Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Nghiên cứu nuôi cấy, biệt hóa tế bào gốc sinh tinh từ bệnh nhân azoospermia 16

3 Nghiên cứu nuôi cấy, biệt hóa tế bào gốc sinh tinh từ bệnh nhân azoospermia 16

Tải bản đầy đủ - 0trang

I.tổng quan về tế bào gốc

1.1 khái niêm tế bào gốc

Tế bào gốc là tế bào có khả năng phát triển thành nhiều loại tế bào khác nhau

trong cơ thể. Là một công cụ trong "hệ thống sửa chữa" của cơ thể, khi được

đưa vào các bộ phận khác nhau, tế bào gốc có thể phân chia khơng giới hạn để

lấp đầy những thiếu hụt tế bào của bộ phận đó chừng nào cơ thể còn sống. Tế

bào gốc có thể trở thành tế bào cơ, hồng huyết cầu, tế bào não...

Tế bào gốc có 2 đặc điểm quan trọng tạo nên sự khác biệt với các loại tế bào

khác. Thứ nhất, tế bào gốc là loại tế bào không chuyên dụng nên có thể tự tái

tạo trong một thời gian dài nhờ quá trình phân chia. Thứ hai, trong mơi trường

sinh lý hoặc thí nghiệm nhất định, tế bào gốc có thể biến đổi trở thành tế bào

chuyên dụng như tế bào gây đập của cơ tim hoặc tế bào sản sinh insulin của

tuyến tụy.

1.2 lược sử hình thành

Các tế bào gốc được tìm thấy trong cơ thể của mọi sinh vật sống. Những tế

bào này làm phát sinh các tế bào mà nhiều người khác phân biệt thành các loại

tế bào đặc biệt. Năm 1960, Ernest A. McCulloch và James E. Till cho thấy hai

loại tế bào gốc động vật có vú. Tế bào gốc phơi được tách ra từ khối tế bào

của blastocysts, trong khi các tế bào gốc người lớn được tìm thấy trong các

mơ chỉ dành cho người lớn

Trong phôi thai đang phát triển, các tế bào gốc, được thừa kế, biệt hóa thành

các mơ phôi thai. Trong khi người lớn tế bào gốc giúp sửa chữa các bộ phận

của cơ thể bên cạnh tiền thân. Vai trò cơ bản của tế bào gốc người lớn là để

sản xuất một hệ thống sửa chữa, bổ sung các tế bào đặc biệt và duy trì năng

suất của các cơ quan được tái sinh trong tự nhiên.

Các tế bào gốc trưởng thành và thay đổi thành tế bào chuyên giúp cho việc tạo

ra các tế bào của cơ bắp khác nhau và các mô thần kinh. Tủy xương và máu

dây rốn được sử dụng trong liệu pháp tế bào gốc người lớn đàn hồi.

Trong những năm 1800, các chuyên gia y tế đến để biết rằng một số tế bào có

thể tạo ra các tế bào khác và trong những năm 1900, nó đã chứng minh rằng tế

bào gốc có thể tạo ra tế bào máu, ngay cả. Các chuyên gia cấy ghép tủy xương

3



vào một bệnh nhân có bệnh bạch cầu. Mặc dù, nó đã khơng thành cơng nhưng

nó thúc đẩy các chun gia để thực hiện cấy ghép thành cơng tủy xương ở

người. Nó đã được thực hiện tại Pháp vào những năm 1950. Jean Dausset nói

rằng các protein trên bề mặt của tế bào đã được bạch cầu hoặc kháng nguyên

HLA. Với sự trợ giúp của kháng nguyên HLA, hệ thống miễn dịch xác định

tình trạng lành mạnh của các tế bào và đồ đạc của họ. Trong thập niên 1960,

cấy ghép các tế bào đã được thực hiện giữa anh chị em ruột. Sau này, các quốc

gia Organ Transplant Act năm 1984 và quốc gia tài trợ Chương trình tủy thực

hiện nó. Hơn 16.000 cấy ghép được thực hiện trong thời gian này, và nó đã

được tìm thấy nó chữa các bệnh như immunodeficiencies, dể băng huyết bệnh

bạch cầu và ung thư máu hoặc.

