Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÁT HIỆN CHÁY RỪNG

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÁT HIỆN CHÁY RỪNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

8

377.606 ha rừng tự nhiên. Riêng năm 2003 đã xảy ra 624 vụ cháy rừng, trong

đó vụ cháy rừng tràm U Minh là nghiêm trọng nhất. Năm 2011, trên địa bàn

toàn quốc đã xảy ra 237 vụ cháy rừng và tổng diện tích rừng bị thiêu rụi là

1743,64 ha. Sáu tháng đầu năm 2012, số vụ cháy có xu hướng tăng cao với

208 vụ, gây thiệt hại ngày càng nghiêm trọng cho môi trường và môi sinh. [2]

Cháy rừng là bất kỳ một vụ cháy nào ngồi tầm kiểm sốt của con người,

xảy ra khi hội tụ đủ ba yếu tố:

+ Vật liệu cháy: là tất cả những chất có khả năng bén lửa và bốc cháy

trong điều kiện có đủ nguồn nhiệt và oxy.

+ Oxy: oxy tự do luôn có sẵn trong khơng khí (nồng độ khoảng 21-23%)

và lấp đầy các khoảng trống giữa vật liệu cháy. Khi nồng độ oxy giảm xuống

dưới 15% thì khơng còn khả năng duy trì sự cháy.

+ Nguồn nhiệt: nguồn nhiệt có thể phát sinh do thiên nhiên như: sấm sét,

núi lửa phun trào,… nhưng chủ yếu là do con người.

Cháy rừng gây thiệt hại về kinh tế cho nước ta ước tính hàng trăm tỷ

đồng mỗi năm. Ngồi ra nó còn làm tổn hại đến tính mạng và tài sản của con

người, phá vỡ cảnh quan, tác động xấu đến an ninh quốc phòng và đặc biệt là

làm giảm tính đa dạng sinh học.

Dựa vào các tầng vật liệu gây cháy, người ta phân ra 3 loại cháy rừng là

cháy dưới tán, cháy tán rừng và cháy ngầm [1]:

+ Cháy dưới tán rừng là những đám cháy mà ngọn lửa lan tràn trên mặt

đất làm thiêu hủy một phần hoặc toàn bộ thảm mục, cành khô, lá rụng và

thảm cỏ, cây bụi... Nhiệt độ cháy có thể lên tới 400 0C. Đây là loại cháy rừng

phổ biến nhất ở Việt Nam, chiếm khoảng 97% tổng số vụ cháy rừng.

+ Cháy tán rừng là sự lan truyền của ngọn lửa trên tầng tán (ngọn) của

rừng, thường được phát triển từ cháy dưới tán lên. Khi cháy dưới tán ngọn lửa

đốt nóng và làm khơ tán rừng sau đó cháy qua các cây tái sinh, cây bụi rồi



9

cháy lên tán rừng và ngọn lửa sẽ lan từ tán này sang tán khác. Nhiệt độ cháy

có thể lên tới 9000C. Loại cháy này thường đi kèm với gió mạnh hoặc lốc nên

tốc độ lan truyền nhanh, diện tích cháy rộng. Nó chiếm khoảng 2% trong tổng

số vụ cháy, nhưng thiệt hại là rất lớn đối với hệ sinh thái rừng.

+ Cháy ngầm là loại cháy mà ngọn lửa cháy lan dưới mặt đất làm tiêu

hủy lớp mùn, than bùn và tiêu hủy những vật liệu hữu cơ khác được tính lũy

dưới mặt đất trong nhiều năm. Đặc trưng của hình thức cháy này là cháy âm ỉ,

khơng có ngọn lửa và ít khói nên rất khó phát hiện. Loại cháy này gây thiệt

hại nghiêm trọng đối với tài nguyên rừng và hệ sinh thái rừng. Cháy ngầm

chiếm khoảng 1% trong số vụ cháy rừng, tốc độ của đám cháy rừng thường

rất chậm, đạt khoảng 0,5 – 5 m/ngày.

Việc phân loại cháy trên chỉ có tính tương đối. Trong thực tế có thể đồng

thời xảy ra ba loại cháy trên. Mỗi loại cháy có thể phát sinh độc lập nhưng có

thể chuyển hóa lẫn nhau.

