đội tàu. Nhờ đó mà khả

năng khai thác của đội tàu tăng lên đáng kể, cơng ty có thể mở rộng phạm vi vận

chuyển, ký kết thêm nhiều hợp đồng nữa làm tăng khối lượng hàng hoá vận chuyển

của cơng ty, từ đó có tác động làm tăng khối lượng hàng hoá luân chuyển trong tuyến

2. Đây là ngun nhân chủ quan, tích cực. Biện pháp là cơng ty tiếp tục đầu tư pháp

triển đội tàu nếu lượng hàng trên tuyến đường vẫn còn tăng .

Nguyên nhân thứ 2 Cơng tác đại lí và mơi giới là một khâu quan trọng trong

công tác khai thác tàu . Người đại lí và mơi giới thay mặt chủ tàu tìm nguồn hàng và

ký hết các hợp đồng vận chuyển vớii khách hàng . Trong kỳ gốc , công ty ký hợp đồng

với một đại li mới thành lập cho nên kinh nghiệm hoạt hoạt động của đại lí đó chưa

được tốt nguồn hàng cung cấp cho cơng ty còn ít . Sang đầu kỳ nghiên cứu , công ty

đã chuyển qua hợp tác với đại lý có uy tín trong khu vực và có chế độ đãi ngộ hậu

hĩnh đối với họ do đó nguồn hàng mà họ cung cấp cho công ty là rất lớn khiến khối

lượng vận chuyển trong kỳ nghiên tăng lên đáng kể so với kỳ gốc . Đây là nguyên

nhân chủ quan có tác động tích cực vào hoạt đơng kinh doanh của cơng ty . Biện pháp

đưa ra là đẩy mạnh công tác đại lí tìm ra nhường nguồn hàng có lợi nhuận cao và

thường xuyên .

Nguyên nhân thứ 3 : Tình hình sản xuất hàng lúa gạo trong nước được mùa .

Ở kỳ nghiên cứu , nhờ áp dụng những thành tựu khoa học vào quá trình sản xuất gạo

nên năng suất của lúa gạo trong nước ở kỳ nghiên cứu nhiều hơn so với kỳ gốc . Năng

suất ngày tăng nên nhu cầu xuất khẩu ra nước ngoài để thu về lợi nhuận ngày càng lớn

. Những công ty trong nước muốn xuất khẩu ra nước ngồi sẽ ưu tiên th cơng ty

trong nước để xuất khẩu do đó đã đem lại cho công ty nhiều hơn hàng hơn kỳ gốc .

Kết quả là khối lượng vận chuyển ở kỳ nghiên cứu tăng đáng kể so với kỳ gốc . Đậy

Cao Tùng Dương-57838



Page 19



là nguyên nhân khách quan , có tách động tích cực vào hoạt đơng sản xuất kinh doanh

của cơng ty . Biện pháp khuyến nghị là công ty cần nâng cao chất lượng phụng vụ để

đáp ứng tốt nhất nhu cầu khách hàng trong nước .

Nguyên nhân thứ 4 : Tình hình thị trường và thị phần ngày càng trở nên gay

gắt và khó khăn. Chỉ những cơng ty nào có đủ sức cạnh tranh, cơng tác tổ chức, quản

lý thật tốt thì mới có thể trụ vững trên thị trường. Ở kỳ nghiên cứ, do nhận thấy không

đủ năng lực để tiếp tục kinh doanh nên một số đối thủ của công ty đã rút khỏi thị

trường, nhường lại thị phần cho các cơng ty còn lại. Nắm bắt được điều này, công ty

tiếp tục thiết lập các mối quan hệ với khách hàng, nâng cao chất lượng dịch vụ để thu

hút thêm được nhiều khách hàng. Do đó, tổng sản lượng trong tháng của cơng ty đã

tăng cao. Đây là nguyên nhân khách quan, ảnh hưởng tích cực đến tổng sản lượng của

công ty.