Tuy nhiên, nhiều câu hỏi cũng được nâng lên về tế bào gốc, đặc biệt là ưu và

nhược điểm của họ.

Các tế bào gốc là những tế bào không chuyên mà làm phát sinh các tế bào

nhiều chuyên ngành. Những tế bào từ phôi thai hoặc thai nhi được coi là tốt

nhất vì chúng làm tăng mức độ thành cơng so với các tế bào gốc lấy từ trẻ em

hoặc người lớn. Tuy nhiên, các tế bào gốc ở người lớn có thể được nhận từ tủy

xương. Những tế bào gốc được cấy ghép vào bệnh nhân và tạo thuận lợi cho

sản xuất các loại tế bào máu. Nó được xem là tốt nhất trong trường hợp bệnh

bạch cầu, các loại ung thư hạch được lựa chọn, thiếu máu Aplastic,

thalassemia, thiếu máu tế bào hình liềm, và các rối loạn chuyển hóa bẩm sinh

nhất định hoặc suy giảm miễn dịch như bệnh granulomatous mãn tính.

Người có tủy xương có một lỗi do bất cứ lý do cũng có thể được cấy ghép với

các tế bào gốc. Nó cũng rất hữu ích trong điều trị các bệnh như Parkinson và

Alzheimer.

Các tế bào gốc của chính người được sử dụng, nó được gọi là cấy ghép

autologus và khi các tế bào gốc được lấy từ một người nào khác, nó được gọi

là cấy ghép allogeneic. Trong autologus, tế bào gốc được thu thập trước khi

hóa trị liệu là điều trị có thể thiệt hại các tế bào. Sau khi điều trị, họ lại tiêm

vào cơ thể. Trong trường hợp cấy ghép tủy xương, các nhà tài trợ được tiêm

một tủy gây mê và sau đó được lấy ra từ xương hơng với sự giúp đỡ của các

ống tiêm. Quá trình này mất gần một giờ.

Trong allogenic, tế bào gốc có thể được thu được từ máu. Người được tặng

được cho một loại thuốc mà bản tế bào gốc vào mạch máu và sau đó với sự

giúp đỡ của ống thơng máu được lấy ra khỏi cánh tay. Những tế bào gốc chiết



4



xuất này sau đó được tiêm vào tĩnh mạch của người nhận và họ giúp đỡ trong

nhân tế bào máu. Nó mất khoảng 2-4 giờ sáu phiên trong quá trình 1-2 tuần.

Tuy nhiên, các tế bào gốc cũng có thể được bảo quản bằng đông lạnh để sử

dụng sau này.

Cấy ghép tế bào gốc là nguy hiểm từ điểm nhìn của nhiễm trùng. Các vấn đề

của tham nhũng-so-host bệnh trong đó các tế bào thu được tấn công các tế bào

của bệnh nhân cũng tồn tại. Tuy nhiên, nó có thể tránh được đến mức độ nào

đó bằng cách duy trì vệ sinh xung quanh bệnh nhân. Bệnh nhân chủ yếu là ở

lại bệnh viện khoảng 1-2 tháng. Sau khi nhận được thải ra, họ nên đến các bác

sĩ cho kiểm tra thường xuyên.

Thống kê của cấy ghép tế bào gốc cho thấy tám triệu người trên toàn cầu và

bốn triệu người ở Mỹ đã đăng ký bản thân như các nhà tài trợ cho các tế bào

gốc.

1.3 phân loại tế bào gốc

Chúng ta có thể phân loại và gọi tên “tế bào gốc”theo một số cách sau.

a. Theo tiềm năng biệt hóa:

- Tế bào tồn năng(totipotent cell):hợp tử, hay Blastomere

Là tế bào có khả năng phân chia và biệt hố thành tất cả các tể bào của cơ thể,

có khả năng biệt hố thành cơ thể hồn chỉnh.



