Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Kiểm soát chi NSNN qua hệ thống KBNN là việc KBNN thông qua các công cụ nghiệp vụ của mình thực hiện kiểm tra, kiểm soát các khoản chi NSNN qua hệ thống KBNN, đảm bảo các khoản chi đó được thực hiện đúng luật, đúng nguyên tắc cấp phát, thanh toán và có đủ

Kiểm soát chi NSNN qua hệ thống KBNN là việc KBNN thông qua các công cụ nghiệp vụ của mình thực hiện kiểm tra, kiểm soát các khoản chi NSNN qua hệ thống KBNN, đảm bảo các khoản chi đó được thực hiện đúng luật, đúng nguyên tắc cấp phát, thanh toán và có đủ

Tải bản đầy đủ - 0trang

14

phần lành mạnh hố nền tài chính quốc gia, ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm

phát; đồng thời, góp phần nâng cao trách nhiệm và phát huy được vai trò của

các ngành, các cấp, các cơ quan, đơn vị có liên quan đến công tác quản lý và

sử dụng NSNN. Đặc biệt, theo Luật NSNN quy định, hệ thống KBNN chịu

trách nhiệm chính trong việc kiểm sốt thanh tốn, chi trả trực tiếp từng

khoản chi NSNN cho các đối tượng sử dụng đúng với chức năng, nhiệm vụ,

quyền hạn đã được Nhà nước giao, góp phần lập lại kỷ cương, kỷ luật tài

chính.

- Thứ hai, do những hạn chế của bản thân cơ chế quản lý chi NSNN: cơ

chế quản lý, cấp phát thanh toán NSNN tuy đã được thường xuyên sửa đổi và

từng bước hoàn thiện, nhưng cũng chỉ có thể quy định được những vấn đề

chung nhất, mang tính ngun tắc. Vì thế, nó khơng thể bao qt được hết tất

cả những hiện tượng nẩy sinh trong quá trình thực hiện chi NSNN. Cũng

chính từ đó, cơ quan Tài chính và KBNN thiếu cơ sở pháp lý cụ thể cần thiết

để thực hiện kiểm tra, kiểm soát từng khoản chi NSNN. Như vậy, cấp phát chi

NSNN đối với cơ quan Tài chính chỉ mang tính chất phân bổ ngân sách, còn

đối với KBNN thực chất chỉ là xuất quỹ NSNN. Việc chi trả trực tiếp trên

thực tế là chưa thực hiện được đến từng đơn vị sử dụng kinh phí, chưa phát

huy hết vai trò kiểm ra, kiểm soát các khoản chi NSNN. Mặt khác, cùng với

sự phát triển mạnh mẽ của các hoạt động kinh tế xã hội, công tác chi NSNN

cũng ngày càng đa dạng và phức tạp hơn. Điều này cũng làm cho cơ chế quản

lý chi NSNN nhiều khi không theo kịp với các biến động và phát triển của

hoạt động chi NSNN; trong đó, một số nhân tố quan trọng như hệ thống tiêu

chuẩn định mức chi tiêu còn xa rời thực tế, thiếu đồng bộ, thiếu căn cứ để có

thể thẩm định; chưa có một cơ chế quản lý chi phù hợp và chặt chẽ đối với

một số lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực chi đầu tư xây dựng cơ bản, một

lĩnh vực phức tạp, không chỉ tốn nhiều tiền mà còn liên quan đến yêu cầu phát



15

triển kinh tế xã hội, tạo môi trường tham nhũng cho những kẻ thối hố biến

chất. Mặt khác, cơng tác kế tốn, quyết toán cũng chưa được thực hiện một

cách nghiêm tức; từ đó, một số khơng ít đơn vị và cá nhân đã lợi dụng, khai

thác những kẽ hở của cơ chế quản lý đó để tham ơ, trục lợi, gây lãng phí tài

sản và cơng quỹ của Nhà nước.