2.2 Cự ly vân chuyển bình qn

Quan bảng phân tích , ta thấy cự ly vận chuyển bình quan của tuyến 2 ở kỳ

nghiên cứu là 3.810 Km tăng 22,08 % so với kỳ nghiên cứu , hay tăng 689 T so với kỳ

nghiên cứu , đây là nghiên nhân chính dẫn đến sự tăng khối lượng hàng hố ln

chuyển của tuyến 2 . Cự li vận chuyển bình quân tăng làm cho tổng khối lượng hàng

hố ln chuyển của cơng ty tăng 92.175.880 Tkm , hay 5,9 % . Sự tăng của cự ly vận

chuyển ở tuyến 2 có thể do các nguyên nhân sau :



-Nguyên nhân thứ nhất do điều kiện thủy văn ở các cảng xếp là không tốt.

- Nguyên nhân thứ 2 Doanh nghiệp mở rộng phạm vi hoạt động

- Nguyên nhân thứ 3 Tàu phải ghé vào cảng phụ để cung ứng thêm nước ngọt

và nhu yếu phẩm

- Nguyên nhân thứ 4 Đội tàu mới được đưa vào khai thác

Phân tích nguyên nhân



Cao Tùng Dương-57838



Page 20



-Nguyên nhân thứ nhất : Trong kỳ nghiên cứu điều kiện thủy văn ở cảng xếp

diễn biến theo chiều hướng ảnh hưởng xấu đến quãng đường tàu vào cảng xếp hàng,

quá trình lạo vét luồng hàng hải của cảng chưa được thực hiện chính vì vậy tàu phải

thay đổi quãng đường vào cảng xếp theo chiều hướng tăng quãng đường vào cảng, để

đảm bảo cho tàu vào cảng một cách an tồn chính điều này ảnh hương đến cự ly vận

chuyển bình quân của kỳ nghiên cứu so với kỳ gốc là tăng . Đây là nguyên nhân khách

quan , ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh doanh của công ty .

-Nguyên nhân thứ 2 Trong kỳ nghiên cứu, công ty nhận thấy lượng hàng hoá

ở xa vẫn chưa khai thác hết và còn nhiều tiềm năng phát triển nên cơng ty đã tiến hành

tìm kiếm được nhiều bạn hàng ở tuyến xa , việc đó giúp cho cơng ty mở rộng phạm vi

hoạt động cuả tuyến . Do đó , Cự ly vận chuyển bình quân của tuyến 2 ở kỳ nghiên

cứu đã tăng đáng kể so với kỳ gốc . Đây là ngun nhân chủ quan có tác động tích cực

tới hoạt động của công ty . Đề xuất đưa ra là công ty cần tăng cường quảng cáo , mở

rộng thương hiệu tới các bạn hàng xa .

-Nguyên nhân thứ 3 Với tuyến này là một tuyến tương đối xa, thời gian vận

hành trên biển lâu ngày . Lương thực , nhu yếu phẩm khơng thể duy trì trên xun

suốt tuyến đường dài nên trên đường vận chuyển tàu phải ghé vào cảng phụ để cung

ứng thêm nước ngọt và nhu yếu phẩm làm tăng quãng đường tàu chạy. Dẫn đến tăng

cự ly vận chuyển bình quân của đội tàu trên chuyến. Đây là nguyên nhân chủ quan có

ảnh hưởng tiêu cực tới cự ly vận chuyển của tàu, kéo dài thời gian làm hàng. Để khắc

phục cần tổ chức tốt vấn đề chuẩn bị cho tàu hoạt động tuyến dài ngày.

-Nguyên nhân thứ 4 do một số con tàu mới đưa vào sử dụng trong kỳ nghiên

cứu, tàu hoạt động trên tuyến của công ty phần lớn là những tàu lớn, hiện đại . Chúng

có khả năng chạy tốt trên các tuyến xa . Đảm bảo tàu hoạt động an toàn, hiệu quả tốt

cho việc hoạt động trên tuyến nên công ty đã tăng được số chuyến trên cá tuyến xa

lên làm cho cự ly vận chuyển bình quân của quý tăng lên. Đây là nguyên nhân chủ

quan tích cực cơng ty cần tìm nhiều nguồn hàng trên tuyến để có thể khai thác tối đa

cơng suất của đội tàu .

