Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Hành vi lạm dụng vị trí độc quyền

2 Hành vi lạm dụng vị trí độc quyền

Tải bản đầy đủ - 0trang

1.2.2. Các đặc điểm của hành vi lạm dụng ví trí độc quyền

▪ Chủ thể thực hiện hành vi là doanh nghiệp có vị trí độc quyền trên thị

trường liên quan.

Vị trí độc quyền đem lại cho doanh nghiệp quyền lực thị trường và khả

năng chi phối các quan hệ trên thị trường.Quyền lực thị trường ở đây chính là

lợi thế về cạnh tranh so với các doanh nghiệp khác: Nguồn nguyên liệu, giá

cả, số lượng sản phẩm đáp ứng cho người tiêu dùng, khả năng tài chính, thói

quen tiêu dùng của khách hàng…Đối với khách hàng, quyền lựa chọn của

khách hàng đã bị hạn chế, nhu cầu của khách hàng bị lệ thuộc vào khả năng

đáp ứng của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có cơ hội để bóc lột bằng cách đặt

ra những điều kiện giao dịch không công bằng.

▪ Doanh nghiệp có vị trí độc quyền đã hoặc đang thực hiện hành vi hạn

chế cạnh tranh được quy định trong luật cạnh tranh.

Điều 13 và Điều 14 luật cạnh tranh nghiêm cấm doanh nghiệp có vị trí

độc quyền thực hiện các hành vi sau:

o Bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại

bỏ đối thủ cạnh tranh;

o Áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định

giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng

o Hạn chế sản xuất, phân phối hàng hoá, dịch vụ, giới hạn thị trường,

cản trở sự phát triển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng;

o Áp đặt điều kiện thương mại khác nhau trong giao dịch như nhau

nhằm tạo bất bình đẳng trong cạnh tranh;

o Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua, bán

hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ

không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng;

o Ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh

mới.

9



o Áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng;

o Lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc huỷ bỏ hợp

đồng đã giao kết mà khơng có lý do chính đáng.

Với các quy định tại điều 13 và 14 luật cạnh tranh có thể kết luận rằng

cơ quan có thẩm quyền chỉ có thể xử lý doanh nghiệp vì hành vi lạm dụng vị

trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh khi chứng mình đủ hai điều kiện sau:

Một: doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp bị điều tra có vị trí độc quyền

Hai: doanh nghiệp đó đã, đang thực hiện một trong những hành vi hạn

chế cạnh tranh nêu trong điều 13, 14 luật cạnh tranh.

Về bản chất, lạm dụng vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh là việc

các doanh nghiệp đã khai thác lợi thế mà quyền lực thị trường đem lại trong

quan hệ với khách hàng để áp đặt những điều kiện giao dịch bất lợi cho khách

hàng như áp đặt giá bán cao, áp đặt giá mua thấp, áp đặt các điều kiện mua

bán bất hợp lý…. Do đó, cạnh tranh đã khơng có cơ hội phát huy tác dụng với

thị trường nói chung và đối với khách hàng, đối vơi người tiêu dùng nói riêng.

Trong quan hệ cạnh tranh với đối thủ, các doanh nghiệp đã sử dụng lợi thế mà

quyền lực thị trường đem lại để thực hiện các chiến lược cạnh tranh nhằm

chèn ép, ngăn cản việc gia nhập thị trường của đối thủ cạnh tranh tiềm năng.

Trong những trường hợp này, doanh nghiệp đã làm giảm, làm cản trở sự phát

triển tình trạng cạnh tranh trên thị trường. Dưới góc độ kinh tế, các doanh

nghiệp thực hiện hành đã khai thác sự yếu thế của khách hàng; của đối thủ để

củng cố, duy trì vị trí hiện tại trên thị trường. Dưới góc độ pháp lý, khi thực

hiện hành vi lạm dụng, các doanh nghiệp đã vi phạm nghĩa vụ đặc thù của

doanh nghiệp có vị trí độc quyền “khơng được làm giảm mức độ cạnh tranh

hiện có trên thị trường”.

▪ Hậu quả của hành vi lạm dụng vị trí độc quyền là làm sai lệch, làm

cản trở hoặc giảm cạnh tranh trên thị trường liên quan.

Đặc điểm này cho thấy tác hại của hành vi lạm dụng vị trí độc quyền

đối với thị trường. Doanh nghiệp thực hiện hành vi lạm dụng nhằm duy trì,

10



củng cố vị trí hiện có hoặc nhằm thu lợi ích độc quyền từ bóc lột khách hàng.

