Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
*Theo hình thức đầu tư.

*Theo hình thức đầu tư.

Tải bản đầy đủ - 0trang

-24-



Cola, Procter & Gamble... không thuộc danh mục đầu tư trực tiếp của Mỹ ở

Việt Nam.

BẢNG 4

HÌNH THỨC ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA MỸ VÀO VIỆT NAM (1986-2000)



(Đơn vị: triệu USD)

STT



Hình thức đầu tư



Số dự án



Tỷ trọng



Tổng vốn



Tỷ trọng



1



100% vốn nước ngoài



61



60 %



503.6



47 %



2



Liên doanh



31



31 %



516



48 %



3



Hợp đồng hợp tác LD



9



9%



45.5



5%



Tổng



101



100 %



1,065.100



100 %



Nguồn: “Bộ Kế hoạch & Đầu tư”



Đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ chủ yếu được thực hiện dưới hình thức

100% vốn nước ngồi với 61 dự án (chiếm 60% số dự án), tổng vốn đầu tư

đăng ký là 503.6 triệu USD (chiếm 47%); 31 dự án liên doanh (chiếm 31%),

tổng vốn đầu tư đăng ký 516 triệu USD (chiếm 48%), 9 dự án hợp doanh

(chiếm 9%) với vốn đăng ký 45.5 triệu USD chiếm 5%.

Từ sau khi Mỹ chính thức xóa bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam vào

ngày 03/02/1994, hoạt động đầu tư trực tiếp của các cơng ty Mỹ vào Việt

Nam đã có bước nhảy vọt. Nhiều cơng ty và tập đồn kinh tế Mỹ vào Việt

Nam với mục đích là thăm dò hoạt động đầu tư của thị trường này. Chỉ riêng

năm 1994 - năm đầu tiên khi lệnh cấm vận được bải bỏ - số vốn đầu tư của

Mỹ vào Việt nam đã tăng vọt lên 120.310 triệu USD với 12 dự án, đưa nước

này lên vị trí thứ 14 trong danh sách các nhà đầu tư lớn nhất vào Việt nam.

So với cả giai đoạn 1988-1993, khi lệnh cấm vận còn hiệu lực, đầu tư

trực tiếp của Mỹ vào Việt nam với tổng số vốn đăng ký là 3.34 triệu USD.



-25-



Điều này cho thấy: trước khi Mỹ xoá bỏ cấm vận, các công ty của Mỹ đã rất

sốt ruột muốn được vào đầu tư kinh doanh tại Việt Nam, để có cơ hội cạnh

tranh với các công ty của Nhật Bản, Châu Âu và các nước khác.

Do đó khi huỷ bỏ lệnh cấm vận, các công ty Mỹ đã "nhảy" vào đầu tư ở

Việt Nam. Cụ thể, sau khi huỷ bỏ lệnh cấm vận 1 ngày, đã có 30 cơng ty mở

văn phòng đại diện tại Việt Nam, "mở đầu cuộc đấu tranh để giành trái tim và

ví tiền của người Việt nam". Chỉ vài năm sau đó, nhất là khi bình thường hố

quan hệ ngoại giao, đầu tư của Mỹ tại Việt nam đã tăng lên nhanh chóng. Các

dòng vốn ào ạt đổ vào Việt Nam như một minh chứng rõ ràng nhất cho sức

hấp dẫn của thị trường mới này với các nhà đầu tư Hoa Kỳ.

