Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền

Các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền

Tải bản đầy đủ - 0trang

Bản chất phi kinh tế của hành vi được thể hiện: là hành vi mà một

doanh nghiệp có vị trí độc quyền lợi dụng vị trí và khả năng tài chính của

mình đã chấp nhận lỗ hoặc chấp nhận hy sinh lợi nhuận mà áp dụng giá bán

trên thực tế thấp hơn giá thành toàn bộ mà doanh nghiệp phải bỏ ra để cấu

thành nên sản phẩm.

Khi một doanh nghiệp có vị trí độc quyền đã giảm giá bán sản phẩm

trên một thị trường liên quan thì các doanh nghiệp ở các thị trường khác

hay là những nhà đầu tư có ý định tham gia vào thị trường liên quan của

doanh nghiệp sẽ khó có thể gia nhập hay sẽ hạn chế đầu tư vào thị trường

liên quan đó.

Tương lai gần của doanh nghiệp khi thực hiện hành vi: Có thể trong

một thời gian nhất định mà doanh nghiệp thực hiện hành vi đó chấp nhận rủi

ro, chấp nhận thua lỗ. Nhưng doanh nghiệp đã tính tốn với mức giá đó thì

doanh nghiệp sẽ hy sinh lợi nhuận hay lỗ một mức giá phù hộp để khi cũng cố

được vị trí độc quyền của mình thì doanh nghiệp đó có đủ khả năng để lấy lại

những thua lỗ đó.Vậy nên, doanh nghiệp mới chấp nhận hy sinh lợi nhuận để

lấy và giữ vị trí độc quyền của mình tại một thị trường liên quan.

- Hậu quả:

+ Đối với các doanh nghiệp khác hoặc những nhà đầu tư: Khơng có cơ

hội gia nhập vào thị trường liên quan.

+ Đối với người tiêu dùng: Làm mất đi cơ hội có được sự lựa chọn

trong giao dịch trên thị trường liên quan.

Trên một thị trường liên quan có một doanh nghiệp có vị trí độc quyền

thì để đáp ứng nhu cầu của mình buộc người tiêu dung phải chịu sự lệ thuộc

bởi doanh nghiệp đó. Khi có sự lệ thuộc thì doanh nghiệp có thể bóc lột người

tiêu dùng bằng cách đánh giá sản phẩm, giảm sản lượng cung ứng…

Pháp luật cạnh tranh Việt Nam có đề cập đến những trường hợp bán

hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành tồn bộ song khơng có mục đích

hủy diệt đối thủ. Khoản 2 điều 23 Nghị Định số 116/2005/NĐ-CP liệt kê

12



những “hành vi khơng được coi là bán hàng hóa dưới giá thành toàn bộ nhằm

loại bỏ đối thủ cạnh tranh bao gồm:





Hạ giá bán hàng hóa tươi sống;







Hạ giá bán hàng hóa tồn kho do chất lượng giảm, lạc hậu về hình



thức, không phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng.





Hạ giá bán hàng hóa theo mùa vụ.







Hạ giá bán hàng hóa trong chương trình khuyến mại theo quy



định của pháp luật.





Hạ giá bán hàng hóa trong trường hợp phá sản, giải thể, chấm



dứt hoạt động sản xuất, kinh doanh, thay đổi địa điểm, chuyển hướng sản

xuất, kinh doanh”.

Ví dụ:

Doanh nghiệp A kinh doanh mặt hàng bút bi, doanh nghiệp A đang

có vị trí độc quyền tại khu vực A1. Doanh nghiệp B đang có ý định tham

gia vào lĩnh vực này. Trong tháng 1/2012 và tháng 2/ 2012, doanh nghiệp

A đã sản xuất 2 lô hàng với chất lượng và chi phi mà doanh nghiệp phải

bỏ ra như các lô hàng trước đó. Giá thành tồn bộ 1cây bút bi là 1700đ/1

cái, nhưng doanh nghiệp A lại bán giá giá trên thực tế là 1500đ/1 cái trong

thời gian là 2 tháng trên.

Ta thấy hành vi mà DN A đã bán bút dưới giá thành tồn bộ của mình

nhằm hạn chế sự gia nhập của những nhà doanh nghiệp muốn gia nhập vào thị

trường bút bi và muốn củng cố thêm vị trí độc quyền của mình trong thị

trường bút bi tại khu vực A1.

