Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
* Liên quan giữa đặc điểm bệnh nhân với nguy cơ tử vong và sống thêm

* Liên quan giữa đặc điểm bệnh nhân với nguy cơ tử vong và sống thêm

Tải bản đầy đủ - 0trang

17

và thời gian sống thêm trong nghiên cứu của chúng tôi.

* Đáp ứng chủ quan, thay đổi thể trạng qua q trình điều trị

- Thay đổi chỉ số tồn trạng trong quá trình điều trị

Tương tự Trần Bảo Ngọc (2011) sử dụng phác đồ TCF. Khác

biệt với Ngô Thanh Tùng (2011), ban đầu 100% bệnh nhân PS=0, sau

HXTĐT với PS=0 là 13,3%.

- Đánh giá mức độ đáp ứng chủ quan trong quá trình điều trị

Đáp ứng chủ quan sau HTTr TC: Tương tự Trần Bảo Ngọc (2011),

đáp ứng sau HTTr là 63,71%, thuyên giảm 34% và không thay đổi 3,5%.

Đáp ứng chủ quan sau điều trị HXTĐT: So sánh với Ngơ Thanh

Tùng (2011) đáp ứng hồn tồn 56,7%. Kết quả này cao hơn chúng

tơi vì tác giả chỉ nghiên cứu trên các đối tượng sau khi có đáp ứng

sau giai đoạn hóa trị trước. Trong khi chúng tơi nghiên cứu trên đối

tượng cả đáp ứng và không đáp ứng sau hóa trị phác đồ TC.

- Chất lượng cuộc sống qua q trình điều trị

Nghiên cứu của chúng tơi tương tự so với Trần Bảo Ngọc (2011)

điểm QoL sau điều trị vấn đề về ngửi, nếm từ 23,4 đến 31,2, điểm nói

chuyện sau điều trị là 27,7, điểm biểu hiện ho là 19,5, điểm khơ miệng

60,2, dính nước bọt 51,1 .

Như vậy, đáp ứng chủ quan trong nghiên cứu của chúng tôi cao

hơn so với các phác đồ HXT với TCF của Trần Bảo Ngọc và phác đồ

HXT của Ngô Thanh Tùng. Phác đồ TC trong nghiên cứu của chúng

tôi bệnh nhân ít mệt mỏi hơn, cảm nhận sự thay đổi tốt hơn. Đặc biệt

là sử dụng hóa trị TC khơng phẫu thuật, bệnh nhân vẫn có thể giao



18

tiếp được trong và sau khi điều trị, Điều này có ý nghĩa tích cực đối

với người bệnh vì họ giao tiếp được với xã hội.

*Đáp ứng khách quan hoá chất trước phác đồ TC kết hợp hóa xạ

trị đồng thời

- Mức độ đáp ứng khách quan sau HTTr

Nghiên cứu của chúng tôi cao hơn Luciano de Souza Viana

(2016) đáp ứng hoàn toàn 5%, một phần 50%, đáp ứng nói chung

55%. Kết quả chúng tôi thấp hơn Prakash B (2008) với đáp ứng hoàn

toàn 65%, một phần là 26%.

Như vậy, tỷ lệ đáp ứng khối tổn thương sau hóa trị bổ trợ so sánh

với TAX 323 thì tương đương với phác đồ TCF, và cao hơn phác đồ CF.

- Mức độ đáp ứng khách quan sau HXTĐT

Cùng một phác đồ kết quả của chúng tôi thấp hơn Prakash B

(2008), sau HXTĐT đáp ứng là 91%. Luciano de Souza Viana (2016),

đáp ứng hoàn toàn là 40%. Nghiên cứu TAX 323 cho thấy đáp ứng sau

HXTĐT nhóm điều trị TCF là 72%, nhóm điều trị CF là 59%.

Như vậy, tỷ lệ đáp ứng sau HXTĐT của chúng tôi tương đương với

phác đồ TCF của TAX 323, nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy tỷ

lệ đáp ứng là cao hơn so với với các nghiên cứu sử dụng phác đồ CF.