1.1.2 Các nhân tố tự nhiên ảnh hướng đến cháy rừng [2]

- Nhiệt độ: nhiệt độ cao làm bốc hơi nước từ vật liệu cháy. Kết quả làm cho

vật liệu cháy bị khơ. Từ đó cháy có thể xuất hiện.

- Độ ẩm: ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến q trình cháy rừng. Độ ẩm

càng cao thì độ ẩm vật liệu cháy càng cao, càng khó gây cháy và ngược lại.

Khi khơng khí có độ ẩm thấp và nhiệt độ cao thì vật liệu cháy sẽ khơ. Đây là

điều kiện thuận lợi cho quá trình cháy. Độ ẩm thể hiện ở 3 loại sau:

+ Độ ẩm khơng khí: Nhìn chung độ ẩm khơng khí ở các vùng rừng núi cao

hơn bên ngồi do sự thốt hơi nước của sinh vật trong quá trình hoạt động

sinh lý và do đất rừng bốc hơi nước, mặt khác do giới hạn bởi tán rừng nên

khó thốt ra ngồi.

+ Độ ẩm vật liệu cháy: Ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng bén lửa



10

+ Độ ẩm đất: Độ ẩm này được tạo thành bởi lượng nước mưa đọng lại trên

mặt đất rừng, lượng nước thực tại trong tầng đất và lượng nước nhầm.

- Gió: gió có ảnh hưởng đến tốc độ lan truyền và hướng di chuyển của lửa.

Gió cũng làm vật liệu cháy khơ nhanh hơn. Khi tốc độ gió đạt 6 – 7 km/h thì

tốc độ cháy sẽ tăng lên. Khi tốc độ gió đạt trên 15 km/h thì tốc độ và tính

nguy hiểm của cháy sẽ tăng lên nhanh. Tùy theo tốc độ gió, Kooper [2] đã đề

nghị hiệu chỉnh chỉ số nguy cơ cháy rừng P của Nexterov.

- Mưa: mưa làm tăng độ ẩm của vật liệu cháy. Ở Việt Nam, khi mưa nhỏ hơn

5 mm thì vật liệu cháy sẽ khơ, và nguy cơ cháy rừng có thể xảy ra. Mưa trên 5

mm thì ít có nguy cơ cháy rừng.

- Vật liệu cháy: vật liệu cháy bao gồm thảm khô (cành, nhánh, lá, vỏ, hoa

quả…), cây khô, chà nhánh khô sau khi khai thác rừng, than bùn, thân cây và

cành lá còn tươi… Tính nguy hại của cháy rừng tăng lên cùng với sự gia tăng

vật liệu cháy.

- Vùng sinh thái: điều kiện khí hậu của các địa phương khác nhau có ảnh

hưởng đến cháy rừng. Ở Việt Nam, miền Nam có nhiệt độ cao quanh năm, với

hai mùa khơ và mưa phân biệt khá rõ, trong đó mùa khơ có thể kéo dài từ 4 –

7 tháng, đây cũng là mùa dễ phát sinh cháy rừng ở miền Nam. Trong khi đó,

miền Bắc, ở các tỉnh miền núi nơi tập trung nhiều diện tích rừng, thời tiết

hanh khơ kéo dài và rét đậm, rét hại xảy ra ở nhiều nơi dẫn đến thảm bì khơ,

nỏ, làm tăng vật liệu và nguy cơ gây cháy rừng. Ở miền Trung - Tây Ngun,

vào mùa khơ nóng khí hậu rất khắc nghiệt, nguy cơ cháy rừng cao [1].

- Địa hình ảnh hưởng đến kiểu khí hậu, gió, điều kiện bốc hơi nước của vật

liệu cháy hoặc chi phối quy mô, tốc độ lan tràn các đám cháy rừng; sườn đồi

dốc cũng dễ lây lan lửa so với địa hình bằng.

Khi có sự kiện cháy cũng làm thay đổi áp suất và sự tăng lên nồng độ các

khí thải như CO2, CO, SO2, NO2…



11

1.2. CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÁT HIỆN VÀ CẢNH BÁO CHÁY RỪNG

1.2.1 Giới thiệu một số công nghệ sử dụng để phát hiện và cảnh báo

cháy rừng

Ngoài các phương pháp lạc hậu sử dụng sự quan sát của con người bằng

mắt thường, ngày nay con người đã ứng dụng các biện pháp kết hợp tốn học,

khoa học kỹ thuật, máy móc để phát hiện cháy rừng.