Vd:



-Một cành cây có

thể phát triển

thành một cây

hốn chỉnh.

-Ở người,Tinh trùng thụ tinh với trứng tạo thành một totipotent cell(hợp

tử),vài giờ đầu sau khi thụ tinh , tế bào này phân chia tạo thành những

totipotent giống hệt nhau.

5



_ Tế bào Vạn năng(Pluripotent cell): khối tế bào bên trong của Blastocyst

Là tể bào có khả năng bịêt hoá thành tẩt cả các tể bào ngoại trừ tế bào phôi.

_ Tế bào đa năng (multipotent): Tế bào gốc tạo máu

Tương tự như tế bào Vạn năng, thật sự khó có cơ chế chính xác phân biểt hai

loại tế bào này

_ Ngồi ra còn có một số tế bào gốc vài năng , cũng như đơn năng

vd : tế bào gốc tuỷ xương tạo ra các loại tế bào máu.

Cơ chất dưỡng bào( Mast cell precursor) chỉ bịêt hoá cho ra dưỡng bào.



b. Theo nguồn gốc :

_ Tế bào gốc phôi( Embryonic stem cell): được thu nhận từ phôi giai đọan

blastocyst. Chúng là khối tế bào bên trong của Blastocyst còn gọi là lớp sinh

khối bên trong(ICM_Inner mass cell).

Nó tương ứng với tế bào vạn năng theo cách phân loại( 1)

_ Tế bào mầm(Embryonic germ cell):

Là những tế baò gốc được thu nhận từ rãnh sinh dục, vị trí là tiển thân của cơ

quan sinh dục sau này, các tế bào này được chứng minh là vạn năng.

_ Tế bào khối u(Embryonic carcinomas): Được thu nhận từ khối u trong tinh

hoàn và buồng trứng của chuột, những tế bào này được nuôi cấy nhưng những

tế bào gốc phôi.

_ Tế bào gốc trưởng thành : chỉ chung những loại tế bào chưa chun hố,

được tìm thấy trong những mơ ở cơ thể trưởng thành, có thể tự đổi mới và biệt

hoá thành những tế bào chuyên biệt từ nguồn gốc của nó.

Những tế bào loại này được đặt tên theo nơi hiện diện: tế bào gốc tuỷ xương,

tế bào gốc biểu bì,…

6



c. Theo kiểu biệt hố:

Vd: tế bào gốc cơ tim là tế bào sẽ biệt hoá thành tế bào cơ tim, tế bào gốc

xương là những tế bào biệt hố thành những tế bào xương,…

Nhưng có một số tác giả cho rằng cách gọi tên này khơng thật hợp lí vì các tế

bào trên( theo họ) là những tế bào tiền thân( progeneotor cell) hay cơ

chất( pecuor cell) không phảỉ là những tế bào gốc thực thụ.

Nhưng nếu theo cách phân loại theo tiềm năng biệt hóa thì ta cũng có thể xem

những tế bào này là những tế bào gốc một năng(unipotent cell).

Vậy thật sự tế bào mầm là một trong những loại tế bào gốc , xét về tiềm năng

biệt hố nó khơng khác gì tế bào gốc phơi(đều là pluripotent cell)

 Phân biệt tế bào mầm (Embryonic germ cells) và tế bào gốc

(Embryonic stem cells)

Tế bào mầm là một trong những loại tế bào gốc, xét về tiềm năng biệt hố nó

khơng khác gì tế bào gốc phơi (đều là tế bào gốc đa năng (Pluripotent cells).

Tế bào mầm (Germ Cells) là khái niệm để chỉ các tế bào thuộc dòng sinh dục

(Germline).

Tế bào gốc phôi (Embryonic stem cells) và tế bào mầm phơi (Embryonic germ

cells) thì khác nhau ở nơi thu nhận và kiểu tế bào biệt hoá.