3 . Tuyến 3

Cao Tùng Dương-57838



Page 21



Qua bảng phân tích ta , khối lượng hàng hố ln chuyển của tuyến 3

giảm từ 682.802.104 Tkm ở kỳ gốc tới 621.996.945 Tkm ở kỳ nghiên cứu . Từ đó ta

thấy , khối lượng hàng hoá luân chuyển kỳ nghiên cứu chỉ đạt 91,09 % kỳ gốc hay kỳ

nghiên cứu giảm 60.805.159 Tkm so với kỳ gốc . Điều này tác động vào tổng khối

lượng vận chuyển của công ty giảm 3,89 % . Các nhân tố tác động vào sự biến động

này là khối lượng hàng hoá vận chuyển cự ly vận chuyển của tuyến 3

3.1 Khối lượng vận chuyển

Khối lượng hàng hoá vận chuyển ở kỳ nghiên cứu là 162.114 T bằng 129,34 %

so với khối lượng hàng hoá vận chuyển ở kỳ gốc ( 125.338 T ) , hay so với kỳ gốc

khối lượng hàng hoá luân chuyển tăng 36.775 T làm cho tổng khối lượng hàng hoá

luân chuyển của công ty tăng 200.350.200 TKm hay tăng 12,82 % .Sự tăng lên của

khối lượng hàng hoá vận chuyển ở tuyến 3 có thể do các nguyên nhân sau :

-Nguyên nhân thứ nhất : Tàu vận chuyển hàng có hệ số chất xếp nhỏ

- Nguyên nhân thứ 2 Do hạ giá cước vận chuyển

- Nguyên nhân thứ 3 Quá trình hội nhập kinh tế

-Nguyên nhân thứ 4 Tăng tân suất hoạt động của đội tàu trên tuyến

Phân tích nguyên nhân

Nguyên nhân thứ nhất Do kỳ gốc hàng hoá vận chuyển trên tuyến là hàng

hố có khối lượng nhỏ như thể tích lớn , sang kỳ nghiên cứu cơng ty đã ký nhiều hợp

đồng vận chuyển hàng than đá có hệ số chất xếp nhỏ hơn, tận dụng được trọng tải của

tàu, do đó làm tăng khối lượng hàng hố vận chuyển trên tuyến. Mặt khác loại hàng

này có cước vận chuyển cao hơn do đó làm tăng doanh thu của cơng ty. Đây là ngun

nhân chủ quan mang tính tích cực. Để đạt được hiệu quả kinh tế cao hơn, cơng ty cần

phải tính tốn, lựa chọn các đơn chào hàng phù hợp. Bên cạnh đó cơng ty cần phải đầu

tư thêm các trang thiết bị cho tàu, không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ nhằm

đáp ứng nhu cầu vận chuyển trên tuyến.

-Nguyên nhân thứ 2 nhờ tổ chức khai thác có hiệu quả nên ở kỳ nghiên cứu

cơng ty đã tiết kiệm được chi phí khai khác do đó cơng ty tiến hàng giảm giá cước mà

Cao Tùng Dương-57838



Page 22



vẫn giữ nguyên được chất lượng phục vụ. Việc giảm giá cước tạo ưu thế cạnh tranh

cao cho doanh nghhhiệp so với các đối thủ khác , giúp thu hút được nhiều khác hàng

hơn so với kỳ gốc . Tuy giá cước giảm nhưng do khối lượng hàng tăng nên doanh thu

của công ty tăng đáng kể . Đây là ngun nhân chủ quan , có tác động tích cực đến

hoạt động của công ty . Biện pháp : cơng ty nên tiếp tục duy trì việc tiết kiệm chi phí

khai thác như chi phí nhiên liệu , ...