Cháy rừng có quan hệ chặt chẽ với nhiều yếu tố như khí hậu (nhiệt độ

khơng khí, độ ẩm khơng khí, số giờ nắng, tốc độ gió mạnh…), địa hình, kiểu

rừng và đặc điểm nguồn vật liệu cháy (khối lượng vật liệu cháy, độ ẩm vật

liệu cháy). Vì thế, phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng có thể dựa trên

một hay nhiều yếu tố có quan hệ với cháy rừng. Có một số phương pháp phân

loại cấp cảnh báo cháy rừng như sau:

 dựa vào nhiệt độ khơng khí (T, 0C) và độ chênh lệch bão hòa độ ẩm



khơng khí (D) hằng ngày.

 dựa vào độ ẩm khơng khí thấp nhất và nhiệt độ khơng khí cao nhất

trong ngày.

 dựa vào số ngày khô hạn liên tục hoặc dựa theo độ ẩm tuyệt đối của vật

liệu cháy.

Dựa vào những nghiên cứu thực địa và những tài liệu nghiên cứu trước

đó để thống kê và mơ tả những nguyên nhân gây ra cháy rừng. Tiếp theo, xác

định kết cấu vật liệu cháy dưới tán rừng. Sau đó, xác định khối lượng, độ ẩm

và hệ số bắt cháy của vật liệu cháy. Cơng đoạn xứ lý tính tốn số liệu, sử dụng

các phương pháp toán học như thống kê, xây dựng các hàm phân loại tuyến

tính... để tạo ra các mơ hình dự báo nguy cơ cháy rừng.



12

Một trong các công nghệ tiên tiến được sử dụng ngày nay trong việc phát

hiện và cảnh báo cháy rừng là công nghệ viễn thám, hệ thống thông tin địa lý

GIS, cơng nghệ định vị tồn cầu GPS, cơng nghệ mạng cảm biến không dây:

a. Viễn thám: là khoa học thu nhận, xử lý thông tin về các đối tượng trên

bề mặt trái đất mà không tiếp xúc trực tiếp với nó. Cơng nghệ này cho phép

thu nhận thơng tin khách quan về bề mặt Trái đất, bề mặt biển và các hiện

tượng trong khí quyển nhờ các cảm biến được đặt trên máy bay, vệ tinh nhân

tạo hay tàu vũ trụ. Cơng nghệ viễn thám có những ưu việt cơ bản như: độ phủ

trùm không gian của tư liệu bao gồm các thông tin về tài nguyên, môi trường

trên diện tích rộng lớn của Trái đất; có khả năng giám sát sự biến đổi của tài

nguyên, môi trường Trái đất do chu kỳ quan trắc lặp lại liên tục trên cùng một

đối tượng trên mặt đất của các máy thu viễn thám. Khả năng này cho phép

công nghệ viễn thám ghi lại được các biến đổi của tài nguyên, môi trường

giúp công tác giám sát tài nguyên thiên nhiên và mơi trường có hiệu quả.

Một hệ thống khá nổi tiếng trong việc phát hiện cháy rừng dựa trên hình

ảnh vệ tinh là MODIS [14]. Nó nghiên cứu các hình ảnh chụp từ vệ tinh.

Nhưng điều kiện thời tiết cũng là một vấn đề quan trọng trong các hệ thống

này. Ảnh quang học khi thu nhận thông tin chủ yếu dựa vào năng lượng mặt

trời nên khi thời tiết xấu thì sẽ khơng thu nhận được hoặc thu nhận kém.

Ngồi ra, mây và mưa sẽ hấp thụ các phần của phổ tần số và làm giảm độ

phân giải quang phổ của ảnh vệ tinh. Vì vậy, hiệu suất của hệ thống này thay

đổi rất nhiều. Vệ tinh có thể giám sát một vùng rộng lớn, nhưng độ phân giải

của hình ảnh vệ tinh là thấp. Chúng khó phát hiện được ngọn lửa nhỏ hoặc lúc

mới cháy ban đầu, ngọn lửa được phát hiện khi nó đã phát triển khá lớn, vì

vậy phát hiện theo thời gian thực có thể khơng được đáp ứng. Hơn nữa, các hệ

thống này là rất tốn kém.