Thứ nhất, về nơi thu nhận, tế bào gốc phôi được thu nhận ở phôi từ giai đoạn

phơi nang (blastocyst) trở về trước còn tế bào mầm phôi được thu nhận từ

rãnh sinh dục của phơi (genital ridge).

Thứ hai, về kiểu tế bào biệt hóa thì tế bào gốc phơi sẽ biệt hóa thành 3 lớp

phơi (germ layers) và biệt hóa thành hơn 200 loại tế bào của cơ thể trừ các tế

bào nhau thai và cuống rốn. Còn tế bào mầm phơi thì sẽ biệt hóa thành các tế

bào sinh dục.



7



II.một số ứng dụng của tế bào gốc

2.1 Ghép tế bào gốc trị liệu (stem cell therapy):

Là dùng tế bào gốc để thay thế, sửa chữa các phần cơ thể bị bệnh và tổn

thương bằng các tế bào mới khỏe mạnh. Kỹ thuật này còn được gọi là kỹ

thuật ghép tế bào trị liệu (cell transplantation therapy) hay kỹ thuật thay thế

tế bào trị liệu (cell replacement therapy).

2.1.1 Quy trình ứng dụng tế bào gốc trị liệu bao gồm các khâu sau:

- Sản xuất dòng tế bào gốc:

 Thu tế bào gốc: từ phơi hoặc từ tổ chức trưởng thành.

 Nuôi cấy các tế bào gốc này trong labo nhằm nhân lên về mặt số lượng.

- Với tế bào gốc phôi, cần nuôi cấy nhân tạo trong các điều kiện mơi trường lý

hóa thích hợp để định hướng biệt hóa thành các tế bào mong muốn.

- Ghép tế bào gốc, đưa các tế bào gốc này vào các khu vực tổn thương cần sửa

chữa.

2.1.2 Ứng dụng tế bào gốc trưởng thành trong điều trị:

Trên lâm sàng, tế bào gốc trưởng thành đã được sử dụng trong điều trị các

bệnh tự miễn, tai biến mạch máu não, suy giảm miễn dịch, thiếu máu, nhiễm

Estein-barr virus, tổn thương giác mạc, các bệnh máu và bệnh gan, tạo xương

khơng hồn chỉnh, tổn thương tủy sống, liền vết thương da, điều trị ung thư

(kết hợp với hóa chất và tia xạ), u não, u nguyên bào võng mạc, ung thư

buồng trứng, các khối u đặc, ung thư tinh hoàn, đa u tủy, lơ-xê-mi, ung thư vú,

u nguyên bào thần kinh, u lympho Non-Hodgkin, carcinoma tế bào thận, tái

tạo cơ tim sau cơn đau tim, đái đường type I, tổn thương xương và sụn, bệnh

Parki

2.1.3 Ứng dụng tế bào gốc phơi trong điều trị

Tuy có nhiều triển vọng, hiện nay các tế bào gốc phôi chưa được dùng trong tế

bào gốc trị liệu trên người. Các bệnh có thể được điều trị bằng ghép các tế bào

có nguồn gốc từ tế bào gốc phôi người bao gồm bệnh Parkinson, đái đường,

chấn thương tủy sống, suy tim… Vấn đề là khi điều trị cho các bệnh này yêu

cầu các tế bào gốc phơi phải được định hướng biệt hóa thành các chủng loại tế

bào đặc thù trước khi ghép.

Một ưu điểm của dùng tế bào gốc phôi so với tế bào gốc trưởng thành là các tế

bào gốc phơi có khả năng tăng sinh không giới hạn trên in vitro và có khả

8



năng sinh ra nhiều chủng loại tế bào hơn khi được định hướng biệt hóa. Ưu

thế này sẽ tăng lên nếu như trong q trình ghép tế bào/mơ, các tế bào gốc

phơi khơng gây kích hoạt q trình thải ghép do miễn dịch. Có thể tránh tính

sinh miễn dịch của các tế bào phát triển từ tế bào gốc phôi người bằng chuyển

gen cơ thể nhận vào các tế bào gốc phôi làm cho chúng mang các phân tử

kháng nguyên hòa hợp tổ chức (MHC) lớp I của cơ thể nhận, hoặc bằng kỹ

thuật chuyển nhân để tạo ra các tế bào gốc phôi đồng nhất về gen với người

nhận mô ghép.