Từ thực tế trên, đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc kiểm

tra giám sát chi tiêu để phát hiện và ngăn chặn kịp thời những hiện tượng tiêu

cực của các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN cấp; đồng thời phát hiện những kẽ

hở trong cơ chế quản lý để từ đó có những giải pháp và kiến nghị nhằm sửa

đổi bổ sung kịp thời những cơ chế, chính sách hiện hành, tạo nên một cơ chế

quản lý và kiểm sốt chi NSNN ngày càng chặt chẽ và hồn thiện hơn.

- Thứ ba, do ý thức của các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN: Một thực tế

khá phổ biến là các đơn vị sử dụng kinh phí được NSNN cấp thường có chung

một tư tưởng là tìm mọi cách sử dụng hết số kinh phí được cấp mà khơng

quan tâm đến việc chấp hành đúng mục đích, đối tượng và dự toán đã được

duyệt. Các đơn vị này thường lập hồ sơ, chứng từ thanh toán khống, sai chế

độ quy định, khơng có trong dự tốn chi NSNN đã được phê duyệt, không

đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu, thiếu các hồ sơ, chứng từ pháp lý

có liên quan... Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần phải có một tổ chức thứ ba có thẩm

quyền, độc lập và khách quan, có kỹ năng nghề nghiệp, có vị trí pháp lý và uy

tín cao để thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát và đưa ra ý kiến nhận xét, kết

luận chính xác đối với các khoản chi của đơn vị bảo đảm có trong dự tốn

được duyệt; đúng chế độ, định mức, tiêu chuẩn được duyệt; có đủ hồ sơ,

chứng từ thanh tốn theo đúng quy định …; có giải pháp chấn chỉnh và xử lý

kịp thời các gian lận, sai sót, ngăn chặn các sai phạm và lãng phí có thể xảy ra

trong việc sử dụng ngân sách nhà nước của các cơ quan, đơn vị, bảo đảm mọi

khoản chi của NSNN được tiết kiệm và có hiệu quả.



16

- Thứ tư, do xuất phát từ tính đặc thù của các khoản chi NSNN: các

khoản chi của NSNN đều mang tính chất khơng hồn trả trực tiếp. Tính chất

cấp phát trực tiếp khơng hồn lại của các khoản chi NSNN là một ưu thế vô

cùng to lớn đối với các đơn vị sử dụng NSNN. Trách nhiệm của họ là phải

chứng minh được việc sử dụng của các khoản kinh phí bằng các kết quả cơng

việc cụ thể đã được Nhà nước giao. Tuy nhiên, việc dùng những chỉ tiêu định

tính và định lượng để đánh giá và đo lường kết quả công việc trong nhiều

trường hợp là thiếu chính xác và gặp khơng ít những khó khăn. Vì vậy, cần

phải có một cơ quan chức năng có thẩm quyền để thực hiện việc kiểm tra,

kiểm soát các khoản chi của NSNN, bảo đảm tương xứng giữa khoản tiền

Nhà nước đã chi ra với kết quả công việc mà các đơn vị sử dụng NSNN thực

hiện.

- Thứ năm, do yêu cầu mở cửa và hội nhập với nền kinh tế khu vực và

thế giới: theo kinh nghiệm quản lý NSNN của các nước và những khuyến

nghị của tổ chức tài chính quốc tế; việc kiểm tra, kiểm sốt các khoản chi

NSNN chỉ thực hiện có hiệu quả trong điều kiện thực hiện cơ chế chi trả trực

tiếp từ cơ quan quản lý quỹ NSNN đến từng đối tượng sử dụng ngân sách,

kiên quyết không chuyển kinh phí của NSNN qua các cơ quan quản lý tài

chính nhà nước, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng kinh phí của nhà nước.

Vì những u cầu cấp thiết được đặt ra như trên, việc kiểm soát chi

NSNN qua KBNN cần phải diễn ra và nên được quan tâm đúng mức để quá

trình ấy thực hiện được một cách triệt để những mục tiêu đề ra.