13

b. Hệ thống thông tin địa lý GIS (Geographic information system) là

một cơng cụ tập hợp những quy trình dựa trên máy tính để lập bản đồ, lưu trữ

và thao tác dữ liệu địa lý, phân tích các sự vật hiện tượng thực trên trái đất, dự

đoán tác động và hoạch định chiến lược.

c. Hệ thống Định vị Toàn cầu GPS (Global Positioning System) là hệ

thống xác định vị trí dựa trên vị trí của các vệ tinh nhân tạo, do Bộ Quốc

phòng Hoa Kỳ thiết kế, xây dựng, vận hành và quản lý. Trong cùng một thời

điểm, tọa độ của một điểm trên mặt đất sẽ được xác định nếu xác định được

khoảng cách từ điểm đó đến ít nhất ba vệ tinh.

d. Xử lý ảnh: xử lý ảnh là phương pháp chuyển đổi một bức ảnh thành

dạng số và thực hiện một số hoạt động trên nó, để có được một hình ảnh nâng

cao hoặc trích xuất một số thơng tin hữu ích từ nó. Phương pháp này có thể

phát hiện lửa và vị trí của nó một cách đầy đủ, với mức độ sai sót tương tự

như quan sát của con người.

e. Mạng cảm biến không dây WSN (Wireless Sensor Network): là một

kết cấu hạ tầng bao gồm các thành phần cảm nhận, tính tốn và truyền thông

nhằm cung cấp cho người quản trị khả năng đo đạc, giám sát một mơi trường

xác định và có thể tác động lại các sự kiện, hiện tượng trong môi trường đó.

Đây là một trong những ngành cơng nghệ mới, phát triển nhanh chóng nhất,

với nhiều ứng dụng ở nhiều lĩnh vực: an ninh quốc phòng, mơi trường, cơng

nghiệp, nơng nghiệp, chăm sóc sức khỏe, các ứng dụng gia đình…

Các cơng nghệ trên có thể được sử dụng kết hợp, một hệ thống sẽ sử

dụng hình ảnh, dữ liệu thu được từ vệ tinh và thông qua GIS xử lý chúng để

phát hiện cháy rừng, và cuối cùng là sử dụng GPS để nhận biết vị trí có cháy

để đưa ra cảnh báo.

Với những ưu điểm về giá thành, độ chính xác, trang bị đơn giản, sử

dụng nguồn năng lượng hạn chế… WSN được xem được xem là một sự lựa



14

chọn thích hợp với chi phí thấp, phù hợp với quy mô giám sát của từng địa

phương. Đề tài này sẽ tập trung nghiên cứu sử dụng công nghệ mạng cảm

biến không dây phát hiện cháy rừng.

1.2.2 Giới thiệu về mạng cảm biến không dây

Cảm biến là thiết bị điện tử cảm nhận những thay đổi từ mơi trường bên

ngồi và biến đổi thành các tín hiệu điện để điều khiển các thiết bị khác. Có

nhiều loại cảm biến khác nhau như: cảm biến nhiệt, cảm biến âm thanh, cảm

biến chuyển động, cảm biến hồng ngoại...

Mạng cảm biến không dây là một cấu trúc mạng được tạo ra bởi sự liên

kết của các nút cảm biến thông qua các kết nối khơng dây, trong đó các nút

thường là các thiết bị đơn giản, nhỏ gọn, giá thành thấp ($20 - $100), tiêu thụ

năng lượng ít, sử dụng nguồn năng lượng hạn chế (pin), có thời gian hoạt

động lâu dài (vài tháng đến vài năm) và có số lượng lớn, được phân bố một

cách khơng có hệ thống (non-topology) trên một diện tích rộng (phạm vi hoạt

động rộng), có thể hoạt động trong môi trường khắc nghiệt (chất độc, ô

nhiễm, nhiệt độ...)… làm nhiệm vụ cảm nhận, đo đạc, tính tốn nhằm mục

đích thu thập, tập trung dữ liệu để tạo khả năng quan sát, phân tích, đưa ra các

quyết định về môi trường tự nhiên và phản ứng lại với các sự kiện, hiện tượng

xảy ra trong môi trường.

