Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG ĐẦU TƯ FDI CỦA MỸ VÀO VIỆT NAM

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG ĐẦU TƯ FDI CỦA MỸ VÀO VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 0trang

-12-



2.1.2. Tình hình đầu tư của Hoa Kỳ ở nước ngồi nói chung.

Là một nước vừa tiếp nhận đầu tư nước ngoài, vừa đầu tư ra nước

ngoài với số lượng lớn, Hoa Kỳ ln giữ vị trí quan trọng trong dịch chuyển

luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới. Trong thời gian gần đây,

do ảnh hưởng của tình trạng suy thối kinh tế, đầu tư của Hoa Kỳ giảm sút so

với Nhật Bản và các nước Tây Âu, nhưng nhìn chung Hoa Kỳ vẫn là nước

đứng đầu thế giới về giá trị đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.

Các nước và khu vực tiếp nhận vốn đầu tư nhiều nhất của Hoa Kỳ gồm:

Canada thu hút 126,4 tỷ USD chiếm 10%; Châu Âu thu hút 60,4 tỷ USD,

chiếm 47%; Châu Mỹ La Tinh thu hút 18,7 tỷ USD, chiếm 14%; Châu á Thái Bình Dương thu hút 17,7 tỷ USD chiếm 13,6%. Trong các nước và khu

vực nói trên, Vương quốc Anh ln là nước thu hút đầu tư lớn nhất của Hoa

Kỳ ( 233,4 tỷ USD, chiếm tới 19% ) (Số liệu cập nhật năm 2007).

Phần lớn dòng đầu tư của Hoa Kỳ ở các nước đang phát triển đổ vào

khu vực Châu Mỹ La Tinh, Đông Á và các nước công nghiệp mới Châu Á

(ANIEs). Hồng Kông và Singapore cũng là những địa điểm thu hút đầu tư lớn

nhất của Hoa Kỳ.

Các đối thủ cạnh tranh chính của ASEAN là Nhật Bản, Hồng Kơng,

Đài Loan, Hàn Quốc, Mexico, Brazil, Argentina và mới đây là Trung Quốc.

Đầu tư của Hoa Kỳ vào khu vực Châu Á - Thái Bình Dương tập trung

chủ yếu vào lĩnh vực dầu khí, các ngành sản xuất ( gồm chế biến thực phẩm,

hố dầu, cơ khí chế tạo, điện tử…) và các ngành dịch vụ ( gồm bán buôn,

ngân hàng, bảo hiểm và các dịch vụ tài chính khác). Trong đó, dịch vụ là khu

vực thu hút đầu tư của Hoa Kỳ với tỷ trọng cao nhất, chiếm tới trên 50% tổng

giá trị đầu tư của Hoa Kỳ trong toàn khu vực; tiếp đến là ngành sản xuất,

chiếm 34%; dầu khí, chiếm 16,4%.



-13-



2.1.2.1. Một số đặc điểm và xu hướng cùa đầu tư Hoa Kỳ:

- Với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử, ngày nay các công

ty Hoa Kỳ hầu như coi địa bàn đầu tư cũng như các ưu đãi về thuế chỉ là yếu

tố thứ yếu trong quyết định đầu tư của họ. Điều mà các nhà đầu tư Hoa Kỳ

thực sự quan tâm là những lợi thế so sánh về tiếp cận thị trường, chi phí lao

động, điều kiện về kết cấu hạ tầng, tính minh bạch của hệ thống pháp luật và

cơ chế quản lý… Trong các yếu tố nói trên, tiếp cận thị trường hàng hóa là

yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến quyết định đầu tư ra nước ngồi của

các cơng ty Hoa Kỳ. Thực tế cho thấy, hàng hoá xuất khẩu của Hoa Kỳ có khả

năng tiếp cận nhất vào những thị trường mà Hoa Kỳ có đầu tư lớn. Chính

nguồn vốn này đã tạo ra gần 60% giá trị xuất khẩu, góp phần đáng kể vào

việc tăng năng lực xuất khẩu của Hoa Kỳ.

- Tiến trình nhất thể hố của liên minh Châu Âu, đặc biệt là việc sử

dụng hoàn toàn đồng tiền chung EURO vào năm 2002 đã góp phần thúc đẩy

hoạt động mua lại và sáp nhập qua biên giới ( Cross Border M&A ) giữa các

tập đồn Hoa Kỳ và Châu Âu nhằm duy trì sức cạnh tranh ở khu vực này.

- Ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ

có ảnh hưởng quan trọng, thậm chí chi phối nhiều ngành kinh tế then chốt

như: khai thác khoáng sản, năng lượng, cơ khí, xây dựng cơ sở hạ tầng… Ví

dụ, Cơng ty Caltex kiểm sốt trên 80% dầu mỏ khai thác ở Indonexia, đồng

thời chi phối luôn tới việc xuất khẩu; đại bộ phận cơng nghiệp lọc hố dầu ở

Singapore cũng do công ty này chi phối : ở Philippin và Malaixia, đầu tư của

Hoa Kỳ chiếm tỷ trọng lớn trong các ngành công nghiệp chủ chốt như cơ khí

chế tạo, sản xuất, lắp ráp hàng điện tử…

- Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Hoa Kỳ cũng tác động đáng kể đến

cơ cấu công nghiệp của các nước ASEAN, tạo đIều kiện để ngành này dịch

chuyển theo hướng phù hợp cơ cấu kinh tế của Hoa Kỳ và bổ trợ cho ngành



-14-



công nghiệp Hoa Kỳ. Điều này thể hiện ở chỗ, các công ty Hoa Kỳ chỉ đầu tư

vào những ngành sản xuất ra sản phẩm mà Hoa Kỳ khơng có hoặc sản xuất

khơng có hiệu quả. Các công ty Hoa Kỳ cũng đặc biệt chú ý đến việc đầu tư

vào các ngành khai thác khoáng sản và chế biến nông sản nhằm tạo nguồn

nguyên liệu năng lượng chiến lược phục vụ cho các ngành công nghiệp của

Hoa Kỳ. Trên thực tế, mặc dù rất giàu có về tài nguyên và nguyên liệu cho

sản xuất nhưng để tiết kiệm Hoa Kỳ vẫn muốn sử dụng nguồn từ bên ngồi

thay vì khai thác ở trong nước.

- Khác với đầu tư của Nhật Bản thường ở quy mô vừa phải, áp dụng

quy trình cơng nghệ tương đối đơn giản, đầu tư của Hoa Kỳ tuy ít hơn Nhật

Bản về số lượng dự án nhưng quy mô khá lớn, sử dụng cơng nghệ sản xuất

hiện đại và trình độ quản lý tiên tiến. Xu hướng đầu tư của Nhật Bản là tập

trung vào những ngành công nghiệp truyền thống như dệt, vải sợi, chế biến

nguyên liệu thô, lắp ráp hàng điện tử, trong khi đó Hoa Kỳ lại chú ý đến các

ngành khai khoáng và dịch vụ; các ngành cơ khí chế tạo ít được quan tâm.

2.1.2.2.Chính sách kinh tế của Mỹ đối với khu vực Châu Á - Thái Bình

Dương.

Có thể nói, khu vực Châu Á - Thái Bình Dương trong đó có Việt Nam

ngày càng chiếm một vị trí quan trọng trong chính sách đối ngoại của Mỹ.

Xuất phát từ chính lợi ích của chính bản thân nước Mỹ, mà Mỹ đã chủ động

đẩy mạnh quan hệ hợp tác kinh tế giữa 2 quốc gia. Chính điều này sẽ càng

thúc đẩy hoạt động đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam.

Như ta biết kể từ khi Việt Nam thống nhất đất nước (5/1975) cho đến

năm 1995, chính phủ Mỹ đã thi hành chính sách bao vây cấm vận kinh tế

chống Việt Nam. Lệnh cấm vận này đã cắt đứt mối quan hệ giữa 2 nước và

trở thành vật cản đối với sừ hình thành và mở rộng các quan hệ kinh tế của

các nước khác trong khu vực đối với Việt Nam. Các nước như Nhật Bản,



-15-



ASEAN, EU đều chậm hưởng ứng chính sách mở cửa của Việt Nam, vì chính

sách kinh tế của họ đối với Việt Nam phải lệ thuộc đáng kể vào chính sách

cấm vận của Mỹ đối với Việt Nam.

Đối với Mỹ, là một nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới, tuy khơng

phải lệ thuộc nhiều vào bên ngồi như các nền kinh tế cơng nghiệp hố mới

Đơng á hay Nhật Bản, nhưng các quan hệ kinh tế quốc tế cũng đóng góp tới

trên 30% cho tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội của mình. Do vậy,

Mỹ cũng rất cọi trọng các quan hệ kinh tế quốc tế.

Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương ln chiếm vị trí quan trọng trong

chính sách đối ngoại của Mỹ. Châu Á - Thái Bình Dương chiếm tới 49%

ngoại thương của Mỹ, trong đó có các đối tác quan trọng nhất như Nhật Bản,

Trung Quốc, các nền kinh tế mới cơng nghiệp hố và các nước ASEAN. Các

lợi ích kinh tế ở khu vực này cũng ngày càng trở nên thúc bách hơn đối với

Mỹ. Trong khi đó, phẩn lớn các hoạt động thương mại và đầu tư ở Châu á là

do các công ty xuyên quốc gia của Nhật Bản và Hoa Kiều nắm giữ hoặc chi

phối. Các nền kinh tế khác như Hàn Quốc, Đài Loan và ASEAN trước đây

từng dựa vào Mỹ thì nay đã và đang trỗi dậy và trở thành những địch thủ cạnh

tranh thay dần các vị trí kinh tế của Mỹ trong khu vực. Trung Quốc với tốc độ

tăng trưởng cao nhất thế giới liên tục trong thời gian gần đây cùng với Hồng

Kông, Đài Loan, Singapore cũng đang tạo ra “ một vành đai kinh tế Trung

Hoa” có phạm vi ảnh hưởng rộng khắp các nước Châu Á. Tất cả những điều

này đã làm cho Mỹ rất lo ngại và buộc Mỹ phải tăng cường sự có mặt ở khu

vực Châu Á - Thái Bình Dương vì những lợi ích kinh tế của mình ở khu vực

này. Đồng thời, Mỹ cũng hy vọng một thị trường năng động và đầy tiềm năng

của khu vực Châu Á- Thái Bình Dương có khả năng giúp Mỹ khơi phục địa vị

cường quốc kinh tế của mình.



-16-



Trong bối cảnh đó, tăng cường thúc đẩy quan hệ với Việt Nam trở

thành một khâu quan trọng trong chiến lược của Mỹ đối với khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Các công ty đa quốc gia dù lớn hay nhỏ đều mong đợi

tham gia xây dựng các cơ sở hạ tầng ở Việt Nam do ngân hàng thế giới tài trợ.

Những cơng ty nhìn xa hơn đã thấy được Việt Nam là một thị trường tiềm

năng, có thể hỗ trợ cho các thị trường Châu Á khác, một thị trường có tiềm

năng tiêu thụ lớn gấp 2 lần một số nước mà Bộ Thương mại Mỹ coi là “

những thị trường lớn đang xuất hiện” để tiêu thụ các hàng hoá của Mỹ, và là

một cơ hội để di chuyển ít nhất là ngành công nghiệp chế tạo “ kỹ thuật tầm

trung” đến đây nhằm giảm chi phí nhân cơng đang gia tăng liên tục ở Hồng

Kông, Hàn Quốc và Singapore.

Đối với các doanh nghiệp Mỹ gốc Việt, đây cũng là dịp để họ làm ăn

trong một mơi trường văn hố quen thuộc. Và khi Việt Nam đã thực sự hội

nhập vào khu vực Châu Á - Thái Bình Dương nếu Mỹ khơng có quan hệ đối

với Việt Nam tức là Mỹ đã mất đi vai trò của mình ở một thị trường quan

trọng ở ĐNÁ. Hơn nữa, nếu không đẩy mạnh quan hệ kinh tế – thương mại

với Việt Nam, việc thi hành chiến lược kinh tế được coi là ưu tiên số một

trong điều chỉnh chiến lược toàn cầu của Mỹ trong khu vực Châu Á - Thái

Bình Dương thời kỳ sau chiến tranh lạnh sẽ không đạt kết quả mong muốn. Vì

vậy, Báo cáo chiến lược an ninh quốc gia Mỹ cho thế kỷ 21 đã xác định, lợi

ích chiến lược của Mỹ ở ĐNÁ là phát triển hợp tác khu vực và song phương

cùng các quan hệ kinh tế nhằm ngăn chặn và giải quyết các xung đột và nâng

cao mức độ tham gia của Mỹ trong nền kinh tế khu vực.

Trong lĩnh vực kinh tế, việc duy trì và tăng cường các quan hệ kinh tế

ngày càng có hiệu quả với ASEAN là một định hướng ưu tiên trong chính

sách của Mỹ trong chiến tranh lạnh. Mỹ rất quan tâm đến thị trường ASEAN.

