Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
4 Tế bào gốc tạo máu

4 Tế bào gốc tạo máu

Tải bản đầy đủ - 0trang

2.5 Các nguồn lấy tế bào gốc tạo máu:

Tủy xương: Là nguồn truyền thống để lấy tế bào gốc tạo máu. Người

hiến tế bào gốc được gây mê, chọc và hút tủy xương ở vùng xương chậu. Mật

độ tế bào gốc trong tủy xương khơng nhiều, trung bình trong 100,000 tế bào tủy

xương có một tế bào gốc tạo máu, các tế bào khác là tế bào thân, tế bào gốc

thân, tế bào định hướng dòng máu và các tế bào hồng cầu, bạch cầu trưởng

thành

Máu ngoại vi: Là một nguồn lấy tế bào gốc tạo máu dùng cho điều trị.

Với mục đích ghép tế bào gốc tạo máu trên lâm sàng, vì lý do an tồn và sự

thuận lợi của kỹ thuật, lấy tế bào gốc tạo máu từ máu ngoại vi thường được

thực hiện nhiều hơn lấy từ tủy xương. Bình thường trong máu ngoại vi chỉ có

một lượng ít tế bào gốc tạo máu và tế bào máu tiền thân. Để huy động các tế

bào này từ tủy xương vào máu, cần tiêm cho người hiến tế bào gốc các cytokine

như yếu tố kích thích quần thể tế bào hạt (G-CSF) vài ngày trước khi thu tế bào

gốc. Thu tế bào gốc tạo máu được thực hiện bằng cách đưa một ống vào trong

ven người cho và cho dòng máu đi qua một hệ thống lọc, hệ thống này cho phép

lấy ra các tế bào CD34+ và đưa trở lại cơ thể các tế bào máu khác. Khoảng 520% lượng tế bào CD34+ thu được là tế bào gốc tạo máu thực sự, số còn lại là

các tế bào máu tiền thân, các bạch cầu ở những giai đoạn trưởng thành khác

nhau.

Cuống rốn: Từ cuối những năm 1980, đầu những năm 1990 các nhà

nghiên cứu đã phát hiện ra máu cuống rốn và máu nhau thai là những nguồn

giầu tế bào gốc tạo máu. Đến nay ghép máu cuống rốn đã có ứng dụng rộng rãi

trong điều trị bệnh máu ác tính.

Các tế bào gốc phơi hoặc tế bào mầm phôi: Trong tương lai, khi ứng

dụng của các tế bào gốc phôi trở nên rộng rãi, đây cũng sẽ là nguồn quan trong

để lấy tế bào gốc tạo máu.

- Hệ thống tạo huyết thai nhi (gan, lách thai): Là một nguồn tế bào gốc tạo

máu quan trọng cho nghiên cứu nhưng không phải cho sử dụng lâm sàng.



2.6 Các ứng dụng lâm sàng của tế bào gốc tạo máu

a . Điều trị bệnh lơ-xê-mi và u lympho:

Các tế bào gốc tạo máu (bị ung thư) của bệnh nhân được phá hủy bởi tia xạ

và hóa chất và được thay thế bằng ghép tủy xương hoặc bằng ghép tế bào gốc

12



tạo máu lấy từ máu ngoại vi của một người cho phù hợp. Người cho phù hợp

thường là anh, chị, em của bệnh nhân, những người này được thừa hưởng

kháng nguyên hòa hợp tổ chức tương tự bệnh nhân, do đó có thể giảm thiểu

phản ứng thải mơ ghép hoặc phản ứng ghép chống chủ.

b. Điều trị các rối loạn máu bẩm sinh bao gồm thiếu máu bất sản, betathalassemia, hội chứng Blackfan-Diamon, thiếu máu hồng cầu liềm…

c. Dùng tế bào gốc tạo máu cứu nguy cho các trường hợp hóa trị liệu và xạ trị liệu

trong điều trị ung thư.

