Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
II. Các Nguyên Nhân Gây Nhiễm Độc

II. Các Nguyên Nhân Gây Nhiễm Độc

Tải bản đầy đủ - 0trang

Khi theo thức ăn vào ruột, vi trùng xuyên vào thành ruột và bị thực

bào bởi đại thực bào. Salmonella typhi lúc đó thay đổi cấu trúc của nó để

chống lại sự phá hủy và cho phép chúng tồn tại bên trong đại thực bào.

Điều này giúp chúng chống lại sự gây hại của bạch cầu hạt, bổ thể và đáp

ứng miễn dịch. Vi trùng sau đó theo lan tỏa theo hệ thống bạch huyết trong

khi vẫn nằm trong đại thực bào. Từ đó chúng xâm nhập hệ thống lưới nội

mơ và sau đó là hầu khắp các cơ quan trong cơ thể.

Bản đồ thế giới với mật độ bệnh thương hàn

-màu đỏ: Nhiều

-màu cam: Trung bình

-màu xám: Ít



Diễn tiến của bệnh thương hàn không được điều trị được chia làm

bốn giai đoạn riêng rẽ, mỗi giai đoạn kéo dài khoảng một tuần…



-Trong tuần đầu tiên, có một sự gia tăng nhiệt độ từ từ tương ứng với

chậm nhịp tim, khó chịu, nhức đầu và ho. Chảy máu mũi (chảy máu cam)

gặp ở một phần tư các trường hợp và đau bụng cũng có thể có. Giảm bạch

cầu, giảm số lượng bạch cầu trong tuần hoàn, giảm bạch cầu ưa axit tương

quan với tăng bạch cầu lympho, phản ứng diazo và ni cấy máu dương

tính với Salmonella Typhi hay Paratyphi.



- Tuần thứ hai của bệnh, bệnh nhân nằm liệt giường với sốt cao quanh

40 °C (104 °F) và nhịp tim chậm, Luôn có mê sảng, li bì nhưng thỉnh

thoảng bị kích thích (co giật). Sự mê sảng làm cho bệnh thường hàn có biệt

danh là "sốt thần kinh" (nguyên gốc là: nervous fever). Chấm hoa hồng

xuất hiện ở phần thấp của ngực và bụng. Bụng chướng căng và đau ở một

phần tư dưới phải nơi có thể nghe được sơi bụng. Tiêu chảy có thể xảy ra

trong giai đoạn này, đi cầu sáu đến tám lần trên ngày, phân màu xanh lục

mùi đặc trưng, có thể so sánh với mùi súp đậu. Tuy nhiên táo bón cũng

thường hay gặp. Gan và lách lớn, mềm và transaminases tăng.



- Tuần thứ ba của thương hàn, một số biến chứng có thể xảy ra:

 Xuất huyết tiêu hóa, do chảy máu từ mảng Peyer xung huyết; có thể rất

trầm trọng những thường khơng gây tử vong

 Thủng ruột non ở đoạn xa hồi tràng; đây là biến chứng cực kỳ trầm

trọng và thường xuyên gây tử vong. Nó có thể xảy ra mà khơng có

triệu chứng cảnh báo cho đến khi nhiễm trùng huyết và viêm phúc mạc

lan tỏa bắt đầu.

 Viêm não

 Gây mủ ở cơ quan khác, viêm túi mật, viêm nội tâm mạc tim, viêm

xương



Đến cuối tuần thứ ba, sốt bắt đầu giảm (hạ sốt).Nó tiếp tục đến tuần

thứ 4 và tuần cuối cùng

Năm 1974 một trận dịch thương hàn làm náo động một khu vực, chỉ

trong một tháng mà có hơn 1000 bệnh nhân bị thương hàn ở xã Tam Bình,

Thủ Đức phải chuyển vào bệnh viện 296 người trong đó có 10 người tử

vong.

Vi khuẩn gây bệnh lỵ (Shigella)



Là trực khuẩn Shigella, thuộc họ Enterobacteriae (vi khuẩn đường

ruột)



Bệnh lỵ trực khuẩn lây qua đường tiêu hóa, lây trực tiếp và gián tiếp.

Lây trực tiếp là từ người sang người hoặc do bàn tay bẩn nhiễm khuẩn. Lây

gián tiếp thường qua nước uống, thức ăn. Ruồi nhặng là mối đe dọa tiềm

tàng ở các nước ơn đới, ở vùng khí hậu nóng, dân sống chen chúc tại các

thành phố trong khi vệ sinh cá nhân và cộng đồng kém.