Cụ thể:



BẢNG 5

ĐẦU TƯ CỦA MỸ VÀO VIỆT NAM

(TÍNH ĐẾN 2001)



Năm



Số dự án



1994

1995

1996

1997

1998



12

19

16

12

15



Tổng số vốn đầu tư



Tỷ trọng



Quy mô dự án



(triệu USD)

120.310

397.871

159.722

98.544

306.955



(%)

8.57

28.34

11.38

7.02

21.87



(triệu USD)

10.03

20.94

9.98

8.21

20.46



-26-



1999

2000

2001

Tổng cộng



14

12

23

123



66.352

95.275

110.8

1.403,680



4.73

6.79

7.89

100



4.74

7.94

4.82

9.75



Nguồn: “Bộ Kế hoạch & Đầu tư”

Với quy mô và tốc độ đầu tư tăng khá lớn vào Việt nam, chỉ 2 năm sau

khi lệnh cấm vận được dỡ bỏ, Mỹ đã vượt lên thứ 6 trong danh sách 10 nhà

đầu tư lớn nhất vào Việt nam và chỉ sau Nhật, Đài Loan, Hàn Quốc,

Singapore và Thuỵ Điển. Năm 1995, đã tạo ra một bước đột biến mới với 19

dự án đầu tư của Mỹ với tổng số vốn đầu tư là 397.871 triệu USD. Đây là

năm đạt mức đầu tư cao kỷ lục cả về số lượng dự án lẫn số vốn đầu tư và quy

mô dự án, chiếm tới 28.34% tổng vốn đầu tư; 13.19% số dự án đầu tư, với

quy mơ dự án bình qn đạt 20.94 triệu USD - mức cao nhất từ trước đến giờ

của đầu tư Mỹ vào Việt Nam và cao hơn nhiều so với quy mô dự án của cả

giai đoạn (9.75 triệu USD). Vị trí này Mỹ tiếp tục giữ trong năm 1997, mặc

dù cả số dự án lẫn tổng vốn đầu tư của Mỹ vào Việt Nam giảm mạnh (trong

năm chỉ có thêm 12 dự án với tổng số vốn 98.544 triệu USD).

Sau hai năm theo xu hướng giảm sút, đầu tư của Mỹ vào Việt nam năm

1998 lại tạo được bước tăng đột biến với số vốn đầu tư tăng hơn 3 lần so với

năm trước, đạt 306.955 triệu USD với 15 dự án. Sang năm 1999 - năm ảm

đạm nhất trong lĩnh vực thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt nam đầu tư của Mỹ vào Việt nam cũng trong tình trạng chung. Mặc dù số dự án

đầu tư của Mỹ vào Việt Nam giảm không đáng kể so với năm trước, đạt

66.352 triệu USD. Nếu như năm 1995 được ghi nhận là năm đạt mức cao kỷ

lục về tổng vốn đầu tư, số dự án và quy mơ dự án thì năm 1999 đánh dấu mức

thấp nhất về tổng vốn đầu tư và quy mô dự án của vốn đầu tư trực tiếp của

Mỹ vào Việt nam. Quy mơ trung bình một dự án chỉ bằng 48.62% mức trung



-27-



bình của cả giai đoạn và chỉ gần bằng 1/4 so với mức tương ứng năm 1995.

Sự giảm sút này đã đẩy Mỹ xuống vị trí cuối cùng trong danh sách 10 nhà đầu

tư lớn nhất vào Việt Nam trong năm 1999.

Tính đến hết năm 2000, Mỹ chỉ chiếm 3.5% tổng vốn đầu tư trực tiếp

nước ngoài vào Việt Nam, xếp thứ 9 trong tổng số 13 nước này. Năm 2001,

đầu tư của Mỹ vào Việt Nam được cải thiện hơn với 23 dự án và tổng só vốn

đầu tư là 110.8 triệu. Điều này đã đưa Mỹ lên vị trí thứ 6 trong tổng số 10 nhà

đầu tư lớn vào Việt nam năm 2001. Mặc dù vậy, nếu so với các quốc gia khác

như Hà Lan - nước dẫn đầu đầu tư trực tiếp nước ngồi vào Việt nam năm

2001- thì tổng vốn đầu tư của Mỹ chưa bằng 1/5 của Hà Lan.

2.2.3.Giai đoạn từ 2001 – 2007.

Sự kiện Việt Nam và Hoa Kỳ bình thường hóa quan hệ thương mại và

đầu tư cùng với Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ có hiệu lực vào

ngày 10/12/2001 đã đánh dấu một mốc son mới trong quan hệ giữa hai quốc

gia.