2.2. Áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn

định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng.

- Bản chất của hành vi:

+ Tác động trực tiếp vào giá của hàng hóa, dịch vụ trong giao dịch với

khách hàng.

13



Doanh nghiệp có vị trí độc quyền tác động trực tiếp vào giá của hàng

hóa, dịch vụ trong giao dịch với khách hàng trong việc doanh nghiệp áp đặt

giá mua đối với nguyên vật liệu hay chính là sản phẩm đầu vào của doanh

nghiệp và giá bán đối với sản phẩm của chính doanh nghiệp đó.

Khoản 1 điều 27 Nghị Định 116/NĐ-CP quy định: “Hành vi áp đặt giá

mua hàng hóa, dịch vụ được coi là bất hợp lý gây thiệt hại cho khách hàng

nếu giá mua tại cùng thị trường liên quan được đặt ra thấp hơn giá thành sản

xuất hàng hóa, dịch vụ trong điều kiện sau đây:





Chất lượng hàng hóa, dịch vụ đặt mua khơng kém hơn chất



lượng hàng hóa, dịch vụ đã mua trước đó.





Khơng có khủng hoảng kinh tế, thiên tai, địch họa hoặc biến



động bất thường làm giá bán bn hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ trên thị

trường liên quan giảm tới mức dưới giá thành sản xuất trong thời gian tối

thiểu 60 ngày liên tiếp so với trước đó.”

Doanh nghiệp có vị trí độc quyền lạm dụng vị trí của mình đã áp đặt và

khống chế giá mua hàng hóa, dịch vụ đầu vào bất hợp lý đã buộc khách hàng

phải chấp nhận lỗ để tiêu thụ được sản phẩm mà không có lý do chính đáng.

Khoản 2 điều 27 Nghị Định 116/ NĐ-CP quy định: “Hành vi áp đặt

giá bán hàng hóa, dịch vụ được coi là bất hợp lý gây thiệt hại cho khách

hàng nếu cầu về hàng hóa, dịch vụ không tăng đột biến tới mức vượt quá

công suất thiết kế hoặc năng lực sản xuất của doanh nghiệp và thõa mãn

hai điều kiện sau đây:





Giá bán lẻ trung bình tại cùng thị trường liên quan trong thời



gian tối thiểu 60 ngày liên tiếp được đặt ra tăng một lần vượt quá 5% hoặc

tăng nhiều lần với tổng mức tăng vượt quá 5% so với giá đã bán trước khoảng

thời gian tối thiểu đó.



14



 Khơng có biến động bất thường làm tăng giá thành sản xuất của hàng

hóa, dịch vụ đó vượt quá 5% trong thời gian tối thiểu 60 ngày liên tiếp trước

khi bắt đầu tăng giá.”

Các doanh nghiệp có vị trí độc quyền đã áp đặt và khống chế giá bán

các sản phẩm của mình ra thị trường với giá bất hợp lý mà buộc khách hàng

phải lệ thuộc bởi giá bán đó của doanh nghiệp. Lạm dụng vị trí độc quyền

trong một thị trường liên quan chỉ có duy nhất một sản phẩm của mình, theo

nhu cầu thì buộc người mua phải lệ thuộc vào doanh nghiệp nên doanh nghiệp

đã có hành vi áp đặt giá bán.

+ Thể hiện chiến lược phân phối, chiến lược kinh doanh của doanh

nghiệp:

Khoản 3 điều 27 Nghị Định 116/NĐ-CP quy định: “Ấn định giá bán lại

tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng là việc khống chế không cho phép các

nhà phân phối, các nhà bán lẻ bán lại hàng hóa thấp hơn mức giá đã quy định

trước.”