Nhược điểm của dùng tế bào gốc phơi cho ghép trị liệu là dễ hình thành các

khối u teratoma. Điều này làm cho tế bào gốc phôi chưa được sử dụng trong

ghép tế bào gốc trị liệu trên lâm sàng. Hiện đã có một số phương pháp nhằm

loại bỏ các tế bào gốc phơi khơng biệt hóa trước khi ghép cho phép có thể

tránh việc hình thành các khối u teratoma trên cơ thể nhận.

2.2 Công nghệ mơ (tissue engineering)

Có thể coi cơng nghệ

mơ là một ứng dụng của

tế bào gốc trị liệu. Các

tiến bộ gần đây trong

nghiên cứu cơng nghệ

mơ và tế bào gốc cho

thấy có thể thiết lập tế

bào thành các cấu trúc

không gian ba chiều

dùng để sửa chữa mô

tổn thương. Sửa chữa tổ

chức bằng cơng nghệ

mơ có thể được thực

hiện bằng cách ni cấy

tế bào gốc và sau đó

ghép vào mơ tổn

thương.

Trong cơng nghệ mơ có thể sử dụng tế bào gốc trưởng thành để phát triển

thành mơ ghép hoặc có thể dùng tế bào gốc phôi tạo ra trong kỹ thuật nhân

bản phôi vơ tính để sản xuất ra các mơ ghép phù hợp về mặt miễn dịch (sơ đồ

B). Một hướng khác có khả năng tạo ra mơ ghép phù hợp với bệnh nhân từ

nguồn tế bào gốc phôi là dùng kỹ thuật chỉnh sửa gen mã hóa phân tử hòa hợp

tổ chức chính (MHC) (sơ đồ A)



9



2.3



Các ứng dụng tế bào gốc phôi không liên quan đến ghép:

Các ứng dụng không liên quan đến ghép chủ yếu được thực hiện trên tế bào gốc

phơi. Có thể kể đến một số ứng dụng sau:

- Nghiên cứu những sự kiện sớm xảy ra trong q trình phát triển phơi thai

người như các ngun nhân có thể gây sinh ra trẻ dị tật bẩm sinh và các bất

thường nhau thai dẫn đến sảy thai.

- Khám phá ảnh hưởng của các bất thường chrosome trong giai đoạn sớm của

quá trình phát triển. Ảnh hưởng này có thể là sự hình thành sớm các khối u ở trẻ

em mà qua nghiên cứu người ta thấy rằng các tế bào khối u này chủ yếu có

nguồn gốc từ phôi.