Thời kỳ ủ bệnh ngắn (từ 1 đến 7 ngày). Bệnh phát đột ngột, khơng có

triệu chứng báo trước với 2 hội chứng:

- Hội chứng nhiễm khuẩn: sốt cao 38 - 39oC hoặc hơn, có rét run,

nhức đầu, mệt mỏi, đau lưng, đau khớp. Ở trẻ em có thể có cơn giật, đồng

thời chán ăn, khát nước, đắng miệng, buồn nôn



- Hội chứng lỵ: Đau bụng, lúc đầu đau âm ỉ quanh rốn rồi lan ra toàn

bụng theo khung đại tràng, cuối cùng thành cơn đau quặn bụng, khu trú ở

hố chậu trái làm bệnh nhân muốn đại tiện, mót rặn và rát hậu môn khi đại

tiện, mỗi ngày đi hơn 10 lần. Lúc đầu phân sệt, sau loãng, rất thối, lẫn với

nhầy và máu. Nhầy nhiều, ít khi trong, thường đục nhờ nhờ, có khi vàng

đục như mủ. Máu khơng tươi mà hồng nhạt hoặc sẫm như máu cá. Nhầy và

máu hòa lỗng với nhau khơng có độ bám dính.

Cuối tháng 10/2011, tại xã Tả Giàng Phình, huyện Sa, tỉnh Lào Cai

đã có 143 bệnh nhân có dấu hiệu mắc dịch lỵ trực khuẩn. Trong đó 3 người

đã tử vong và rất nhiều người dân phải đến cơ sở y tế để điều trị.



Tả Giàng Phình là xã có 100% đồng bào là người dân tộc Mơng, hầu hết

các gia đình chưa có nhà vệ sinh và thói quen ăn uống khơng hợp vệ sinh.



Vi khuẩn gây tiêu chảy (E.Co li)



Vi khuẩn E.coli gây bệnh gồm có 6 chủng. Hiện nay, chủng E.coli

gây bệnh tiêu chảy cấp đang được quan tâm nhiều nhất, đó là chủng E.coli

gây tiêu chảy xuất huyết đường ruột (EHEC) đã được biết đến từ năm

1982. do chúng có khả năng tiết ra độc tố Shiga và được xếp vào nhóm các

vi khuẩn E.coli sản xuất độc tố Shiga



Vi khuẩn gây bệnh chủ yếu ở đường tiêu hoá, sau khi phát triển với

số lượng lớn thì nhiễm vào máu, gây độc tồn thân.

- Tiêu chảy, có thể từ nhẹ đến nặng và phân chảy nước và máu.

 



- Bụng đau quặn.

 



- Buồn nôn và nôn ở một số người.

Chủ yếu là viêm và xuất huyết gần như khắp cơ thể: dưới da, cơ,



màng bụng, màng tim, gan lách...các túi khí đục, đơi khi có chứa các sợi

huyết (Fibrin), hoặc chất bã màu vàng bao phủ lên bề mặt các phủ tạng bên

trong xoang bụng rất đặc trưng cho bệnh E.coli.







Do vi rút:

Viêm gan A (Hepatis virut A)



Viêm gan A lây trực tiếp từ người bệnh sang người lành qua thức ăn

và nước uống bị nhiễm virus.

Viêm gan cấp tính: Sau một thời gian ủ bệnh, trung bình là 30 ngày,

bệnh khởi phát đột ngột bằng các dấu hiệu giống như cảm cúm: sốt, ho,

đau mỏi cơ, nhức đầu, mệt nhọc, chán ăn, đi tiểu ít, nước tiểu sẫm màu.

Chính vì dấu hiệu này mà nhiều người chủ quan, cho rằng chỉ bị cảm cúm

thông thường. Nếu không được phát hiện sớm, bệnh sẽ nặng lên, dẫn đến

những biến chứng nguy hiểm.



Sau 5-7 ngày với những triệu chứng trên, bệnh nhân hết sốt nhưng

vẫn tiếp tục mệt mỏi và chán ăn. Dấu hiệu vàng mắt, vàng da xuất hiện

tăng dần và thường kéo dài 2-4 tuần. Bệnh viêm gan A cấp tính thường tự

khỏi, bệnh nhân đi tiểu nhiều và hết vàng da, vàng mắt. Nhưng có khoảng

2% số trường hợp diễn biến nặng, có thể dẫn đến suy gan, hơn mê gan, làm

cho người bệnh tử vong.



Viêm gan tối cấp: Bệnh diễn biến nhanh chóng trong một tuần với

biểu hiện sốt cao, vàng mắt, mệt lả, gan teo nhỏ. Hôn mê gan thường là

biểu hiện cuối cùng trước khi tử vong.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

II. Các Nguyên Nhân Gây Nhiễm Độc

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×