Các nhà chiến lược Mỹ cho rằng ASEAN có tiềm năng phát triển thành một



-17-



thị trường lớn, năng động trong khu vực. Theo dự báo, khu vực này đến năm

2010 sẽ bao trùm 686 triệu dân, tổng sản phẩm lên đến 1,1 ngàn tỷ USD và

thu nhập từ các dự án hạ tầng cơ sở bao gồm cả các nước ASEAN có thể lên

đến 1000 tỷ USD.

Chính vì vậy, Mỹ đã mở rộng danh sách “ các thị trưởng đang nổi lên”

sang cả các nước thành viên khối ASEAN. Danh sách này thể hiện sự đánh

giá lại của Mỹ đối với các thị trường bên ngoài, xem đây là đIều kiện hết sức

quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế Mỹ. Do đó, việc Mỹ chủ

trương cộng tác chặt chẽ với các nước ASEAN khơng phải là ngẫu nhiên, khi

tính đến tiềm năng của khu vực này.

Một định hướng quan trọng khác trong chính sách kinh tế của Mỹ đối

với khu vực ASEAN là xúc tiến tự do hoá hơn nữa chế độ thương mại của các

nước này nhằm thúc đẩy những lợi ích kinh tế từ sự tăng trưởng kinh tế của

khu vực này. Dưới tác động của Mỹ và theo xu thế chung của thời đại, quá

trình tự do hoá thương mại và đầu tư trong khối ASEAN và trong các nước

này đã được đẩy nhanh. Phương hướng chính trong hoạt động của Mỹ ở đây

trong những năm tới là thực hiện chính sách tự do hố các luồng vốn trong

nội bộ các nước thành viên của ASEAN.

Chính sách kinh tế của Mỹ còn trù định việc tiến hành các sáng kiến

song phương cùng với một số nước ASEAN nhằm tạo đIều kiện cho phát

triển kinh tế, ổn định chính trị và cải cách thị trường vì lợi ích của chính bản

thân nước Mỹ.

Về cơ bản, chính sách kinh tế của Mỹ đối với Việt Nam cũng bao hàm

3 định hướng chủ yếu trên. Việc tăng cường hợp tác kinh tế đối với Việt Nam

xuất phát từ chính bản thân nước Mỹ và nó cũng phù hợp với xu thế tồn cầu

hiện nay: hồ bình, hợp tác cùng phát triển. Việt Nam ngày càng chiếm một vị

trí quan trọng trong việc thu hút dòng vốn FDI của Hoa Kỳ với những lợi thế



-18-



về nguồn nguyên liệu phong phú, nguồn lao động dồi dào với chi phí lao động

thấp , lại là một nước có nhiều cảng biển sẽ góp phần thuận lợi cho việc vận

chuyển hàng hố. Vì vậy, Việt Nam sẽ là một địa điểm quan trọng thu hút các

doanh nghiệp Mỹ đầu tư vào đây.

2.2.Thực trạng thu hút và sử dụng vốn đầu tư FDI của Mỹ vào Việt Nam.

2.2.1. Giai đoạn trước 1986.

Như chúng ta đều đã biết, trong quá khứ, Việt Nam và Mỹ đã có những

kỉ niệm đau thương, và ln ở thế đối đầu suốt nhiều năm dài. Suốt trong

những năm 1975-1986, khi nước ta vừa giành được độc lập và đang trong quá

trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, Việt Nam gần như coi Hoa Kỳ là kẻ thù số

một, và gần như khơng có quan hệ kinh tế.

Do vậy, thời kì này là thời kì FDI của Mỹ vào Việt Nam gần như là con

số “0” tròn trĩnh.

2.2.2. Giai đoạn 1986 – 2000.

Năm 1986 được coi là năm đánh dấu một bước ngoặt lớn lao trong lịch

sử dân tộc. Đất nước ta chính thức mở cửa nền kinh tế, gửi tới tồn thế giới

thơng điệp hòa bình, hữu nghị và hợp tác, “Việt Nam sẵn sàng làm bạn với tất

cả các nước trên thế giới”. Và đến đầu năm 1995, Việt Nam chính thức bình

thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ, mở ra một trang sử mới trong hợp tác kinh

tế giữa hai dân tộc.

Từ đây, Việt Nam đã bắt đầu tiếp cận với nguồn vốn FDI từ quốc gia

lớn nhất Thế giới. Tuy nhiên, trong những năm 90 của thế kỷ XX, nền kinh tế

cũng như các chính sách của Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập, rủi ro lớn, và

còn tồn tại quá nhiều vấn đề của chế độ cũ khiến cho các nhà đầu tư Hoa Kỳ

chưa thể an tâm đầu tư. Điều đó lí giải phần nào việc nguồn vốn FDI của Hoa

Kỳ đầu tư vào Việt nam giai đoạn này vẫn còn rất khiêm tốn, chưa tương

xứng với tiềm năng hai quốc gia.