Ấn định giá bán lại là thỏa thuận dọc giữa nhà sản xuất với người phân

phối sản phẩm của họ. Các chủ thể này ở cấp độ khác nhau của quá trình sản

xuất , phân phối sản phẩm. Giá bán lại là kết quả của sự áp đặt của nhà sản

xuất đối với người phân phối, thiếu vắng yếu tố tự nguyện,tự do ý chí của

ngưới phân phối trong việc xác định mức giá bán lại . Theo đó, với vị trí độc

quyền thì doanh nghiệp khơng cho phép các nhà phân phối, các nhà bán lẻ

bán lại hàng hóa thấp hơn mức đã quy định trước. Nhà phân phối và nhà bán

lẻ chỉ còn có thể bán lại hàng hóa với giá bằng hoặc cao hơn mức giá sàn đã

được doanh nghiệp ấn định. Với hành vi này doanh nghiệp đã không gây thiệt

hại trực tiếp cho nhà phân phối, các nhà bán lẻ mà buộc họ phải hợp tác với

mình để bóc lột khách hàng mua lại hàng hóa.

+ Mang bản chất áp đặt và bóc lột khách hàng.

Doanh nghiệp có vị trí độc quyền lạm dụng vị trí độc quyền của mình

đã thu lợi nhuận về cho doanh nghiệp bằng khả năng không chế các yếu tố thị

15



trường để áp đặt giá cả cho khách hàng như nguyên vật liệu, nguồn cung…

Điều này cho thấy được bản chất bóc lột của hành vi lạm dụng bởi các khoản

lợi ích mà doanh nghiệp thu được là do bóc lột từ khách hàng.





Hậu quả của hành vi.



+ Khách hàng bị bóc lột với sản phẩm, hàng hóa của mình khi bị một

doanh nghiệp có vị trí độc quyền áp đặt về giá.

+ Người tiêu dùng khơng có sự lựa chọn hoặc thỏa thuận về giá cả.

Ví dụ:

Doanh nghiệp X là nhà máy sản xuất đường, doanh nghiệp X có vị trí

độc quyền tại khu vực D. Doanh nghiệp X đã lạm dụng vị trí độc quyền của

mình đã áp đặt giá mua mía đối với người dân tại khu vực D với giá là 500đ/1

cây. Trong khi giá thành toàn bộ mà người dân phải bỏ ra là 600đ/1 cây .

Nhưng vì nếu khơng bán cho doanh nghiệp X thì người dân sẽ khơng biết bán

cho ai với khối lượng lớn mía như thế. Vậy nên buộc người dân phải bán cho

doanh nghiệp X với giá 500d/ 1 cây.

Cùng với đó khi phân phối sản phẩm của mình là đường cho các nhà

phân phối, các nhà bán lẻ ngay tại khu vực D thì doanh nghiệp X áp đặt cho

các nhà phân phối, các nhà bán lẻ với giá 22000đ/1 kg đường và buộc các nhà

phân phối không được bán thấp hơn giá đã quy định.

Hành vi mua lại giá mía của DN X đối với người dân tại khu vực D là

hành vi lạm dụng vị trí độc quyền của mình và DN X đã áp đặt mức giá mua

đối với người dân khu vực D, với một mức giá bất hợp lý gây thiệt hại cho

những người dân khu vực D

Cùng với đó khi phân phối sản phẩm của mình là đường cho các nhà

phân phối, các nhà bán lẻ ngay tại khu vực D thì doanh nghiệp X áp đặt cho

các nhà phân phối, các nhà bán lẻ với giá 22000đ/1 kg đường và buộc các nhà

phân phối không được bán thấp hơn giá đã quy định.

Ví dụ EVN và vấn đề thuê cột điện



16



Cách đây không lâu, Tập đoàn điện lực Việt Nam và các nhà cung cấp

dịch vụ viễn thông tranh chấp về việc thuê cột điện để mắc đường dây

Internet. EVN đang độc quyền về dịch vụ cho thuê cột điện nên muốn đẩy giá

cho thuê cột lên cao. Thế nhưng các nhà viễn thông lại không chịu mức giá

mà EVN đưa ra. Vậy là cuộc tranh cãi “Thuê cột điện” xảy ra làm dấy lên

không ít lo lắng cho người tiêu dùng

Trong câu chuyện mà nhóm đã đưa ra ở đây, ta có thể thấy EVN đã

thực hiện hành vi bị cấm đối với doanh nghiệp có vị trí độc quyền được

quy định tại khoản 2 điều 13 Luật cạnh tranh: Áp đặt giá mua, giá bán hàng

hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho

khách hàng.

2.3. Hành vi hạn chế sản xuất, phân phối hàng hóa, dịch vụ, giới

hạn thị trường, cản trở sự phát triển kỹ thuật,công nghệ gây thiệt hại

cho khách hàng.