- Đầu tư có xuất xứ Hoa Kỳ đứng đầu đầu tư trực tiếp của nước ngoài

(FDI) tại Việt Nam trong năm 2004 và đạt 531 triệu USD, đưa tổng số vốn

đầu tư trực tiếp có xuất xứ Hoa Kỳ lên đến 2,6 tỷ USD.

- FDI có xuất xứ Hoa Kỳ bao gồm đầu tư từ các công ty con của Hoa

Kỳ tại Singapore, Hồng Kơng và các nước khác. “Con số chính thức” đã tính

vốn đầu tư này là FDI từ Singapore, Hồng Kơng, và các nước khác.

- FDI có xuất xứ Hoa Kỳ tăng 27% năm trong thời gian 3 năm 20022004, sau khi Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ (BTA) có hiệu lực

vào tháng 12 năm 2001.

- Tỷ lệ vốn đầu tư có xuất xứ Hoa Kỳ trên tổng số vốn đầu tư trong

năm 2004 là vào khoảng 20%.



-28-



- Sự thay đổi môi trường kinh doanh tại Việt Nam do BTA mang lại đã

cải thiện đáng kể điều kiện kinh doanh và đã khuyến khích sự tăng vọt đầu tư

có xuất xứ Hoa Kỳ tại Việt Nam.

- Những sự thay đổi tương tự trong việc chuẩn bị gia nhập Tổ chức

Thương mại thế giới (WTO) và Quy chế Quan hệ Thương mại bình thường

Vĩnh viễn (PNTR) với Hoa Kỳ sẽ khuyến khích thêm đầu tư có xuất xứ Hoa

Kỳ vào Việt Nam.

- BTA cũng khuyến khích đáng kể FDI khơng phải từ Hoa Kỳ, đặc

biệt các xí nghiệp sản xuất dệt may, giày dép, đồ gỗ, hải sản, các ngành công

nghiệp nhẹ, các sản phẩm dùng nhiều lao động được xuất khẩu sang thị

trường khổng lồ của Hoa Kỳ.

Tính đến 2004, FDI có xuất xứ Hoa Kỳ đã được thực hiện là 2,6 tỷ

USD so với số vốn FDI đã được báo cáo 730 triệu USD. Điều này cho thấy

FDI của các công ty Hoa Kỳ vào Việt Nam là cao hơn nhiều so với báo cáo

thường thấy trong nhiều năm qua.

Trong thời gian hơn 3 năm sau khi thi hành BTA từ tháng 12 năm 2001,

từ tháng 01/2002 - 12/ 2004, FDI đã tăng 27%. Trong năm 2004, FDI có xuất

xứ Hoa Kỳ là 531 triệu USD là số vốn FDI lớn nhất vào Việt Nam, chiếm

20% tổng số FDI trong năm 2004; hơn cả FDI của các nước như Nhật Bản,

Hàn Quốc, Singapore và Đài Loan, là những nước được coi là những nhà đầu

tư FDI lớn nhất vào Việt Nam.

FDI từ các công ty Hoa Kỳ đã có phản ứng mạnh từ khi BTA có hiệu

lực theo số liệu được thu thập cho bản Báo cáo của MPI, theo đó 53% cơng ty

Hoa Kỳ có tính đến BTA trong quyết định mở rộng hoặc đầu tư mới của mình

tại Việt Nam, trong khi chỉ có 43% cơng ty của các nước khác có xét đến yếu

tố này.



-29-



Mặc dù FDI của Hoa Kỳ tăng lên, nhưng Việt Nam mới chỉ chiếm

không đến 1% FDI của Hoa Kỳ vào khu vực Đông Nam Á (xem Biểu đồ dưới

đây). Do đó chúng ta còn rất nhiều cơ hội ở phía trước.