- Thử nghiệm các thuốc điều trị. Hiện nay trước khi thử một thuốc mới trên

người tình nguyện, thuốc đó phải được qua thử nghiệm tiền lâm sàng. Trong thử

nghiệm tiền lâm sàng có sàng lọc thuốc trên các mơ hình động vật – ví dụ các thử

nghiệm trên in vitro có dùng tế bào chuột, hoặc các thử nghiệm in vivo liên quan

đến việc đánh giá độc tính cấp và độc tính bán trường diễn của thuốc. Mặc dù các

nghiên cứu dược lấy phương pháp thử nghiệm trên các mơ hình động vật làm căn

bản, biện pháp này khơng phải lúc nào cũng cho phép phỏng đốn chính xác các

tác dụng có thể có của thuốc trên các tế bào người. Vì lý do này việc ni cấy tế

bào người thường được sử dụng trong các thử nghiệm tiền lâm sàng. Các dòng tế

bào người này thường được duy trì in vitro trong thời gian dài và như vậy thường

mang các đặc tính biệt hóa hơn các tế bào trong cơ thể. Các khác biệt này có thể

gây khó khăn trong việc phỏng đốn tác dụng của thuốc trong cơ thể nếu chỉ dựa

trên các đáp ứng của các dòng tế bào người trên in vitro. Chính vậy nếu các tế

bào gốc phơi có thể được định hướng biệt hóa thành các loại tế bào đặc thù cho

sàng lọc thuốc, các tế bào đặc thù này có lẽ sẽ mô phỏng tốt hơn đáp ứng của các

tế bào/mô trong cơ thể với thuốc và như vậy cũng cung cấp các mơ hình sàng lọc

thuốc an tồn, kinh tế và hiệu quả hơn.

- Sàng lọc các chất có khả năng gây độc. Lý do sử dụng tế bào gốc phôi người

trong sàng lọc độc chất cũng giống như lý do dùng chúng vào việc thử thuốc như

đã nêu trên. Độc chất thường có tác dụng khác nhau trên các lồi động vật khác

nhau, điều này nói lên tầm quan trọng cần có các mơ hình in vitro phù hợp nhất

cho đánh giá tác dụng của độc chất trên các tế bào người.

- Nghiên cứu các phương pháp mới về công nghệ gen (genetic engineering).

Hiện tại việc chỉnh sửa gen cho các tế bào gốc phôi chuột trên in vitro có thể

được thực hiện một cách dễ dàng nhờ các kỹ thuật như kỹ thuật tái tổ hợp gen.

Đây là một phương pháp thay thế hoặc thêm các đoạn gen, bằng cách này các

phân tử DNA mong muốn được đưa vào bộ gen và sau đó đặc tính được biểu

hiện. Dùng phương pháp này có thể đưa vào dòng tế bào gốc phôi các gen định

hướng tế bào gốc phôi biệt hóa thành các tế bào đặc thù hoặc các gen giúp cho

10



tế bào bộc lộ các sản phẩm protein mong muốn. Về cơ bản, nếu các kỹ thuật đó

có thể phát triển với các tế bào gốc phôi người, nó có lẽ là cuộc cách mạng

trong cơng nghệ gen và tế bào gốc trị liệu.

2.4 Tế bào gốc tạo máu

Tế bào gốc tạo máu được xếp vào loại tế bào gốc trưởng thành. Đây là các tế bào

được tách ra từ máu hoặc tủy xương, chúng có khả năng tự tái tạo (self renew), có thể

biệt hóa thành các tế bào đặc thù, có thể di chuyển từ tủy xương vào máu, và có thể trải

qua q trình apoptosis để loại bỏ đi các tế bào không cần thiết.

Các nghiên cứu cơ bản về tế bào gốc tạo máu nở rộ vào những năm 1960.

Trong thời gian này các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy có hai loại tế bào gốc

tạo máu. Hai loại này về thực chất chính là hai giai đoạn biệt hóa khác nhau của

tế bào gốc tạo máu:

- Các tế bào gốc tạo máu dài hạn (long-term hematopoietic stem cells): đây là các tế

bào gốc tạo máu ít biệt hóa hơn, nói cách khác là “non” hơn, có khả năng tự tái tạo và

tính đa năng cao. Trên thực nghiệm các tế bào này có thể khơi phục hồn tồn chức

năng tạo máu của chuột bị chiếu xạ liều chí tử sau vài tháng. Một ví dụ về tế bào gốc

tạo máu dài hạn là các tế bào gốc tạo máu mang CD34+, tế bào này có thể biệt hóa

thành tất cả các chủng loại tế bào máu khác nhau. Trong điều kiện bình thường, các tế

bào gốc tạo máu dài hạn có khả năng tự tái tạo trong suốt đời sống cá thể. Hiện nay

thuật ngữ “tế bào gốc tạo máu” thường được dùng để đề cập tới loại tế bào gốc tạo máu

dài hạn này.