Doanh nghiệp độc quyền đại diện cho khả năng cung hoặc cầu của thị

trường liên quan, các quyết định về lượng hàng hóa, dịch vụ được sản xuất,

mua, bán sẽ ảnh hưởng đến mức độ thỏa mãn nhu cầu cho khách hàng.

Nhóm hành vi này bao gồm 3 loại hành vi cụ thể sau:





Hành vi hạn chế sản xuất,phân phối sản phẩm gây thiệt hại cho



khách hàng.

Khoản 1 điều 28 Nghị Định 116/NĐ-CP quy định: “Hạn chế sản xuất,

phân phối hàng hóa, dịch vụ gây thiệt hại cho khách hàng là hành vi:





Cắt, giảm lượng cung ứng hàng hóa, dịch vụ trên thị trường



liên quan so với lượng hàng hóa, dịch vụ cung ứng trước đó trong điều kiện

khơng có biến động lớn về quan hệ cung cầu; khơng có khủng hoảng kinh

tế, thiên tai, địch họa; khơng có sự cố lớn về kỹ thuật, hoặc khơng có tình

trạng khẩn cấp.





Ấn định lượng cung ứng hàng hóa, dịch vụ ở mức đủ để tạo sự



khan hiếm trên thị trường;

17







Găm hàng lại không bán để gây mất ổn định thị trường.”



Hạn chế sản xuất, phân phối sản phẩm gây thiệt hại cho khách hàng là

hành vi giảm khả năng cung hàng hóa, dịch vụ một cách giả tạo để lung đoạn

thị trường, làm biến động quan hệ cung – cầu theo hướng có lợi cho doanh

nghiệp trong giao dịch với khách hàng.

Đó chính là việc các doanh nghiệp có vị trí độc quyền lạm dụng vị trí

của mình đã có những hành vi tạo sự khan hiếm sản phẩm trên thị trường

bằng chiến lược kinh doanh cắt giảm lượng hàng hóa, dịch vụ lưu thông trên

thực tế xuống thấp hơn mức cung ứng.





Hành vi giới hạn thị trường chỉ cung ứng hàng hóa, dịch vụ trong



một hoặc một số khu vực địa lý nhất định.

Khoản 2 điều 28 Nghị Định 116/NĐ-CP quy định: “Giới hạn thị trường

gây thiệt hại cho khách hàng là hành vi:





Chỉ cung ứng hàng hóa,dịch vụ trong một hoặc một số khu vực



địa lý nhất định;





Chỉ mua hàng hóa, dịch vụ từ một hoặc một số nguồn cung



nhất định trừ trường hợp các nguồn cung khác không đáp ứng được những

điều kiện hợp lý và phù hợp với tập quán thương mại thông thường do bên

mua đặt ra”.

+ Với hành vi chỉ cung ứng hàng hóa,dịch vụ và chỉ mua hàng hóa,

dịch vụ từ một hoặc một số khu vực địa lý, nguồn cung nhất định thì tức là

doanh nghiệp đang tự hạn chế thị trường giao dịch của mình. Chúng ta đặt câu

hỏi là vì sao doanh nghiệp lại tự hạn chế thị trường giao dịch của mình như

vậy??? Phải chăng vì doanh nghiệp muốn thể hiện vị trí độc quyền của mình

hay là chính doanh nghiệp đó đang muốn cũng cố và cố giữ lấy vị trí độc

quyền của mình tại một khu vực nhất định. Tạo ra một nhu cầu lớn cho một

thị trường mới để làm tiền đề cho những hàng hóa, dịch vụ sau đó.



18



+ Từ chối cung ứng hoặc thu hẹp phạm vi cung ứng trong những khu

vực địa lý nhất định mà khơng có lý do chính đáng sẽ làm mất cân đối cung

cầu theo khu vực thị trường.





Nhóm hành vi cản trở sự phát triển kỹ thuật , công nghệ gây



thiệt hại cho khách hàng.

Theo khoản 3 điều 28 Nghị Định 116/NĐ-CP quy định: “Cản trở sự

phát triển kỹ thuật, công nghệ làm thiệt hại cho khách hàng là hành vi:





Mua sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng cơng nghiệp để tiêu



hủy hoặc không sử dụng.