Mạng cảm biến không dây bao gồm một tập hợp các thiết bị cảm biến sử

dụng các liên kết khơng dây (sóng vơ tuyến, sóng siêu âm, hồng ngoại hoặc

quang học) để phối hợp thực hiện các nhiệm vụ cảm biến phân tán về đối

tượng mục tiêu. Trong đó sóng vơ tuyến cung cấp dải thông lớn với tốc độ dữ

liệu cao được sử dụng phổ biến nhất cho các ứng dụng của mạng khơng dây.

Mạng khơng dây có thể liên kết trực tiếp với nút quản lý của giám sát

viên hay gián tiếp thông qua một điểm thu (Sink) và môi trường mạng công

cộng như Internet hay vệ tinh. Các nút cảm biến khơng dây có thể được triển



15

khai cho các mục đích chuyên dụng như giám sát và an ninh; kiểm tra môi

trường; tạo ra không gian thông minh; khảo sát, chính xác hóa trong nơng

nghiệp; y tế;... Lợi thế chủ yếu của chúng là khả năng triển khai hầu như trong

bất kì loại hình địa lý nào kể cả các môi trường nguy hiểm không thể sử dụng

mạng cảm biến có dây truyền thống được.

Một cảm biến được tạo lên từ bốn thành phần cơ bản là: bộ cảm nhận, bộ

xử lý, bộ nhớ giới hạn, bộ thu phát không dây và nguồn nuôi. Các thành phần

trong một nút cảm biến được minh họa trên Hình 1.1. Kích thước của các cảm

biến này thay đổi từ to như hộp giấy cho đến nhỏ như hạt bụi (mote), tùy

thuộc vào từng ứng dụng. Các số liệu mà hệ thống có thể thu thập có thể là

nồng độ khói, độ ẩm, nhiệt độ, tiếng ồn, mức độ ơ nhiễm khơng khí… Tuỳ

theo ứng dụng cụ thể, nút cảm biến còn có thể có các thành phần bổ sung như

hệ thống tìm vị trí, bộ sinh năng lượng và thiết bị di động.

+ Bộ cảm nhận thường gồm hai thành phần là thiết bị cảm biến (sensor)

và bộ chuyển đổi tương tự/số (ADC). Các tín hiệu tương tự có được từ các

cảm biến trên cơ sở cảm biến các hiện tượng được chuyển sang tín hiệu số

bằng bộ chuyển đổi ADC, rồi mới được đưa tới bộ xử lý.

+ Bộ xử lý (processing unit), thường kết hợp với một bộ nhớ nhỏ, phân

tích thơng tin cảm biến và quản lý các thủ tục cộng tác với các node khác để

phối hợp thực hiện nhiệm vụ.

+ Bộ thu phát (transciever unit) đảm bảo thông tin liên lạc giữa các nút

cảm biến. Mỗi cảm biến đều có một phạm vi phủ sóng nhất định hay gọi là

radio range, phạm vi này thế hiện khả năng truyền tin được trong bán kính xa

bao nhiêu.

+ Một thành phần quan trọng của nút cảm biến là bộ nguồn (power unit).

Bộ nguồn, có thể là pin hoặc acquy, cung cấp năng lượng cho node cảm biến

và không thay thế được nên nguồn năng lượng của nút thường là giới hạn. Bộ



16

nguồn có thể được hỗ trợ bởi các thiết bị sinh năng lượng, ví dụ như các tấm

pin mặt trời nhỏ. Do khả năng cung cấp năng lượng là có giới hạn, dẫn đến

một trong những tiêu chí cơ bản, quan trọng nhất trong thiết kế cho cảm biến

là vấn đề tiết kiệm năng lượng, kéo dài vòng đời của các cảm biến.

Hầu hết các công nghệ định tuyến trong mạng cảm biến và các nhiệm vụ

cảm biến u cầu phải có sự nhận biết về vị trí với độ chính xác cao. Do đó,

các node cảm biến thường có hệ thống định vị (location finding system). Các

thiết bị di động (mobilizer) đôi khi cũng cần thiết để di chuyển các node cảm

biến theo yêu cầu để đảm bảo các nhiệm vụ được phân cơng.