- Các tế bào định hướng/tiền thân ngắn hạn (short-term progenitor or precursor cell):

đây là các tế bào tạo máu đã khá trưởng thành, không mang CD34, là tiền thân của các

tế bào đã biệt hóa đầy đủ của cùng một loại dòng tế bào máu, ví dụ tế bào định hướng

dòng hồng cầu, tế bào định hướng dòng lympho, mẫu tiểu cầu…. Các tế bào định

hướng/tiền thân ngắn hạn cũng có khả năng tăng sinh, biệt hóa thành các tế bào máu

nhưng so với các tế bào gốc tạo máu dài hạn chúng có giới hạn về tính đa năng. Ví dụ

một tế bào tiền thân hồng cầu có lẽ chỉ có thể tạo thành một tế bào hồng cầu.



11



2.5 Các nguồn lấy tế bào gốc tạo máu:

Tủy xương: Là nguồn truyền thống để lấy tế bào gốc tạo máu. Người

hiến tế bào gốc được gây mê, chọc và hút tủy xương ở vùng xương chậu. Mật

độ tế bào gốc trong tủy xương khơng nhiều, trung bình trong 100,000 tế bào tủy

xương có một tế bào gốc tạo máu, các tế bào khác là tế bào thân, tế bào gốc

thân, tế bào định hướng dòng máu và các tế bào hồng cầu, bạch cầu trưởng

thành

Máu ngoại vi: Là một nguồn lấy tế bào gốc tạo máu dùng cho điều trị.

Với mục đích ghép tế bào gốc tạo máu trên lâm sàng, vì lý do an tồn và sự

thuận lợi của kỹ thuật, lấy tế bào gốc tạo máu từ máu ngoại vi thường được

thực hiện nhiều hơn lấy từ tủy xương. Bình thường trong máu ngoại vi chỉ có

một lượng ít tế bào gốc tạo máu và tế bào máu tiền thân. Để huy động các tế

bào này từ tủy xương vào máu, cần tiêm cho người hiến tế bào gốc các cytokine

như yếu tố kích thích quần thể tế bào hạt (G-CSF) vài ngày trước khi thu tế bào

gốc. Thu tế bào gốc tạo máu được thực hiện bằng cách đưa một ống vào trong

ven người cho và cho dòng máu đi qua một hệ thống lọc, hệ thống này cho phép

lấy ra các tế bào CD34+ và đưa trở lại cơ thể các tế bào máu khác. Khoảng 520% lượng tế bào CD34+ thu được là tế bào gốc tạo máu thực sự, số còn lại là

các tế bào máu tiền thân, các bạch cầu ở những giai đoạn trưởng thành khác

nhau.

Cuống rốn: Từ cuối những năm 1980, đầu những năm 1990 các nhà

nghiên cứu đã phát hiện ra máu cuống rốn và máu nhau thai là những nguồn

giầu tế bào gốc tạo máu. Đến nay ghép máu cuống rốn đã có ứng dụng rộng rãi

trong điều trị bệnh máu ác tính.

Các tế bào gốc phơi hoặc tế bào mầm phôi: Trong tương lai, khi ứng

dụng của các tế bào gốc phôi trở nên rộng rãi, đây cũng sẽ là nguồn quan trong

để lấy tế bào gốc tạo máu.

- Hệ thống tạo huyết thai nhi (gan, lách thai): Là một nguồn tế bào gốc tạo

máu quan trọng cho nghiên cứu nhưng không phải cho sử dụng lâm sàng.



2.6 Các ứng dụng lâm sàng của tế bào gốc tạo máu

a . Điều trị bệnh lơ-xê-mi và u lympho:

Các tế bào gốc tạo máu (bị ung thư) của bệnh nhân được phá hủy bởi tia xạ

và hóa chất và được thay thế bằng ghép tủy xương hoặc bằng ghép tế bào gốc

12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Nghiên cứu nuôi cấy, biệt hóa tế bào gốc sinh tinh từ bệnh nhân azoospermia 16

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×