Đe dọa hoặc ép buộc người đang nghiên cứu phát triển kỹ thuật,



công nghệ phải ngừng hoặc hủy bỏ việc nghiên cứu đó.”

+ Doanh nghiệp có vị trí độc quyền lạm dụng sự bảo hộ của pháp luật

và quyền lực thị trường cản trở ứng dụng thành quả kỹ thuật, công nghệ vào

thực tiễn bằng hành vi mua phát minh, sáng chế , giải pháp hữu ích, kiểu dáng

cơng nghệ để tiêu hủy hoặc khơng sử dụng.

Các doanh nghiệp có vị trí độc quyền đã lạm dụng quyền bảo vệ quyền

sở hữu trí tuệ đối với các phát minh, sáng chế, giải pháp hữu ích đã mua

nhằm tiêu hủy hoặc không sử dụng, cản trở việc đưa ứng dụng thành quả kỹ

thuật vào thực tiễn.

+ Làm tê liệt khả năng sáng tạo.

Những thành tựu khoa học không được đưa vào ứng dụng làm cho khả

năng sáng tạo bị hạn chế khi các thành quả đó không được sử dụng, không

được được đưa vào để ứng dụng sẽ làm cho sự sáng tạo bị hạn chế khi không

thể biết được ưu điểm và nhược điểm của các thành tựu mới đó khi khơng

được đưa vào thực tiễn.Điều đó sẽ làm hạn chế sáng tạo ra những thành tựu

tốt hơn.

+ Ngăn cản quyền được hưởng thụ thành tựu sáng tạo của con người.





Hậu quả:

19



+ Nhu cầu của khách hàng không được đáp ứng theo đúng khả năng

cung ứng của thị trường.

+ Sự vi phạm có thể ảnh hưởng đén sự phát triển không đồng đều về

nhu cầu hoặc về trình độ giữa các vùng thị trường khác nhau.

Ví dụ:

Doanh nghiệp Y sản xuất kinh doanh mặt hàng sữa tại khu vực H. Là

doanh nghiệp có vị trí độc quyền tại khu vưc H. Nhưng doanh nghiệp chỉ bán

sản phẩm của mình cho khu vực H mà từ chối bán sản phẩm của mình cho các

khu vực khác.

Hành vi DN Y lạm dụng vị trí độc quyền của mình chỉ cung cấp sản

phẩm sữa cho khu vực H là hành vi nhằm giới hạn thị trường. Dẫn đến việc

những khu vực khác sẽ khơng có quyền lựa chọn sản phẩm của doanh nghiệp

để có thể sử dụng.

2.4. Hành vi áp đặt các điều kiện thương mại khác nhau cho các

giao dịch như nhau nhằm tạo sự bất bình đẳng cho khách hàng.

Điều 29 Nghị Định 116/NĐ-CP quy định: “Áp đặt điều kiện thương

mại khác nhau trong điều kiện giao dịch như nhau nhằm tạo bất bình đẳng

trong cạnh tranh là hành vi phân biệt đối xử đối với các doanh nghiệp về điều

kiện mua, bán, giá cả, thời hạn thanh toán, số lượng trong những giao dịch

mua, bán hàng hóa, dịch vụ tương tự về mặt giá trị hoặc tính chất hàng hóa,

dịch vụ để đặt một hoặc một số doanh nghiệp vào vị trí cạnh tranh có lợi hơn

so với doanh nghiệp khác.”

Doanh nghiệp độc quyền áp đặt các điều kiện khác nhau cho các giao

dịch như nhau.





Sự như nhau của các giao dịch được thể hiện:



+ Tính tương tự của sản phẩm về giá trị của sản phẩm và tính chất của

sản phẩm.

+ Tính tương tự về giá trị của giao dịch: cùng một số lượng sản phẩm

cùng loại giao dịch là dịch vụ hoặc hàng hóa.

20



+ Giao dịch được xác lập ở những điều kiện thị trường như nhau, nhu

cầu thị trường của các giao dịch là giống nhau.





Nhưng lại có sự khác nhau về điều kiện thương mại như:



+ Chất lượng của hàng hóa, dịch vụ: có thể với khách hàng này thì

doanh nghiệp có vị trí độc quyền đòi hỏi phải đáp ứng đúng 100% yêu cầu mà

mình đã đặt ra, nhưng cùng với mặt hàng đó nhưng doanh nghiệp lại chỉ yêu

cầu đạt khoảng 90% yêu cầu là đã được chấp nhận thực hiện giao dịch.