Do đó, việc thực hiện hành vi có thể gây ra những thiệt hại cho một số đối

tượng cụ thể, song nghiêm trọng hơn là làm suy giảm, cản trở tình trạng cạnh

tranh của thị trường. Khi điều tra vụ việc lạm dụng vị trí độc quyền, cơ quan

có thẩm quyền cần chứng minh các vấn đề như: Doanh nghiệp bị điều tra có

vị trí độc quyền ; Doanh nghiệp bị điều tra đã hoặc đang thực hiện hành vi

lạm dụng quy định tại điều 13, 14.

2. Các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền

Điều 14, Luật Cạnh tranh năm 2004: Các hành vi lạm dụng vị trí độc

quyền bị cấm

Cấm doanh nghiệp có vị trí độc quyền thực hiện hành vi sau đây:

1. Các hành vi quy định tại điều 13 của luật này;

2. Áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng;

3. Lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc huỷ bỏ hợp

đồng đã giao kết mà khơng có lí do chính đáng.

2.1. Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành tồn bộ nhằm

loại bỏ đối thủ cạnh tranh.(còn gọi là hành vi định giá cướp đoạt hoặc

hành vi định giá hủy diệt)

Theo điều 23 nghị định 116/2005/NĐ – CP quy định “trừ những trường

hợp đặc biệt, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành tồn bộ nhằm

loại bỏ đối thủ cạnh tranh là việc bán hàng dưới mức giá thấp hơn tổng các

chi phí sau đây:





Chi phí cấu thành giá thành sản xuất hàng hóa, dịch vụ theo quy



định của pháp luật hoặc giá mua hàng hóa để bán lại.





Chi phí lưu thơng hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật”



 Giá thành toàn bộ được hiểu là mức giá cơ bản được cấu thành từ

các chi phí phát sinh trong q trình sản xuất, lưu thông…của sản phẩm và

được các doanh nghiệp sử dụng làm căn cứ để căn cứ xác định giá bán hàng

hóa, dịch vụ của mình.

11



Bản chất phi kinh tế của hành vi được thể hiện: là hành vi mà một

doanh nghiệp có vị trí độc quyền lợi dụng vị trí và khả năng tài chính của

mình đã chấp nhận lỗ hoặc chấp nhận hy sinh lợi nhuận mà áp dụng giá bán

trên thực tế thấp hơn giá thành toàn bộ mà doanh nghiệp phải bỏ ra để cấu

thành nên sản phẩm.

Khi một doanh nghiệp có vị trí độc quyền đã giảm giá bán sản phẩm

trên một thị trường liên quan thì các doanh nghiệp ở các thị trường khác

hay là những nhà đầu tư có ý định tham gia vào thị trường liên quan của

doanh nghiệp sẽ khó có thể gia nhập hay sẽ hạn chế đầu tư vào thị trường

liên quan đó.

Tương lai gần của doanh nghiệp khi thực hiện hành vi: Có thể trong

một thời gian nhất định mà doanh nghiệp thực hiện hành vi đó chấp nhận rủi

ro, chấp nhận thua lỗ. Nhưng doanh nghiệp đã tính tốn với mức giá đó thì

doanh nghiệp sẽ hy sinh lợi nhuận hay lỗ một mức giá phù hộp để khi cũng cố

được vị trí độc quyền của mình thì doanh nghiệp đó có đủ khả năng để lấy lại

những thua lỗ đó.Vậy nên, doanh nghiệp mới chấp nhận hy sinh lợi nhuận để

lấy và giữ vị trí độc quyền của mình tại một thị trường liên quan.

- Hậu quả:

+ Đối với các doanh nghiệp khác hoặc những nhà đầu tư: Khơng có cơ

hội gia nhập vào thị trường liên quan.

+ Đối với người tiêu dùng: Làm mất đi cơ hội có được sự lựa chọn

trong giao dịch trên thị trường liên quan.

Trên một thị trường liên quan có một doanh nghiệp có vị trí độc quyền

thì để đáp ứng nhu cầu của mình buộc người tiêu dung phải chịu sự lệ thuộc

bởi doanh nghiệp đó. Khi có sự lệ thuộc thì doanh nghiệp có thể bóc lột người

tiêu dùng bằng cách đánh giá sản phẩm, giảm sản lượng cung ứng…

Pháp luật cạnh tranh Việt Nam có đề cập đến những trường hợp bán

hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành tồn bộ song khơng có mục đích

hủy diệt đối thủ. Khoản 2 điều 23 Nghị Định số 116/2005/NĐ-CP liệt kê

12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Hành vi lạm dụng vị trí độc quyền

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×