Biện pháp này còn được gọi là ghép tế bào gốc tự thân. Với mục đích này tế bào

gốc được huy động từ tủy xương vào máu rồi được thu giữ, bảo quản trong khi

bệnh nhân được điều trị hóa chất hoặc tia xạ để tiêu diệt các tế bào ung thư. Khi cơ

thể bệnh nhân đã thanh lọc hết hóa chất/tia xạ, bệnh nhân được nhận lại tế bào gốc

tạo máu của chính mình. Với biện pháp điều trị này khơng có vấn đề bất đồng miễn

dịch dẫn đến thải ghép hoặc phản ứng mảnh ghép chống túc chủ. Tuy nhiên vấn đề

của ghép tế bào gốc tự thân là đôi khi các tế bào ung thư vơ tình được thu gom và

truyền trở lại cho bệnh nhân cùng với tế bào gốc. Hiện nay có một số kỹ thuật mới

phát minh cho phép tránh được điều này bằng cách tách tinh khiết và chỉ bảo quản

các tế bào có CD34+, Thy-1+.

2.7 Điều trị các bệnh lý ở cơ quan khác (nhồi máu cơ tim, Parkinson…):

Các nghiên cứu mới đây trên mơ hình động vật và một số thử nghiệm lâm

sàng cho thấy có thể dùng tế bào gốc tạo máu tiêm trực tiếp vào vùng tổn

thương tim để tái tạo lại mô cơ tim và mạch máu tổn thương trong nhồi máu

cơ tim cũng như có thể tiêm tế bào gốc tạo máu để điều trị bệnh Parkinson.

Các nghiên cứu theo hướng này dựa vào khả năng “mềm dẻo” của tế bào gốc

tạo máu và gợi mở một tiềm năng ứng dụng mới của tế bào gốc tạo máu.



III. ni cấy và biệt hóa tế bào gốc

1. Thành phần mơi trường

• Muối vơ cơ

• Carbohydrate, acid béo, amino acid

• Vitamine

• Yếu tố vi lượng

• Huyết thanh

2. Kỹ thuật nuôi cấy

2.1 Nuôi cấy sơ cấp : là q trình ni cấy được thực hiện trực tiếp từ mảnh mơ

ban đầu đến khi cấy chuyền lần thứ nhất.

13



• Nuôi cấy sơ cấp gồm các bước: thu nhận mô à tách rời các tế bào à ni

cấy tế bào

• Trong mô, các tế bào liên kết với nhau thành một khối thống nhất thông qua

các cầu nối gian bào. Tách các tế bào ra khỏi mô bằng cách phá bỏ những

cầu nối gian bào này. Các cầu nối này được phá hủy bằng hai cách:

• (1) Tác động cơ học: cắt nhuyễn mô, ép nhuyễn mô và tách bằng lọc tế bào.

• (2) Dùng enzyme phân hủy các cầu nối: cầu nối gian bào có bản chất là

protein, do đó các enzyme thủy phân protein được sử dụng để tách tế bào,

những enzyme thường được sử dụng như trypsin, collagenase,

chymotrypsin...

2.2 Ni cấy thứ cấp: là q trình ni cấy được thực hiện sau lần cấy chuyền

đầu tiên.

Cấy chuyền để cung cấp các chất dinh dưỡng tươi và không gian phát triển

cho các dòng tế bào phát triển liên tục.