+ Giá: cũng tương tự như thế, có thể với khách hàng này doanh nghiệp

có vị trí độc quyền quy định một mức giá cao hoặc cũng với mặt hàng, chất

lượng đó nhưng doanh nghiệp lại giảm giá cho khách hàng khác.

+ Thời hạn thanh toán: với một khách hàng A doanh nghiệp thực hiện

giao dịch và yêu cầu thời hạn thanh toán là 1 tháng sau khi thực hiện giao

dịch. Nhưng cũng với loại hàng hóa đó nhưng doanh nghiệp lại u cầu thời

hạn thanh tốn là 4 tháng sau khi thực hiện giao dịch đối với khách hàng B.





Hậu quả từ hành vi áp đặt các điều kiện thương mại khác nhau



cho các giao dịch như nhau

+ Tạo ra sự bất bình đẳng giữa các khách hàng

Các khách hàng là đối thủ cạnh tranh của nhau, là chủ thể kinh doanh

trên cùng một thị trường liên quan.

+ Sự bất bình đẳng thể hiện việc tạo ra ưu thế hoặc tình trạng bất lợi.

Việc phân biệt đối xử tạo ra những ưu thế cho một số khách hàng so với

các khách hàng khác.vi dụ như khi được kéo dài thời hạn thanh tốn thì số

tiền mình phải trả cho doanh nghiệp độc quyền đó trong thời hạn thanh tốn

mình có thể sử dụng để xoay vòng vốn và phát triển mặt hàng khác.

Việc phân biệt đối xử tạo ra những tình trạng bất lợi hơn của một hoặc

một số khách hàng so với những khách hàng khác. Ví dụ như khi thực hiện

giao dịch với doanh nghiệp có vị trí độc quyền với giá cao hơn so với một

khách hàng khác cùng thị trường liên quan cũng thực hiện giao dịch với

21



doanh nghiệp này thì khi bán sản phẩm phần lợi nhuận của khách hàng sẽ bị

hạn chế hơn.

Ví dụ: Trong q trình thực hiện hợp đồng mua bán nhiên liệu bay giữa

Vinapco (độc quyền) và PA, Vinapco đã tăng mức giá cung ứng từ 593

ngàn/tấn lên 750 ngàn/tấn. Điều đáng quan tâm ở đây là trong đợt tăng phí

nạp nhiên liệu lần này, Vinapco khơng hề thơng báo hay u cầu tăng mức phí

tra nạp nhiên liệu cho các máy bay của hãng hàng không Vietnam

Airlines(Tổng cơng ty hàng khơng Việt Nam).

Trong ví dụ trên ta thấy doanh nghiệp độc quyền là Vinapco, hàng hóa

là nhiên liệu bay, khách hàng là PA và VNA. Điều kiện thuơng mại khác nhau

trong giao dịch như nhau ở đây là yêu cầu tăng giá của Vinapco chỉ được áp

dụng với PA mà không áp dụng với VNA.

2.5. Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác kí kết hợp đồng mua,

bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các điều

kiện không liên quan đến hợp đồng.

Dấu hiệu nhận dạng của các hành vi đó chính là việc hành vi phản ánh

chiến lược phân phối có chủ đích và mang tính áp đặt của doanh nghiệp độc

quyền.

Bản chất hạn chế cạnh tranh của hành vi được thể hiện thông qua một

số cơ sở như: Giới hạn quyền của DN trong việc đặt ra các điều kiện trong

giao dịch nhằm nâng cao tính khả thi và hiệu quả mà giao dịch đem lại cho

các bên. Nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ kinh tế dân sự và sự bất lợi của

khách hàng hoặc của đối thủ cạnh tranh được xem là sự nguy hại thực tế của

hành vi vi phạm

Ở đây ta thấy có hai nhóm hành vi bao gồm:

Nhóm hành vi áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác kí kết hợp đồng

mua, bán hàng hố, dịch vụ. Theo khoản 1 Điều 30 Nghị định 116 thì Áp đặt

cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch vụ

là việc đặt điều kiện tiên quyết sau đây trước khi ký kết hợp đồng:

22



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×