Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC

Tải bản đầy đủ - 0trang

7

kinh tế nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, khắc phục những khiếm

khuyết của kinh tế thị trường, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, góp phần

bảo vệ mơi trường.

1.1.2. Khái niệm và phân loại về chi ngân sách Nhà nước

a. Khái niệm

Chi NSNN là quá trình phân phối, sử dụng quỹ NSNN theo những

nguyên tắc nhất định cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà

nước.

Về thực chất chi NSNN là việc cung câp tài chính cho việc thực hiện các

nhiệm vụ của Nhà nước, cho nên chi NSNN có những đặc điểm sau:

Chi NSNN thể hiện các quan hệ Tài chính – Tiền tệ được hình thành

trong quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm bảo đảm các nhu cầu

chi tiêu của bộ máy nhà nước và thực hiện các chức năng chính trị, kinh tế, xã

hội của Nhà nước.

Chi NSNN là sự kết hợp hài hoà giữa quá trình phân phối quỹ NSNN để

hình thành các quỹ tài chính của các cơ quan, đơn vị và q trình sử dụng các

quỹ tài chính này.

Chi NSNN là các khoản cấp phát, thanh toán từ quỹ NSNN cho các cơ

quan, đơn vị và cá nhân có tính khơng hồn lại. Quy mô của chi NSNN phụ

thuộc vào quy mô các khoản thu của NSNN và những nhiệm vụ chi mà nhà

nước cần phải thực hiện

Chi NSNN gắn chặt với bộ máy quản lý nhà nước và việc triển khai thực

hiện những nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội mà nhà nước phải đảm nhận.

Chi NSNN là một quá trình liên tục, gắn bó mật thiết với sự tồn tại và

phát triển của nền kinh tế và đời sống xã hội, việc xây dựng dự toán và quyết

toán chi NSNN được thực hiện theo đúng niên độ. Cuối năm ngân sách có số



8

kết dư để chuyển sang năm sau, nếu có thâm hụt, phải xác định rõ nguồn bù

đắp và sẽ được xử lý vào năm ngân sách tiếp theo.

Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước, là chủ thể duy

nhất có quyền quyết định quy mô, nội dung, cơ cấu chi NSNN; quyết định

tổng dự toán và tổng quyết toán NSNN; quyết định bổ sung, điều chỉnh chi

NSNN giữa các nhiệm kì, kể cả tổng mức chi đối với những cơng trình lớn,

đặc biệt quan trọng của quốc gia.

Chi NSNN được phân cấp cho chính quyền địa phương quản lý và điều

hành. Ở Trung Ương do Chính Phủ trực tiếp quản lý, ở các cấp chính quyền

địa phương do Uỷ Ban Nhân Dân quản lý dưới sự giám sát của Hội Đồng

Nhân Dân

Việc bố trí các khoản chi NSNN thường được xem xét đến tính hiệu quả

ở tầm vĩ mơ, có tính đến lợi ích quốc gia, các vùng lãnh thổ, các khu vực, các

địa phương trên cơ sở thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã

hội và nâng cao đời sống nhân dân đã được Quốc Hội và Hội Đồng Nhân Dân

các cấp thơng qua.

Các khoản chi NSNN nói chung thường khơng mang tính bồi hồn trực

tiếp; ngoại trừ một số khoản chi NSNN cho vay hỗ trợ, ưu đãi thơng qua tổ

chức tín dụng đặc biệt của Nhà nước mang tính đặc thù của mỗi quốc gia

trong từng thời kì nhất định.

Các khoản chi NSNN gắn liền với các phạm trù kinh tế như đầu tư phát

triển, lợi nhuận, tiền lương, viện trợ... và thường chịu sự tác động trực tiếp

của các phạm trù giá trị như giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đối, tiền tệ, tín dụng...

b. Phân loại chi NSNN

Phân loại chi NSNN là việc sắp xếp các khoản chi NSNN theo những

tiêu thức, tiêu chí nhất định vào các nhóm, các loại chi. Có nhiều tiêu thức để



9

phân loại các khoản chi NSNN, tuy nhiên phân loại theo yếu tố thì chi NSNN

được phân thành:

- Chi thường xuyên: Là quá trình phân phối sử dụng vốn từ quỹ NSNN

để đáp ứng nhu cầu chi gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên

của Nhà nước về quản lý kinh tế - xã hôi.