1.2.3. Nguyên tắc kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước

qua Kho bạc nhà nước

Việc quản lý chi và kiểm soát chi thường xuyên NSNN được thực hiện

theo những nguyên tắc sau:

Một là, tất cả các khoản chi NSNN phải được kiểm tra, kiểm sốt trước,



17

trong và sau q trình cấp phát, thanh tốn. Các khoản chi phải có trong dự

tốn NSNN được duyệt, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan nhà

nước có thẩm quyền quy định và đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng kinh phí

NSNN chuẩn chi.

Hai là, tất cả các cơ quan, đơn vị sử dụng kinh phí NSNN phải mở tài

khoản tại KBNN; chịu sự kiểm tra, kiểm sốt của cơ quan tài chính, KBNN

trong q trình lập, phân bổ, và thực hiện dự tốn được giao.

Ba là, mọi khoản chi NSNN phải được hạch toán bằng đồng Việt Nam

theo từng niên độ ngân sách, cấp ngân sách và theo Mục lục NSNN. Các

khoản chi NSNN bằng ngoại tệ, hiện vật, ngày công lao động được quy đổi và

hạch toán chi bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá ngoại tệ, giá hiện vật, ngày

công lao động do cơ quan có thẩm quyền quy định.

Bốn là, trong q trình quản lý, cấp phát, quyết tốn chi NSNN, các

khoản chi sai phải thu hồi giảm chi. Căn cứ vào quyết định của cơ quan tài

chính hoặt cơ quan nhà nước có thẩm quyền, KBNN thực hiện thu hồi giảm

chi NSNN.

Năm là, KBNN có trách nhiệm kiểm sốt các hồ sơ, chứng từ, điều

kiện chi và thực hiện cấp phát, thanh toán kịp thời các khoản chi NSNN

theo đúng quy định; tham gia với các cơ quan tài chính, cơ quan quản lý

nhà nước có thẩm quyền trong việc kiểm tra tình hình sử dụng NSNN và

xác nhận số thực chi NSNN qua KBNN của các đơn vị sử dụng NSNN.

KBNN có quyền tạm đình chỉ, từ chối thanh tốn, chi trả và thơng báo cho

đơn vị sử dụng NSNN biết, đồng thời gửi cơ quan tài chính đồng cấp giải

quyết trong các trường hợp: chi không đúng mục đích, đối tượng theo dự

tốn được duyệt; chi khơng đúng chế độ, định mức chi tiêu, không đủ các

điều kiện theo quy định.



18

1.3. NỘI DUNG VÀ QUY TRÌNH KIỂM SỐT CHI THƯỜNG XUN

NSNN QUA KBNN

1.3.1. Nội dung kiểm sốt chi thường xuyên NSNN qua KBNN

Chi NSNN chỉ được thực hiện sau khi kiểm tra có đủ những điều kiện cơ

bản sau: Đã có trong dự tốn chi NSNN được giao, đúng chế độ, tiêu chuẩn,

định mức chi NSNN do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định. Đã được

cơ quan tài chính hoặc thủ trưởng đơn vị sử dụng NSNN hoặc người được ủy

quyền quyết định chi. Có đủ hồ sơ chứng từ thanh tốn. Đặc biệt, cơng tác

kiểm soát chi NSNN qua KBNN được tiến hành trước, trong và sau khi chi.

a. Kiểm soát trước khi chi

Kiểm soát trước khi chi là kiểm soát trước hồ sơ gửi đến cơ quan tài

chính, KBNN khi ĐNQHNS xin được cấp phát. Mục đích của việc hoạt động

này là để kiểm soát việc chấp hành các điều kiện thanh toán, đảm bảo đơn vị

thụ hưởng NSNN phải lập dự toán kinh phí hàng năm (có chia theo q trước

đây) được cấp có thẩm quyền phê duyệt trên cơ sở đúng chế độ, tiêu chuẩn,

định mức chi tiêu NSNN do chính phủ hoặc cơ quan có thẩm quyền quy định

Đồng thời, kiểm soát lệnh chuẩn chi của thủ trưởng đơn vị thụ hưởng NSNN.