4.1.3. Tác dụng không mong muốn của phác đồ hoá chất trước

TC kết hợp hoá xạ trị đồng thời

* Tác dụng không mong muốn lên hệ tạo huyết

Kết quả chúng tôi thấp hơn Trần Bảo Ngọc hạ bạch cầu sau

HTTr và HXTĐT lần lượt là 51,3% (59 BN) và 59,1% (68 BN). Kết



19

quả của chúng tôi cũng thấp hơn Ngô Thanh Tùng (2011) hạ bạch cầu

là 43,4% (độ 3, độ 4 chiếm 5%), hạ bạch cầu hạt 28,3% (3,3% độ 3).

Kết quả của chúng tôi tương tự Prakash B (2008) phác đồ HXT

tuần tự paclitaxel và carboplatin bệnh nhân giảm bạch cầu trung tính là

5/12 bệnh nhân. Nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn Lauren C (2014).

Nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn nhiều so với nghiên cứu TAX 323,

trong đó sau hóa chất độc tính nhóm CF là 52,5%, nhóm TCF là 76,9%.

* Tác dụng không mong muốn lên gan, thận và vài chỉ số sinh

hố máu

Độc tính lên chức năng gan: Nghiên cứu của chúng tôi cao hơn

Trần Bảo Ngọc (2011). Nghiên cứu của chúng tơi thấp hơn Ngơ

Thanh Tùng (2011)

Độc tính chức năng thận: Kết quả của chúng tôi thấp hơn Trần

Bảo Ngọc (2011). Nghiên cứu của chúng tôi cao hơn Ngô Thanh

Tùng (2011).

* Tác dụng khơng mong muốn ngồi hệ tạo huyết

Nôn/buồn nôn: So sánh Luciano de Souza Viana (2015) giai

đoạn hóa trị TC tỷ lệ nơn/buồn nơn là 25%, trong đó mức 1 là 21,7%

mức 2 là 3,3%.

Các độc tính ngồi hệ tạo huyết đều ở mức độ kiểm sốt được

do BN nhận sự chăm sóc điều trị sớm tại viện. Tại nghiên cứu thử

nghiệm của Hitt (2005), tỷ lệ viêm niêm mạc họng miệng cao hơn

nhiều ở nhóm sử dụng phác đồ CF do liều 5-FU cao hơn so với liều ở

nhóm TCF, từ đó các BN cũng bị trì hỗn thời gian điều trị do độc tính.

Những gợi ý từ các nghiên cứu ở nước ngoài đã gợi mở một



20

hướng nghiên cứu mới tại Việt Nam vì thực tế hiện nay các nghiên

cứu về chăm sóc điều trị để tăng chất lượng cuộc sống của người

bệnh chưa được quan tâm đúng mức.

4.1.4. Theo dõi di căn và sống thêm sau điều trị

* Theo dõi di căn

Nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với Prakash B. Chougule

(phác đồ paclitaxel và carboplatin) có tỷ lệ di căn là 21% (9/43 bệnh

nhân). Kết quả của chúng tôi cao hơn Ngô Thanh Tùng (2011) với tỷ

lệ 13,3%. Theo Ngô Thanh Tùng (2011), căn phổi chiếm 1 nửa số

bệnh nhân ung thư hạ họng thanh quản điều trị ngay bằng phác đồ

HXTĐT cisplatin.

* Theo dõi sống thêm

* Tỷ lệ tử vong: So sánh với HXTĐT phác đồ TC của Andreas

Dietz (2009) thấy tỷ lệ sống sau 36 tháng là 43%, tương ứng với tỷ lệ

tử vong sau 36 tháng là 57%. Nghiên cứu của chúng tơi có tỷ lệ tử

vong cao hơn có thể do các bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng

tôi đều ở giai đoạn muộn hơn, giai đoạn III và IV, trong đó giai đoạn

IV chiếm đa số.

So sánh với Luciano de Souza Viana (2015) trong đó 15%

sống và 85% tử vong sau 3 năm theo dõi, toàn bộ 15% bệnh nhân

sống thêm này đều là bệnh nhân sống thêm tiến triển.

So sánh với Prakash B và các cs (2008) ở phác đồ hóa xạ trị tuần

tự (phác đồ paclitaxel và carboplatin), kết quả nghiên cứu cho thấy

sau 3 năm theo dõi (49 tháng) tỷ lệ còn sống 19/44 bệnh nhân tương



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

* Liên quan giữa đặc điểm bệnh nhân với nguy cơ tử vong và sống thêm

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×