Chi thường xuyên mang những đặc trưng cơ bản sau:

+ Chi thường xuyên bao gồm các khoản chi về: các hoạt động sự nghiệp,

giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hố, thơng tin, văn học, nghệ thuật, thể dục

thể thao, khoa học và công nghệ; các sự nghiệp xã hội khác; các hoạt động sự

nghiệp về kinh tế, quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội; hoạt đông

của các cơ quan Nhà nước; hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam, Uỷ Ban

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh

Niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam...; trợ giá theo

chính sách của Nhà nước; phần chi thường xuyên thuộc các chương trình mục

tiêu quốc gia, dự án Nhà nước; hỗ trợ quỹ Bảo hiểm xã hội, trợ cấp cho các

đối tượng chính sách xã hội các khoản chi thường xuyên khác theo quy định

của pháp luật; trả nợ gốc và lãi các khoản tiền do Chính phủ vay.

- Chi đầu tư phát triển: Đây là khoản chi mang tính chất tích lũy, mức độ

đầu tư phụ thuộc vào nguồn thu nhập quốc dân và nó ảnh hưởng trực tiếp đến

tăng năng suất xã hội và các quan hệ cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân.

Chi đầu tư phát triển bao gồm các khoản chi cơ bản sau đây:

+ Chi đầu tư phát triển bao gồm các khoản chi về đầu tư, xây dựng các

cơng trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng thu hồi vốn; đầu

tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính

của Nhà nước; góp vốn cổ phần, liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh

vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật; bổ

sung dự trữ của Nhà nước; đầu tư phát triển các chương trình mục tiêu Quốc



10

gia, dự án Nhà nước; các khoản chi đầu tư phát triển theo quy định của pháp

luật.

- Chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền do Chính phủ vay;

- Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính;

- Chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới.

1.1.3. Khái niệm và phân loại kiểm soát chi NSNN

a. Khái niệm

KSC NSNN là việc thẩm định, kiểm tra, kiểm soát các khoản chi

NSNN (chi thường xuyên, chi đầu tư xây dựng cơ bản, chi khác,...) theo các

chính sách, chế độ, định mức quy định.

b. Phân loại KSC NSNN

Có rất nhiều cách phân loại KSC NSNN, nếu phân loại theo thời gian thì

có các hình thức KSC NSNN sau:

- Kiểm sốt trước khi chi hay còn gọi là kiểm sốt phòng ngừa là loại

hình kiểm sốt bao gồm những biện pháp phòng ngừa được áp dụng trước khi

một nghiệp vụ phát sinh, nhằm đề phòng rủi ro, loại trừ các sai phạm trước

khi chúng xuất hiện.

- Kiểm sốt trong q trình chi là hoạt động kiểm sốt được tiến hành

ngay trong quá trình tác nghiệp nhằm phát hiện, ngăn ngừa sai lầm có thể xảy

ra.

- Kiểm sốt sau khi đã chi: mặc dù chức năng kiểm tra, phê duyệt báo

cáo quyết toán thuộc về cơ quan tài chính, nhưng về phía Kho bạc cũng cần

phải đơn đốc, nhắc nhở các ĐVSDNS quyết toán các khoản chi đúng chế độ,

đúng thời gian quy định. Thực hiện xác nhận và nhận xét, làm căn cứ để cơ

quan tài chính xét duyệt một cách nhanh chóng và kịp thời.



