Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
III. Nguyên Nhân Gây Suy Thoái Đất

III. Nguyên Nhân Gây Suy Thoái Đất

Tải bản đầy đủ - 0trang





Q trình hoang mạc hố

hoang mạc hố là q trình

tự nhiên và xã hội phá vỡ cân

bằng sinh thái của đất, thảm thực

vật, khơng khí và nước ở các

vùng khơ hạn và bán ẩm ướt...

Quá trình này xãy ra liên tục, qua

nhiều giai đoạn, dẫn đến giảm sút

hoặc huỷ  hoại  hoàn  toàn  khả

 năng  dinh  dưỡng  của  đất

 trồng,  giảm  thiểu  các điều kiện

sinh sống và làm gia tăng sinh

cảnh hoang tàn



Hiện nay hiện tượng hoang mạc hoá thể hiện rõ nhất trên đất trống

đồi núi trọc, khơng còn lớp phủ thực

vật, địa hình  dốc,  chia  cắt  mạnh,  nơi  có  lượng  mưa  thấp

 (700- 1500mm/năm), lượng  bốc  hơi  tiềm  năng  đạt  1000 1800mm/năm  (Ninh  Thuận,  Bình Thuận, Cheo Reo, Sơng Mã, n

Châu). Ở Việt Nam, do hậu quả của việc phá rừng, đốt rừng bừa bãi, sử

dụng đất không bền vững qua nhiều thế hệ (du  canh,  du  cư,  độc  canh,

 quãng  canh…)  nên  đất  bị  thoái  hoá  nghiêm trọng, nhiều nơi mất khả

năng sản xuất và khả năng hoang mạc hoá ngày càng phát triển.







Quá trình xâm ngập mặn

Qúa trình suy thối đất do hiện tượng xâm ngập mặn diễn ra chủ yếu ở

những tỉnh ven biển có đường bờ biển kéo dài và có độc cao so với mực nước

biển thấp. Hiện tượng này chủ yếu xảy ra ở những tỉnh ĐBSCL .



Căn cứ vào nồng độ muối hoà tan với tỷ lệ clo trong đó, Hội Khoa học Đất Việt

Nam chia đất mặn ra



Độ Mặn



Tỉ lệ muối hòa tan(%)



Nồng độ Cl (%)



>1



>0.25



0.5 - 1



0.15 – 0.25



Mặn trung bình



0.25



0.05 – 0.15



Mặn ít



<0.25



<0.05



Rất mặn

Mặn nhiều



+ Đất mặn ngoài đê biển (đất mặn sú vẹt): Diện tích 105.300ha, thường

xuyên ngập nước biển và chỉ thích nghi với tập đoàn câyrừng ngập mặn, như:

đước, sú, vẹt, mắm, bần,... Tuy có diện tích ít nhưng vơ cùng quan trọng trong

việc bảo vệ bờ biển và nuôi trồng thủy sản



+ Đất mặn nhiều: diện tích 139.610ha, phần lớn tập trung ở vùng ven

biển Đồng bằngsông Cửu Long 102.000ha. Những vùng ven biển khác đều

có nhưng diện tích ít hơn, như Đông Nam Bộ 19.590ha, duyên hải miền

Trung 11.420ha, Khu IV cũ 6.600ha. Hệ thốngthuỷ lợi, chế độ thuỷ văn

cũng tác động làm thay đổi tính chất và diện tích đất mặn nhiều

+ Đất mặn trung bình và ít: diện tích 732.580ha, nằm bên trong vùng

mặn nhiều, đại bộ phận ở địa hình trung bình và cao còn ảnh hưởng của

thuỷ triều. Đất được xây dựng các cơng trình tưới tiêu, nhiều vùng đã có

năng suất lúa cao. Đất này phần lớn tập trung ởĐồng bằng sông Cửu Long

với diện tích 586.420ha (80%), Đồng bằng sơng Hồng 53.300ha(7,3%),

Khu IV cũ 38.350ha (5,2%), duyên hải miền Trung 35.560ha (4,9%) và

một ít ở Đơng Nam Bộ.



Nước mặn từ chỗ có hại trở thành nguồn lợi. Trước đây, đến những

vùng đất mặn, dù ở miền Bắc hay miền Nam đều thấy chung một cảnh là

"đất không nuôi nổi người", nhưng nay đã khác, do việc chuyển đổi cơ cấu

nông nghiệp và sự hiểu biết củangười dân về đất mặn đã tăng lên, đồng lúa

trĩu hạt, kết hợp với nuôi trồng thuỷ sản, đời sống của dân đã được cải

thiện rõ rệt





Nhóm đất phèn

Đất phèn được hình thành trên các sản phẩm bồi tụ phù sa với vật

liệu sinh phèn. Vùng Tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười, kể cả một số

nơi ở Hải Phòng, Thái Bình khi đào đất tới độ sâu nào đó, người ta thấy

xuất hiện màu đen, có mùi hơi của khí sunphua hyđrơ (H2S).