-Nguyên nhân thứ 3 :Ở kỳ nghiên cứu , Việt Nam đã ký kết thêm nhiều hiệp

định , hiệp ước kinh tế quốc tế . Khi tham gia vào các hiệp định quốc tế là cơ hội để

Việt Nam có thể đưa hàng hố của Việt Nam ra nước ngồi , đồng thời hàng hố từ

nước ngồi có thể dễ dàng nhập khẩu vào Việt Nam . Do vậy , nhu cầu vận chuyển

của chủ hàng tăng cao giúp cho khối lượng hàng hoá vân chuyển ở kỳ nghiên cứu tăng

so với kỳ gốc . Đây là nguyên nhân khách quan có tác động tích cực . Doanh nghiệp

nên quan tâm vào chất lượng phục vụ của mình hơn nữa , đồng thời tăng cường công

tác quảng bá đề công ty được nhiều nhiều biết đến .

-Nguyên nhân thứ 4: Nhận thấy tầm quan trọng của tuyến , doang nghiêp tiến

hành tăng cường tần suất hoạt động trên tuyến ở kỳ nghiên cứu . Nhờ tăng việc khai

thác trên tuyến nên công ty đã khai thác được lượng hàng lớn hơn so với kỳ gốc .Đây

là nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực . Để phát triển tốt hơn cơng ty cần quan

tâm , chú trọng tình trạng kỹ thuật của đội tàu để có thể hoạt động tốt nhất .

3.2 Cự ly vận chuyển bình quân

Cự ly vận chuyển bình quân của tuyến 3 ở kỳ nghiên cứu là 3.837 km giảm

29,57 % so với cự ly vận chuyển bình quân của tuyến 3 ở kỳ gốc (5.448km), hay là

so với kỳ gốc cự ly vận chuyển bình quân ở kỳ nghiên cứu đã giảm 1.611 km, ảnh

hưởng làm khối lượng hàng luân chuyển giảm 261.155.359 TKm, hay giảm

16,71%.Cự ly vận chuyển bình qn là nhân tố chính làm cho khối lượng hàng hoá

luân chuyển của tuyến 3 giảm . Biến động của cự ly vận chuyển bình quân giảm có

thể do các nguyên nhân sau:

- Nguyên nhân thứ nhất : Tàu ít bị hư hỏng nên khơng phải ghé vào các

cảng dọc đường để sửa chữa.

Cao Tùng Dương-57838



Page 23



- Nguyên nhân thứ 2: Cước phí vận chuyển tăng

- Nguyên nhân thứ 3: Tình hình an ninh trên tuyến có nhiều bất ổn

- Nguyên nhân thứ 4: Uy tín của cơng ty bị giảm

Phân tích ngun nhân

-Ngun nhân thứ nhất : Trong kỳ gốc, trong quá trình khai thác trên tuyến

tàu của công ty hay gặp sự cố do hỏng đột ngột một số máy móc thiết bị chính dẫn đến

việc tàu phải ghé vào một số cảng trên tuyến hành trình của mình để sữa chữa. Sang

đến năm nghiên cứu, do việc nâng cấp trang thiết bị nên thiết bị trên tàu hỏng đột ngột

khơng còn xảy ra như ở kỳ gốc chính vì vậy mà cự ly vận chuyển bình quân ở kỳ

nghiên cứu đã giảm so với kỳ gốc. Đây là nguyên nhân chủ quan tác động tích cực

đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Doanh nghiệp cần thường xuyên quan

tâm đến đội tàu hơn nữa để không phải tốn thời gian vào việc sửa chữa

- Nguyên nhân thứ 2: Do đây là tuyến đường công ty mới đưa vào hoạt động

nên nhưng chi phí ban đầu vẫn còn cao , vì vậy đã kéo theo giá cước dịch vụ của công

ty cao hơn những công ty khác đang hoạt động trên cùng tuyến đường . Giá quá cao

nên không thu hút được đơn hàng . Đây là nguyên nhân khác quan , có tác động tiêu