11

1.1.4. Sự cần thiết phải thực hiện kiểm soát chi ngân sách Nhà nước

Kiểm sốt chặt chẽ các khoản chi NSNN có ý nghĩ quan trọng trong việc

thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí nhằm tập trung mọi nguồn lực tài chính để

phát triển kinh tế - xã hội, góp phần kiểm chế lạm phát, ổn định tiền tệ & lành

mạnh hóa nền tài chính quốc gia đồng thời góp phần nâng cao trách nhiệm

cũng như phất huy vai trò các cấp, các cơ quan đơn vị có liên quan đến cơng

tác quản lý và điều hành NSNN.

KSC là một trong những chức năng, nhiệm vụ quan trọng của KBNN

trong việc quản lý quỹ NSNN, nó có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử

dụng kinh phí thuộc NSNN. Nếu khơng nắm sát được nhu cầu và tình hình

thực tế chi tiêu của đơn vị sử dụng NSNN mà vẫn bố trí dự tốn để đáp ứng

kế hoạch, sẽ dẫn đến tình trạng tồn đọng kinh phí ở các ĐVSDNS, trong khi

đó NSNN lại căng thẳng, gây bị động khơng đáng có trong điều hành NSNN.

1.2. KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC

1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của kiểm soát chi thường xuyên ngân

sách nhà nước qua kho bạc nhà nước

a. Khái niệm kiểm soát chi thường xuyên NSNN

Kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN là việc KBNN sử dụng

các công cụ nghiệp vụ của mình thực hiện thẩm định, kiểm tra, kiểm sốt các

khoản chi thường xuyên NSNN qua KBNN nhằm đảm bảo các khoản chi đó

được thực hiện đúng đối tượng, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do Nhà

nước quy định và theo những nguyên tắc, hh́nh thức, phương pháp quản lý tài

chính của Nhà nước.

b. Đặc điểm của kiểm sốt chi thường xun NSNN

Với khái niệm trên thì kiểm sốt chi thường xuyên qua Kho bạc nhà

nước được qui định thực hiện theo nguyên tắc kiểm soát tuân thủ (tuân thủ



12

nguyên tắc quản lý tài chính, tuân thủ chế độ, tuân thủ chính sách, tuân thủ

tiêu chuẩn, định mức của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, tuân thủ chế độ

kế toán…) và kiểm soát chuẩn theo quy định pháp lý nhà nước được biểu hiện

qua hình thức chuẩn biểu mẫu chứng từ chi NSNN và các quy định mã hóa

như: mã đơn vị sử dụng NSNN, mã hệ thống mục lục NSNN

Kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN là q trình kiểm sốt

ngay trong q trình chi tiêu NSNN của đơn vị sử dụng NSNN, được tiến

hành thường xuyên khi phát sinh chi tiêu NSNN và thực hiện trên từng khoản

chi NSNN (Khơng kiểm sốt theo hình thức chon mẫu)

Kiểm soát chi thường xuyên gắn liền với những khoản chi thường xun

nên phần lớn cơng tác kiểm sốt chi diễn ra đều đặn trong năm, ít có tính thời

vụ, ngoại trừ những khoản chi mua sắm tài sản, sửa chữa lớn tài sản cố định...

Kiểm soát chi thường xuyên diễn ra trên nhiều lĩnh vực và rất nhiều nội

dung nên rất đa dạng và phức tạp. Chính vì thế, những quy định trong kiểm

soát chi thường xuyên cũng hết sức phong phú, với từng lĩnh vực chi có

những quy định riêng, từng nội dung, từng tính chất nguồn kinh phí cũng có

những tiêu chuẩn, định mức riêng...

Kiểm sốt chi thường xuyên bị áp lực lớn về mặt thời gian vì phần lớn

những khoản chi thường xuyên đều mang tính cấp thiết như: chi về tiền

lương, tiền cơng, học bổng... gắn với cuộc sống hàng ngày của cán bộ, công

chức, học sinh, sinh viên; các khoản chi về chuyên mơn nghiệp vụ nhằm đảm

bảo duy trì hoạt động thường xuyên của bộ máy nhà nước nên những khoản

chi này cũng đòi hỏi phải được giải quyết nhanh chóng. Bên cạnh đó, tất cả

các đơn vị thụ hưởng NSNN đều có tâm lý muốn giải quyết kinh phí trong

những ngày đầu tháng làm cho cơ quan kiểm soát chi là KBNN luôn gặp áp

lực về thời gian trong những ngày đầu tháng.