Việc kiểm soát này được tiến hành trong suốt q trình từ khi ĐVQHNS

gửi dự tốn chi tới cơ quan tài chính cho đến khi khoản chi đó được cơ quan

tài chính xem xét, thơng báo chi, được ĐVQHNS chuẩn chi và được đưa tới

KBNN để thanh toán, cấp phát. KBNN có thể ra quyết định xuất quỹ hoặc từ

chối việc xuất quỹ NSNN tùy theo kết quả của hoạt động kiểm tra.

b. Kiểm soát trong khi chi

Kiểm sốt trong khi chi là kiểm sốt q trình thực hiện dự toán nhằm

đảm bảo các khoản chi phải đủ điều kiện theo quy định trước khi xuất quỹ

NSNN chi trả cho đối tượng thụ hưởng NSNN. Kiểm soát trong khi chi là

khâu chủ yếu của chu trình kiểm sốt chi và cũng là nhiệm vụ quan trọng nhất



19

của KBNN trong việc quản lý chi quỹ NSNN. Kiểm soát trong khi chi giúp

ngăn chặn kịp thời những khoản chi không đúng chế độ quy định, tránh lãng

phí và thất thốt tiền và tài sản nhà nước.

c. Kiểm soát sau khi chi

Kiểm soát sau khi chi thực chất là giai đoạn kiểm tra việc chấp hành

pháp luật NSNN trong hoạt động quản lý tài chính của đơn vị sử dụng NSNN.

Ở đây, KBNN có trách nhiệm kiểm sốt tồn quỹ tiền mặt, kiểm soát tiền gửi

KBNN, kiểm soát các nguồn thu khác của đơn vị và cách đơn vị sử dụng các

nguồn thu đó. Loại kiểm sốt này thể hiện rõ nhất trong quá trình sử dụng

phương thức cấp tạm ứng cho các khoản chi hành chính, chi mua sắm tài sản,

sửa chữa xây dựng nhỏ chưa đủ điều kiện cấp phát, thanh toán trực tiếp hoặc

tạm ứng theo hợp đồng. Sau khi đã thực hiện chi, đơn vị có trách nhiệm gửi

đến kho bạc giấy đề nghị thanh toán, bảng kê thanh toán kèm theo các hồ sơ,

chứng từ liên quan để thanh toán số tạm ứng và làm thủ tục chuyển từ cấp tạm

ứng sang cấp thanh toán. Ở đây, KBNN kiểm tra, kiểm soát báo cáo thực chi

của đơn vị, nếu đủ điều kiện thì thực hiện thủ tục cấp phát thanh toán và thu

hồi tạm ứng

1.3.2. Quy trình kiểm sốt chi thường xun ngân sách nhà nước

Quy trình kiểm sốt chi thường xun qua KBNN được thực hiện chủ

yếu ở khâu kiểm soát trong khi chi bao gồm các bước sau:

Căn vào dự toán được phân bổ, nhu cầu chi quý đã gửi KBNN và theo

yêu cầu nhiệm vụ chi, đơn vị sử dụng NSNN lập giấy rút dự toán ngân sách,

kèm theo hồ sơ thanh toán gửi KBNN nơi giao dịch. Trường hợp được cơ

quan có thẩm quyền thông báo điều chỉnh nhu cầu chi quý thì đơn vị chỉ được

chi trong giới hạn điều chỉnh.

KBNN nơi giao dịch kiểm tra hồ sơ thanh toán, các điều kiện chi theo

quy định và giấy rút dự toán ngân sách của thủ trưởng đơn vị sử dụng NSNN



20

hoặc của người được uỷ quyền. Nếu đủ điều kiện theo quy định thì thực hiện

việc chi trả, thanh tốn cho đơn vị thụ hưởng NSNN.