BIỂU 1

FDI TỪ HOA KỲ VÀO KHU VỰC CHÂU Á-THÁI BÌNH DƯƠNG (1976-2003)



Vào ngày 11/9/2006, khi Việt Nam chuẩn bị gia nhập WTO , không kể

đầu tư qua nước thứ 3, Hoa Kỳ có 289 dự án đầu tư trực tiếp còn hiệu lực tại

Việt Nam, với tổng vốn đăng ký trên 2 tỷ USD, đứng thứ 9 trong tổng số 74

quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam, vốn thực hiện đạt

khoảng 777 triệu USD. Riêng 8 tháng đầu năm 2006, đã có 25 dự án đầu tư

mới được cấp phép đầu tư, với tổng vốn đăng ký 444,2 triệu USD, đứng thứ 3

trong tổng số 33 nước, vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Nếu tính cả đầu tư

thơng qua nước thứ ba, thì tổng vốn đầu tư của Hoa Kỳ tại Việt Nam đạt

khoảng 3 tỷ USD.Và trong top hai mươi quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư FDI

vào Việt Nam giai đoạn 1998-2007, Hoa Kỳ đã chiếm vị trí thứ 7 với tổng số

vốn đăng kí là 2,598 triệu USD.

BIỂU 2

TOP 20 NHÀ ĐẦU TƯ VÀO VIỆT NAM (1998-2007)



-30-



(Nguồn http://www.vietpartners.com)



2.2.4.Giai đoạn 2007- 2009.

Vào ngày 06/11/2007, quan hệ thương mại Việt-Mỹ đã phát triển mạnh

mẽ qua 6 năm thực hiện Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ (BTA). Đầu tư trực

tiếp (FDI) của Mỹ vào Việt Nam hiện cũng đạt tới 2,6 tỉ USD, nếu tính cả đầu

tư qua nước thứ 3 là 5 tỉ USD, đứng thứ 6 trong 70 nước đầu tư vào Việt

Nam.

Nguồn vốn FDI của Mỹ vào Việt Nam chủ yếu là hình thức đầu tư

100% vốn nước ngoài (68% về số dự án và 57% về vốn đầu tư), hình thức

liên doanh (23% về số dự án và 30% về vốn đầu tư), hình thức hợp đồng hợp

tác kinh doanh chỉ chiếm 9% về số dự án và 13% về vốn đầu tư. Có thể vẫn là

một hiện tượng chưa đủ tin tưởng vào khả năng kinh doanh của đối tác trong

nước.



-31-



Vào tháng 8/2007, với 348 dự án và tổng số vốn đăng kí là 2,582 triệu

USD, Mỹ đã trở thành nhà đầu tư lớn thứ 7 tại Việt Nam:



BẢNG 6

TOP 20 NHÀ ĐẦU TƯ (08/2007)



-32-



Dòng vốn FDI từ Mỹ về Việt Nam tiếp tục tăng cao trong những năm

2005 – 2009.Tính đến ngày 22/11/2008, Hoa Kỳ đứng thứ 11/81 quốc gia và



-33-



vùng lãnh thổ có dự án đầu tư còn hiệu lực tại Việt Nam với 421 dự án, tổng

vốn đầu tư đăng ký 4,1 tỷ USD (Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch

& Đầu Tư):

• Phân theo ngành:

Vốn đầu tư của Hoa Kỳ tập trung vào lĩnh vực dịch vụ với 131 dự án có

tổng vốn đầu tư là 2, 7 tỷ USD (chiếm khoảng 29% về số dự án và 66% tổng

vốn đầu tư đăng ký). Riêng lĩnh vực khách sạn - du lịch mặc dù chỉ chiếm 3%

về số dự án nhưng chiếm tới 52% tổng vốn đăng ký, do có nhiều dự án lớn

nên quy mơ trung bình một dự án lớn nhất (166 triệu USD /dự án). Điều này

là do một số tập đoàn Hoa Kỳ đầu tư vào một số dự án lớn, như Good Choice

USA cam kết đầu tư gần 1,3 tỷ USD để xây dựng khu khách sạn cao cấp tại

Bà Rịa - Vũng Tàu vào ngày 02/01/2008; tập đoàn Winvest Investment LLC

đầu tư 300 triệu USD để xây dựng khu khách sạn cao cấp, Rockingham Asset

với dự án 112 triệu USD tại Quảng Ninh.

Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng với 254 dự án và tổng vốn đầu tư là

1,24 tỷ USD (chiếm khoảng 60% về số dự án và 30% về vốn đăng ký của

Hoa Kỳ tại Việt Nam). Số còn lại đầu tư trong lĩnh vực nơng, lâm, ngư

nghiệp.

• Phân theo hình thức đầu tư:

Khi đầu tư vào Việt Nam, đa số các nhà đầu tư Hoa Kỳ lựa chọn hình

thức 100% vốn nước ngoài, chiếm 80% về số dự án và 78% về vốn đăng ký.

Hình thức liên doanh chiếm 15% về số dự án và 17% về vốn đăng ký. Hình

thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng chủ yếu trong lĩnh vực thăm dò

và khai thác dầu khí có 14 dự án với tổng vốn đầu tư 80,4 triệu USD. Ngồi

ra, Hoa Kỳ có 10 dự án hoạt động theo hình thức cơng ty cổ phần.

• Phân theo địa phương:



-34-



Trừ lĩnh vực dầu khí, các nhà đầu tư Hoa Kỳ đã có mặt tại 35/64 địa

phương của cả nước, nhưng chủ yếu tập trung tại các địa phương thuộc trọng

điểm kinh tế phía Nam, nơi có điều kiện cơ sở hạ tầng thuận lợi và khu vực

phát triển kinh tế năng động nhất của cả nước như Bà Rịa -Vũng Tàu, TP Hồ

Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương.

Chỉ với 11 dự án, Bà Rịa -Vũng Tàu đã vượt lên trở thành địa phương

có số vốn đầu tư của Hoa Kỳ cao nhất, đạt 1, 796 triệu USD chiếm 44% tổng

vốn đầu tư; Thành phố Hồ Chí Minh đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư 585

triệu USD, chiếm 13%, Đồng Nai đứng thứ ba với tổng vốn đăng ký 341 triệu

USD, chiếm 9%; số còn lại là các địa phương khác.

Những tháng đầu 2009, nguồn vốn đầu tư FDI của Mỹ tại Việt Nam đạt

gần 5 tỉ USD và dự kiến sắp tới sẽ ký kết đầu tư một số dự án lớn có trị hàng

tỉ USD, đưa Mỹ vào nhóm 5 nước hàng đầu đầu tư tại VN.

Trong chín tháng đầu năm 2009, Hoa Hỳ đã có 24 dự án được cấp mới

với số vốn đăng kí cấp mới là 104.1 triệu USD; có 11 lượt dự án tăng vốn với

số vốn đăng kí tăng thêm kỉ lục, đạt 3,853.9 triệu USD. Như vậy, tổng số vốn

đăng kí mới và tăng thêm của Mỹ tại Việt Nam chín tháng đầu năm 2009 là

3,957.9 triệu USD, đứng số một trong tất cả các quốc gia đầu tư FDI tại Việt

Nam (Nguồn: “Cục đầu tư nước ngoài – Bộ Kế Hoạch & Đầu Tư”).

Tính tổng trong cả năm 2009, Hoa Kỳ đang là nhà đầu tư lớn nhất với

tổng số vốn đăng ký là 9,8 tỷ USD (chiếm 45% tổng vốn FDI vào Việt Nam

năm 2009).

Theo số liệu thống kê của Cục Đầu Tư Nước Ngoài - Bộ Kế hoạch và

Đầu tư, quý I-2010 các quốc gia đang tích cực đầu tư vào Việt Nam như Hàn

Quốc chiếm 26,3% tổng vốn đầu tư cấp mới; Xin-ga-po chiếm 7,1%; Xlô-vaki-a chiếm 5,2%; Quần đảo Virgin thuộc Anh chiếm 4,9%; Đài Loan chiếm



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

*Theo hình thức đầu tư.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×