Nếu để đất màu đen đó hong khơ ngồi khơng khí sẽ xuất hiện màu

vàng và bốc mùi của chất lưu huỳnh - đó chính là chất phèn gồm hỗn hợp

của sunphát nhôm và sunphát sắt. Hiện tượng này liên quan đến nguồn

gốc hình thành của đất phèn. Các nhà khoa học cho rằng, sự ôxy hoá các

sản phẩm hữu cơ chứa lưu huỳnh (xác các cây sú, vẹt, mắm, đước, tràm,...)

là nguyên nhân chính để sinh ra chất phèn. Đất phèn được xác định bởi sự

có mặt trong phẫu diện đất hai loại tầng chuẩn đốn chính là tầng sinh

phèn. Đất chỉ có tầng sinh phèn gọi là đất phèn tiềm tàng. Đất có tầng phèn

gọi là đất phèn hiện tại.



Do độ axit không quá thấp (pH 5 - 6), trên đất phèn tiềm tàng còn có

khả năng phát triển cây trồng, nguồn nước trong vùng chưa bị axit hóa,

thủy sinh còn có điều kiện phát triển. Tuy nhiên, đất phèn hoạt động có độ

axit cao (pH thấp hơn 5) không phù hợp cho cây trồng, đồng thời còn gây

axit hóa nước sơng rạch do mưa chảy tràn dẫn tới tác động tiêu cực đến cấp

nước, cây trồng và cây thủy sinh.

Q trình phèn hóa môi trường đất diễn ra trong mùa khô do xảy ra

hiện tượng phèn hóa tầng phèn tiềm tàng (pyrite) thành phèn hoạt động

(Jarosite) làm xuất hiện nhiều Al3+, Fe2+, S042- và pH thấp. Nhiễm phèn

do nước phèn từ các vùng khác đưa đến và do đắp bờ, làm vuông tôm tạo

nên q trình ơxy hóa phèn từ bờ bao ra kinh rạch đầm ruộng.







Hiện tượng ơ nhiễm đất

+ Ơ nhiễm đất vì nước thải: Ngun nhân là khơng biết cách lợi

dụng một cách khoa học các loại nước thải để tưới cho cây trồng. Sử

dụng hợp lý nguồn nước thải tưới đồng ruộng sẽ tận dụng được lượng

Nitơ, Photpho, Kaki... trong nước, có lợi cho cây trồng. Nhưng nếu

như nước ô nhiễm chưa qua xử lý cần thiết, tưới bừa bãi, thì có thể đưa

các chất có hại, các loại vi khuẩn gây bệnh trong nguồn nước vào đất

gây ô nhiễm.

Trong những năm 70, nông dân Ấn Độ cũng sử dụng tràn lan các nước

thải thành thị chưa qua xử lý để tưới ruộng, khiến cho khả năng sản

xuất của đất giảm, gây hại tới sức khoẻ nông dân



Theo một báo cáo, tỷ lệ nhiễm các bệnh về đường ruột ở người do nông

phẩm ở những khu vực này cao hơn gấp 3 lần những nơi khác

+ Ô nhiễm đất vì chất phế thải: Nguồn chất thải rắn có rất nhiều, chất

thải rắn công nghiệp, chất thải rắn của ngành khai thác mỏ, rác ở đô thị,

chất thải nông nghiệp và chất thải rắn phóng xạ. Chủng loại của chúng rất

nhiều, hàm lượng các nguyên tố độc trong chúng cũng không giống nhau;

tỷ lệ nguyên tố độc hại trong chất thải rắn công nghiệp thường cao hơn; rác

thành thị chứa các loại vi khuẩn gây bệnh và ký sinh trùng; chất thải rắn

nông nghiệp chứa các chất hữu cơ thối rữa và thuốc nơng nghiệp còn lưu

lại...;



chất thải phóng xạ có chứa các nguyên tố phóng xạ như Uranium,

Strontium, Caesium... những chất thải rắn này được vứt bừa bãi, ngấm

nước mưa, và rỉ ra nước gây ô nhiễm đất, sông ngòi, ao hồ và nguồn nước

ngầm, nguồn nước ơ nhiễm này lại được dùng để tưới đồng ruộng sẽ làm

thay đổi chất đất và kết cấu đất, ảnh hưởng tới hoạt động của vi sinh vật

trong đất, cản trở sự sinh trưởng của bộ rễ thực vật và ảnh hưởng tới sản

lượng cây trồng.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

III. Nguyên Nhân Gây Suy Thoái Đất

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×