- Trường hợp chưa có đủ điều kiện thực hiện thanh toán trực tiếp qua

KBNN ở tất cả các khoản chi thì được phép cấp tạm ứng đối với một số

khoản chi theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Sau khi hồn thành

cơng việc và có đủ chứng từ thanh tốn thì chuyển từ tạm ứng sang thực chi.

- Trường hợp các khoản chi chưa đủ điều kiện chi theo quy định (khơng

có trong dự tốn được duyệt, khơng đúng đối tượng, tiêu chuẩn, định mức,

không đủ hồ sơ, chứng từ hợp pháp, hợp lệ...), KBNN từ chối chi trả và thông

báo cho đơn vị, cơ quan tài chính cùng cấp biết để xử lý. Thủ trưởng cơ quan

KBNN là người có quyền đưa ra quyết định từ chối và hoàn toàn chịu trách

nhiệm về quyết định từ chối của mình.

1.3.3. Cơ chế kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN

a. Cơ chế kiểm soát chi thường xuyên NSNN theo luật NSNN

Luật NSNN (sửa đổi) đã đượ ban hành vào năm 2002, có hiệu lực thi

hành từ năm ngân sách 2004 thay thế luật NSNN năm 1996 và luật sửa đổi,

bổ sung một số điều luật NSNN năm 1997. Theo quy định của Thông tư số

59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 của Bộ tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị

định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6/6/2003 của Chính phủ về quy định chi tiết và

hướng dẫn thi hành luật NSNN [1]; Thông tư số 79/2003/TT-BTC ngày

13/8/2003 của Bộ tài chính hướng dẫn chế độ quản lý cấp phát, thanh tốn các

khoản chi NSNN qua KBNN [2]; thơng tư số 135/2007/TT-BTC ngày

23/11/2007 của Bộ tài chính hướng dẫn một số điểm về tổ chức thực hiện dự

tốn NSNN [13], thì cơ chế KS chi NSNN qua KBNN được thực hiện theo

các nội dung cụ thể sau:

- Về việc phân bổ, giao dự toán NSNN: Dự toán chi thường xuyên của

các đơn vị sử dụng NSNN được giao chi tiết đến mã ngành, khơng phân bổ



21

chi tiết theo nhóm mục chi và không phân bổ chi tiết theo từng quý trong năm

như trước.

- Về hình thức cấp phát NSNN: Luật NSNN (sửa đổi) đã quy định thay

thế việc cấp phát theo hình thức hạn mức kinh phí bawgf chi trả thanh tốn

theo hình thức rút dự tốn tại KBNN. Đây là bước thay đổi mang tính đột phá

của luật NSNN sửa đổi, góp phần cải cách một cách triệt để thủ tục hành

chính trong việc câp phát, thanh tốn các khoản chi NSNN. Căn cứ vào dự

toán chi ngân sách của các cơ quan, đơn vị được giao, KBNN thực hiện kiểm

soát và thanh toán các khoản chi NSNN theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định

mức hiện hành.

- Bổ sung thêm phương thức cấp phát NSNN qua KBNN: Thông tư số

59/2003/TT-BTC của Bộ tài chính đã quy định bổ sung thêm 02 phương thức

cấp phát mới, đó là: Tạm cấp kinh phí NSNN và chi ứng trước dự tốn năm

sau cho cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách.

- Quy định về kiểm soát thanh toán đối với các khoản chi về mua sắm đồ

dùng, trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định: Từ năm 2008 trở đi,

phương án phân bổ dự toán chi thường xuyên của các cơ quan, đơn vị sử dụng

NSNN chỉ giao chi tiết đến Loại, khoản mục lục NSNN (không phân bổ chi

tiết theo các nhóm mục chi và khơng phân bổ chi tiết theo từng quý trong

năm) và gửi KBNN để làm căn cứ kiểm soát thanh toán.