Cấy chuyền gồm các thao tác: loại bỏ môi trường cũ à rửa bình/đĩa ni à

tách các tế bào gốc bám vào đáy đĩa à pha loãng các tế bào gốc bằng mơi

trường mới



14



3 .Một số quy trình thu nhận và ni cấy và biệt hóa tế bào gốc

3.1 Thu nhận và nuôi cấy tế bào gốc từ tủy xương chuột

Đùi chuột vừa được thu

nhận



Rửa bằng dung dịch PBS



Lóc bỏ phần cơ và thịt



Rửa lại bằng dung dịch

PBS

Thu nhận xương đùi chuột

Cắt bỏ hai đầu xương đùi

Rửa tủy xương bằng dung dịch D’MEM

và thu nhận huyền phù tế bào



bào

Nuôi tế bào trong dụng cụ nuôi phù hợp

Thay môi trường mới sau 24 giờ



15



3.2 Quy trình thu nhận tế bào gốc từ máu cuống rốn

Pha mẫu máu thu được với dung dịch PBS/2mM EDTA

theo tỉ lệ 1:1



Dùng pipette hút 15 ml dung dịch Ficoll_Hypaque

vào ống ly tâm 50ml



Rót nhẹ 30 ml hỗn hợp PBS và máu lên trên

lớp dung dịch Ficoll_Hypaque sao cho không

làm xáo động bề mặt Ficoll_Hypaque/mẫu

Ly tâm 30’ ở 1500v\phút,

nhiệt độ phòng

Tách tế bào đơn nhân ra từ pha giữa

Rửa 2-3 lần với

PBS/EDTA



Tái huyền phù tế bào trong môi trường

ni cấy

3.3 Nghiên cứu ni cấy, biệt hóa tế bào gốc sinh tinh từ bệnh nhân

azoospermia

* Phân lập các tế bào dòng tinh

- Các nghiên cứu phân lập các tế bào dòng tinh đã được nghiên cứu từ rất lâu.

Các nghiên cứu này được tiến hành ở trên cả người và trên động vật. Anna và cs,

1996 đã nghiên cứu và thành cơng q trình phân lập các tế bào dòng tinh, đặc

16



biệt là tinh nguyên bào loại A. Quá trình được tiến hành như sau: Chuột Wistar 9

ngày tuổi, trọng lượng cơ thể từ 18-20g được chọn để lấy tinh hồn. Tinh hồn

được lấy và đặt trong mơi trường MEM (minimum essential medium), có bổ sung

glutamine (2nM), HEPES (15mM), một số amino acid, penicillin (100IU/ml),

streptomycin (100mg/ml), gentamycin (50mg/ml). Sau khi loại bỏ màng trắng

của tinh hồn, mơ tinh hồn được đưa vào dung dịch ni cấy có khoảng 0,05%

collagenase và dispase và 0,04mg/ml DNase, toàn bộ sản phẩm được đặt trong tủ

ấm, ở nhiệt độ 320C. Sau 10 phút các thành phần như mô liên kết được loại bỏ.

Sản phẩm lại tiếp tục được để trong tủ ấm trong 15 phút nhằm tách các tế bào

khỏi màng đáy. Sản phẩm lại tiếp tục cho vào môi trường nuôi cấy trong 20 phút,

có 0,5 U/ml heparinase III, 0,3 U/ml chondroitinase ABC, 0,5 mg/ml collagenase

IV. Sản phẩm thu được lại được lọc qua màng lọc có kích thước lỗ 70mm, sau đó

là 50mm. Sau khi rửa 2 lần, ly tâm 800 vòng/phút trong 30 phút, sản phẩm thu

được là các tế bào dòng tinh. Tác giả đã ni cấy các tế bào ở 32 0C, nồng độ CO2

là 5%.

- Hamra và cs, 2008 tiến hành phân lập các tế bào dòng tinh dựa vào nguyên

tắc: các tế bào thân ở tinh hồn sẽ gắn chặt với nền collagen trong mơi trường ni

cấy. Trong khi đó, các tế bào dòng tinh, trong mơi trường ni cấy lại khơng có đặc

tính đó.

* Ni cấy tế bào dòng tinh

- Các nghiên cứu ni cấy các tế bào dòng tinh đã có từ rất lâu, Steinberger,

1970; Matte, 1971; Ghatnekar, 1974; Curtis, 1981 là những tác giả đầu tiên tiến

hành ni cấy các tế bào dòng tinh.

- Tuy vậy, ni cấy các tế bào dòng tinh chỉ thực sự có ý nghĩa từ sau những

năm 1990, khi kỹ thuật vi thao tác được áp dụng.

- Ngày nay ni cấy tế bào dòng tinh với 2 mục đích:







Biệt hóa các tế bào dòng tinh

Lựa chọn các tế bào khỏe mạnh



+ Đối với azoospermia không do tắc:

- Zhu, 1996; Liu, 1997; Balaban, 1999; Cremades, 1999 và Sousa, 2002,

nuôi cấy các tế bào dòng tinh thu được từ TESE và nhận thấy: sau 24h ni cấy

trong mơi trường có FSH thì tỷ lệ di động và khả năng thụ tinh của tinh trùng tăng

lên.

17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

4 Tế bào gốc tạo máu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×