Hệ thống tìm vị trí



Thiết bị di động



Bộ cảm



Bộ xử lý



biến



Thiết bị xử lý



Sensor



ADC



Thiết bị nhớ



Bộ nguồn



Bộ thu

phát

Bộ sinh năng

lượng



Hình 1.1: Các thành phần của node cảm biến.



Một cảm biến thường có kích thước nhỏ gọn (diện tích bề mặt từ vài đến

vài chục cm), khả năng tính tốn hạn chế, dung lượng bộ nhớ nhỏ, nguồn

cung cấp năng lượng có giới hạn. Bên cạnh đó, các nút mạng thường được

triển khai trên các địa hình phức tạp, khơng được bảo trì và có thể di chuyển,

do đó dẫn đến sự bất ổn trong cấu hình mạng. Đây chính là các thách thức cơ

bản hay các tiêu chí thiết kế quan trọng nhất đối với các nhà nghiên cứu về

mạng cảm biến không dây.

Lưu lượng (traffic) dữ liệu lưu thông trong WSN là thấp và không liên

tục. Do vậy để tiết kiệm năng lượng, các cảm biến thường có nhiều trạng thái

hoạt động (active mode) và trạng thái nghỉ (sleep mode) khác nhau. Thông



17

thường thời gian 1 node ở trạng thái nghỉ lớn hơn ở trạng thái hoạt động rất

nhiều.

Do giới hạn khả năng tính tốn của từng nút mạng cũng như để tiết kiệm

năng lượng, WSN thường sử dụng các phương pháp tính tốn và xử lý tín

hiệu phi tập trung (giảm tải cho nút gần hết năng lượng) hoặc gửi dữ liệu cần

tính tốn cho các trạm cơ sở (Base Station, có khả năng xử lý tín hiệu mạnh

và ít ràng buộc về tiêu thụ năng lượng).

Trong mạng cảm biến, năng lượng được sử dụng chủ yếu cho 3 mục

đích: truyền dữ liệu, xử lý dữ liệu và đảm bảo cho phần cứng hoạt động.

Các vấn đề cần nghiên cứu trong thiết kế phần mềm cho các mạng cảm

biến không dây là [4]:

+ tiết kiệm năng lượng và tuổi thọ cho cảm biến.

+ tốc độ và khả năng xử lý có giới hạn.

+ bộ nhớ có kích thước nhỏ.

+ hình thái mạng thường xuyên thay đổi.

+ sự rủi ro cao của các nút cảm biến.

Do phạm vi ứng dụng rất rộng lớn, tính chất, đặc trưng của mạng phụ

thuộc vào ứng dụng triển khai cụ thể, bởi vậy, các tổ chức, công ty hay các

phòng thí nghiệm vẫn thường phát triển, triển khai các giao thức riêng (điều

khiển truy cập, định tuyến, đồng bộ...) phù hợp cho từng ứng dụng cụ thể. Các

kết quả nghiên cứu về mạng cảm biến không dây trước khi triển khai thực tế

thường được kiểm chứng lý thuyết, đánh giá thông qua việc mô phỏng.

Tổng kết chương: Trong chương này luận văn đã giới thiệu những khái

niệm cơ bản liên quan đến vấn đề cháy rừng, các công nghệ tiên tiến được sử

dụng, đặc biệt là công nghệ mạng cảm biến không dây. Với những điểm hạn

chế của mình là chỉ thực hiện việc đo đạc một tiêu chí nhỏ nào đó của mơi



18

trường, nên thơng tin thu được từ mạng cảm biến có tính rời rạc. Ở mức độ

cài đặt các chức năng cho các cảm biến, rất khó để có thể thiết lập các chức

năng khi mà WSN lại có các rủi ro cao cũng như hạn chế về mặt năng lượng.

Ứng dụng đa tác tử là một sự lựa chọn hợp lý để hỗ trợ cho các hệ thống

WSN. Chương tiếp theo, chúng tôi sẽ đề cập đến những khái niệm liên quan

về hệ đa tác tử.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÁT HIỆN CHÁY RỪNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×