-19-



Như chúng ta thấy trong bảng dưới đây:

BẢNG 1

ĐẦU TƯ FDI VÀO VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1988 – 2006

(Số dự án, tỉ lệ phần trăm và giá trị dự án tính bằng triệu USD)



-20-



Trong giai đoạn từ 1988 đến 2006, tổng số dự án có nguồn vốn FDI mà

Mỹ (và cả Canada) đầu tư tại Việt Nam chỉ là 459/8237 dự án, chiếm chỉ

5.6%. Và tổng số vốn đăng kí cũng chỉ là 3,630 triệu USD, chỉ chiếm 4.6%

tổng số vốn FDI đầu tư vào Việt Nam. Những con số thật sự là quá nhỏ bé so

với tiềm năng của hai nước.

Tuy nhiên, vào cuối thập niên 90 của thế kỷ XX, nền kinh tế Việt Nam

đã có nhiều khởi sắc, tốc độ tăng trưởng cao, cơ chế dần trở nên thơng thống

và rất hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài. Nguồn vốn FDI ào ạt đổ về Việt

Nam. Và Hoa Kỳ cũng không ngoại lệ.

Niềm tin nơi các nhà đầu tư Hoa Kỳ đã trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ

hết. Nguồn vốn FDI khổng lồ từ siêu cường số một thế giới bắt đầu chảy về

Việt Nam và vẫn đang tăng lên từng ngày.

Tơi sẽ phân tích tình hình đầu tư FDI của Mỹ vào Việt Nam trong giai

đoạn 1986 – 2000 theo 3 ý chính sau:

*Theo lĩnh vực đầu tư:

Với trên 100 dự án và tổng vốn đăng ký là 1.094.829.771 USD, FDI từ

Hoa Kỳ chiếm 3,05% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi đã có đóng góp

tích cực trong việc giải quyết nhu cầu vốn cho nền kinh tế nước ta, là nguồn

bổ sung quan trọng cho tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai, góp phần cải

thiện cán cân thanh toán quốc tế của nước ta.

Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại

hoá, các dự án đầu tư của Mỹ chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghiệp và

xây dựng (gồm công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, tin học và dịch vụ tin

học, công nghiệp chế biến dầu khí...) với 60 dự án, tổng vốn đăng ký đạt 660

triệu USD, chiếm 59% về số dự án nhưng chiếm 62% về vốn đàu tư.



-21-



Lĩnh vực dịch vụ (bao gồm xây dựng văn phòng, căn hộ cho th, văn

hố, y tế, giáo dục, tài chính, Ngân hàng...) đứng thứ 2 với 30 dự án, tổng vốn

đăng ký 275 triệu USD, chiếm 30% số dự án và 26% tổng số vốn.

Lĩnh vực nông lâm thuỷ sản chiếm tỷ trọng rất nhỏ với 11dự án, tổng

nguồn vốn đăng ký 130.9 triệu USD, chiếm 11% về số dự án và 12% về vốn.

Chi tiết được trình bày ở bảng sau.

BẢNG 2

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA HOA KỲ VÀO VIỆT NAM (1986-2000) THEO NGÀNH



TT

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10



Số dự



Ngành

Cơng nghiệp nặng

Cơng nghiệp nhẹ

Y tế, văn hố, giáo dục

Kinh doanh, du lịch, khách sạn

Xây dựng

Nông – Lâm

Vận tải

Dịch vụ

Dầu khí

Thủy sản

Tổng



án

12

28

17

6

7

9

4

12

4

2

101



Tỷ trọng



Tổng vốn



Tỷ trọng



11.81 %

27.72 %

16.83 %

5.96 %

6.95 %

8.91 %

3.98 %

11.88 %

3.98 %

1.94 %



359.017

336.421

116.215

102.791

87.259

72.664

40.350

37.502

19.200

4.816



30.37 %

28.46 %

9.83 %

8.69 %

7.38 %

6.65 %

3.41 %

3.17 %

1.62 %

0.41 %



100 %



1,176.236



100 %



Nguồn: “Bộ Kế hoạch & Đầu tư”



Đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp,

tốc độ tăng trưởng của khu vực này đạt trên 20%/năm, góp phần quan trọng

đưa tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước đạt trên

10%/năm.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG ĐẦU TƯ FDI CỦA MỸ VÀO VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×