cực đến hoạt động của cơng ty . Biện pháp khắc phục : Doanh nghiệp nên học theo

cách thức hoạt động hiệu quả của các công ty khác trên cùng tuyến 3 , đồng thời áp

dụng phương thức hoạt động của những tuyến đường đang hoạt động hiệu quả của

công ty

Nguyên nhân thứ 3: Ở đầu kỳ nghiên cứu , trên tuyến 3 xuất hiện cướp biển

trong khi đó việc tuần tra của lực lượng an ninh trên tuyến chưa hiệu quả . Để đảm

bảo an tồn cho đội tàu cơng ty phải hạn chế hoạt động trên tuyến . Do đó , cự ly vận

chuyển bình qn của cơng ty trong kỳ nghien cứu giảm đáng kể so với kỳ nghiên cứu

. Đây là nguyên nhân khác quan , có tác động tiêu cực . Biện pháp : Doanh nghiêp có

thể th cơng ty bảo vệ có năng lực cho đội tàu của cơng ty khi hoạt động trên tuyến 3

- Nguyên nhân thứ 4 :Vì ở kỳ nghiên cứu , Việc trả hàng hồ cho người thuê

vận chuyền có nhiều thiếu sót như giao hàng bị thiếu , hàng hoá bị hỏng trong quá

Cao Tùng Dương-57838



Page 24



trình vận chuyển , ... đã làm giảm uy tin của doanh dẫn đến cơng ty khơng có nhiều

hợp đồng thuê vận chuyển ở kỳ nghiên cứu . Đây là nguyên nhân chủ quan , tác động

tiêu cực đến hoạt đông kinh doanh của công ty . Biện pháp đề xuất : công ty cần đào

lại đội ngũ thuyền viên về công tác bảo quản , nâng cao ý thức trách nhiệm với công

với cho họ .

4 .Tuyến 4

Qua bảng phân tích , khối lượng hàng hố ln chuyển của tuyến 4 ở kỳ nghiên

cứu (68.208.542 Tkm) giảm 23 % so với kỳ gốc (89.061.144 Tkm ), tác động tổng

khối lượng hàng luôn chuyển của công ty giảm 20.852.602 Tkm hay giảm 1,3% . Sự

thay đổi của khối lượng hàng hoá luân chuyển của tuyến 4 do sự thây đổi của 2 nhân

tố đó là khối lượng vận chuyển của tuyến 4 và cự li vận bình quân của tuyến 4

4.1 Khối lượng vận chuyển

Khối lượng hàng vận chuyển của tuyến 4 ở kỳ nghiên cứu là 94.614 T bằng

67% so với khối lượng hàng hóa vận chuyển của tuyến 1 ở kỳ gốc(141.218T), hay là

so với kỳ gốc khối lượng hàng vận chuyển ở kỳ nghiên cứu đã giảm 46.604T, ảnh

hưởng tuyệt đối đến tổng khối lượng hàng luân chuyển của công ty







29.407.124TKm, giảm tương đối -1,88%. Đây là ngun nhân chính làm cho khối

lượng hàng hố luân chuyển của tuyến 4 giảm . khối lượng vận chuyển của tuyến 4

giảm có thể do các nguyên nhân sau :

- Nguyên nhân thứ nhất : Nhà nước đề ra chính sách hạn chế nhập khẩu thiết

bị máy móc đã cũ

- Nguyên nhân thứ 2 :Thời tiết của tuyến trong kỳ nghiên cứu biến động thất

thường

- Nguyên nhân thứ 3 : Công ty dừng một số tàu khai thác ở tuyến này

- Nguyên nhân thứ 4: Hàng hoá vận chuyển trên tuyến là hàng nhẹ, cồng kềnh

- Nguyên nhân thứ nhất: Lượng hàng chủ yếu mà công ty vận chuyển ở kỳ

gốc là máy móc thiết bị cũ nhưng sang kỳ nghiên cứu nhà nước đưa ra chính sách hạn

Cao Tùng Dương-57838



Page 25



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3, Phân tích chi tiết

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×