- Quy định về việc chuyển tạm ứng sang năm sau của các đơn vị sử dụng

NSNN: Theo quy định tại Thông tư số 108/2008/TT-BTC của Bộ tài chính

ngày 18/11/2008 hướng dẫn xử lý ngân sách cuối năm và lập báo cáo quyết

toán ngân sách nhà nước hàng năm [16] thì việc chuyển tạm ứng qua năm sau

được thực hiện như sau: Các khaonr tạm ứng đến hết ngày 31/12 chưa đủ thủ

tục thanh toán được phép tiếp tục thanh toán trong thời gian chỉnh lý quyết toán

và quyết toán vào niên độ ngân sách năm trước. Trường hợp hết thời gian chỉnh



22

lý quyết toán vẫn chưa đủ thủ tục thanh tốn thì đơn vị phải làm thủ tục chuyển

tạm ứng sang năm sau. Nếu các khoản tạm ứng được cơ quan tài chính cùng

cấp cho phép chuyển tạm ứng của năm trước sang năm sau thì hạch tốn và

quyết tốn vào ngân sách năm sau, nếu không được chấp thuận cho chuyển tạm

ứng sang năm sau thì KBNN thực hiện thu hồi số tạm ứng bằng cách trừ vào

mục chi tương ứng của dự toán ngân sách năm sau của đơn vị.

- Quy định về Chế độ kế toán NSNN và hoạt động nghiệp vụ KBNN:

Hiện tại đang tồn tại 2 chế độ kế toán dành cho KBNN: Quyết định

120/2008/QĐ-BTC ngày 22/12/2008 của Bộ trưởng Bộ Tài chính [18] cho

những đơn vị KBNN chưa triển khai dự án TABMIS và Thông tư số

212/2009/TT-BTC ngày 06/11/2009 của Bộ trưởng Bộ tài chính [19] áp dụng

cho các đơn vị KBNN đã triển khai dự án TABMIS. Hiện nay KBNN Khánh

Hòa đang thực hiện theo thơng tư số 212/2009/TT-BTC. Đây là chế độ kế

tốn nhằm hồn thiện hơn nữa chế độ kế toán NSNN và các hoạt động nghiệp

vụ của KBNN đối với các nội dung liên quan tới cơng tác kế tốn ngân sách

và kế tốn KBNN theo tinh thần Luật NSNN (sửa đổi).

b. Cơ chế kiểm soát chi thường xuyên đối với các đơn vị thực hiện chế

độ tự chủ theo nghị định 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 của Chính Phủ

Cơ chế tài chính và kiểm sốt chi đối với đơn vị hành chính sự nghiệp

thực hiện khốn biên chế và kinh phí quản lý hành chính được thực hiện theo

quyết định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 của Chính phủ, quyết định

số 117/2013/NĐ-CP ngày 7 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ

sung một số điều của Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 của

Chính phủ, Thơng tư số 03/2006/TTLT-BTC-BNV ngày 17/01/2006 của bộ

tài chính – Bộ Nội vụ và Thông tư số 71/2014/TTLT-BTC-BNV ngày

30/05/2014 của Bộ Tài chính. Cụ thể như sau:



23

Đối tượng áp dụng: Là các cơ quan Nhà nước các cấp từ trung ương đến

địa phương và các tổ chức trực tiếp sử dụng kinh phí quản lý hành chính do

NSNN cấp, có tài khoản và con dấu riêng, được cơ quan nhà nước có thẩm

quyền giao biên chế và kinh phí quản lý hành chính được các cấp có thẩm

quyền phê duyệt.

Ngun tắc thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm: Cơ quan thực

hiện chế độ tự chủ phải bảo đảm các ngun tắc sau:

- Hồn thành nhiệm vụ được giao

- Khơng tăng kinh phí quản lý hành chính của các khoản chi thực hiện

khoán so với trước khi thực hiện khoán

- Quản lý sử, dụng kinh phí tiết kiệm, hiệu quả, thực hiện công khai, dân

chủ và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của cán bộ công chức và người lao động.

- Nội dung các khoản chi bao gồm: Tiền lương, tiền công, phụ cấp

lương, tiền thưởng, phúc lợi tập thể, các khoản đóng gop (BHXH, BHYT,

Kinh phí cơng đồn); các khoản thanh tốn cho các nhân; chi phí thanh tốn

dịch vụ cơng cơng; chi phí th mướn; chi vật tư văn phòng, ; thơng tin tun

truyền liên lạc, chi hội nghị, cơng tác phí, các khoản chi đặc thù, chi mua sắm

tài sản, trang thiết bị vật tư, các khảon chi thực hiệnc ho cơng tác thu phí và lệ

phí và chi khác.

- Mức khoán chi: Được xác định căn cứ vào hệ thống tiêu chuẩn, định

mức, chế độ sử dụng kinh phí thường xun của NSNN, tình hình thực tế sử

dụng kinh phí của đơn vị.

- Lập dự tốn và phân bổ dự toán: Hàng năm, cơ quan thực hiện chế độ

tự chủ lập dự toán ngân sách theo đúng quy định. Dự toán các cơ quan thực

hiện chế độ tự chủ chi tiết theo hai phần: Phần dự toán chi NSNN giao thực

hiện chế độ tự chủ và phần dự tốn chi NSNN giao khơng thực hiện chế độ tự

chủ.



24

- Điều kiện kiểm sốt, thanh tốn kinh phí quản lý hành chính: KBNN

chỉ thực hiện chi trả, thanh tốn cho các đơn vị khi có đủ các điều kiện, căn cứ

dự toán chi NSNN, Quy chế chi tiêu nội bộ, Quy chế quản lý tài sản công và

nhu cầu chi trả, thanh toán của các đơn vị thực hiện chế độ tự chủ.

- Về hạch toán và quyết tốn kinh phí: Đơn vị và KBNN hạch tốn theo

đúng quy định và quyết tốn kinh phí theo đúng các mục chi của mục lục

ngân sách nhà nước, xác định số thực chi theo mục lục NSNN của KBNN nơi

giao dịch là cơ sở để đơn vị lập quyết toán gửi cơ quan quản lý cấp trên và cơ

quan tài chính cùng cấp.

c. Cơ chế kiểm sốt chi thường xun đối với các đơn vị sự nghiệp

công lập, thực hiện chế độ tự chủ theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP.

Việc quản lý, cấp phát thanh toán cho các đơn vị sự nghiệp có thu hiện

nay thực hiện theo quy định tại Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày

25/04/2006 của Chính phủ [29]; Thơng tư 71/2006/TT-BTC ngày 9/8/2006 [5]

và Thông tư 113/2007/TT-BTC ngày 24/9/2007 của Bộ tài chính hướng dẫn

thực iện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP [12]; Thông tư số 81/2006/TT-BTC

ngày 6/9/2006 [6] và Thông tư số 153/2007/TT-BTC ngày 17/12/2007 của Bộ

tài chính hướng dẫn chế độ KS chi đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thực

hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ

máy, biên chế và tài chính [14], cụ thể:

- Đối tưọng áp dụng: Các đơn vị sự nghiệp công lập do cơ quan nhà

nước có thẩm quyền quyết định thành lập hoạt động trong các lĩnh vực sự

nghiệp: Giáo dục – Đào tạo; sự nghiệp y tế, Đảm bảo xã hội; sự nghiệp Văn

hố – Thơng tin, Thể dục – Thể thao, sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác.

- Mục tiêu: được chủ động trong việc tổ chức công việc, sắp xếplại bộ

máy, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính để hồn thành nhiệm vụ được

giao, phát huy mọi khả năng của đơn vị để cung cấp dịch vụ với chất lượng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Kiểm soát chi NSNN qua hệ thống KBNN là việc KBNN thông qua các công cụ nghiệp vụ của mình thực hiện kiểm tra, kiểm soát các khoản chi NSNN qua hệ thống KBNN, đảm bảo các khoản chi đó được thực hiện đúng luật, đúng nguyên tắc cấp phát, thanh toán và có đủ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×