Kiểm soát chi thường xuyên thường phải kiểm soát những khoản chi



13

nhỏ, vì vậy cơ sở để kiểm sốt chi như hoá đơn, chứng từ... để chứng minh

cho những nghiệp vụ kinh tế đã phát sinh, thường không đầy đủ, khơng rõ

ràng, thiếu tính pháp lý... gây rất nhiều khó khăn cho cán bộ kiểm sốt chi,

đồng thời cũng rất khó để có thể đưa ra những quy định bao quát hết những

khoản chi này trong công tác kiểm soát chi.

1.2.2. Sự cần thiết phải tăng cường kiểm soát chi thường xuyên

ngân sách nhà nước qua Kho bạc nhà nước

- Kiểm soát chặt chẽ được các khoản chi NSNN có ý nghĩa quan trọng

trong việc thực hành tiết kiệm,chống lãng phí.

Kiểm sốt chi NSNN qua hệ thống KBNN là việc KBNN thơng qua các

cơng cụ nghiệp vụ của mình thực hiện kiểm tra, kiểm soát các khoản chi

NSNN qua hệ thống KBNN, đảm bảo các khoản chi đó được thực hiện đúng

luật, đúng nguyên tắc cấp phát, thanh toán và có đủ các điều kiện chi theo quy

định của pháp luật.

Đối với nước ta hiện nay, kiểm soát chi NSNN có ý nghĩa đặc biệt quan

trọng bới những lý do sau đây:

- Thứ nhất, do yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước, trong quá trình

đổi mới cơ chế quản lý tài chính nói chung và cơ chế quản lý NSNN nói

riêng, đòi hỏi mọi khoản chi của NSNN phải đảm bảo tính tiết kiệm và có

hiệu quả. Điều này là một tất yếu khách quan, bởi vì nguồn lực của ngân sách

nhà nước bao giờ cũng có hạn, nó là nguồn lực của đất nước, trong đó chủ

yếu là tiền của và công sức lao động của nhân dân đóng góp, do đó khơng thể

chi tiêu một cách lãng phí. Vì vậy, kiểm sốt chặt chẽ các khoản chi NSNN

thực sự trở thành mối quan tâm hàng đầu của Đảng, Nhà nước, các cấp lãnh

đạo, các ngành của tồn xã hội. Thực hiện tốt cơng tác này sẽ có ý nghĩa to

lớn trong việc thực hành tiết kiệm, tập trung mọi nguồn lực tài chính để phát

triển kinh tế - xã hội, chống các hiện tượng tiêu cực, chi tiêu lãng phí, góp



14

phần lành mạnh hố nền tài chính quốc gia, ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm

phát; đồng thời, góp phần nâng cao trách nhiệm và phát huy được vai trò của

các ngành, các cấp, các cơ quan, đơn vị có liên quan đến cơng tác quản lý và

sử dụng NSNN. Đặc biệt, theo Luật NSNN quy định, hệ thống KBNN chịu

trách nhiệm chính trong việc kiểm soát thanh toán, chi trả trực tiếp từng

khoản chi NSNN cho các đối tượng sử dụng đúng với chức năng, nhiệm vụ,

quyền hạn đã được Nhà nước giao, góp phần lập lại kỷ cương, kỷ luật tài

chính.

- Thứ hai, do những hạn chế của bản thân cơ chế quản lý chi NSNN: cơ

chế quản lý, cấp phát thanh toán NSNN tuy đã được thường xuyên sửa đổi và

từng bước hồn thiện, nhưng cũng chỉ có thể quy định được những vấn đề

chung nhất, mang tính ngun tắc. Vì thế, nó khơng thể bao qt được hết tất

cả những hiện tượng nẩy sinh trong quá trình thực hiện chi NSNN. Cũng

chính từ đó, cơ quan Tài chính và KBNN thiếu cơ sở pháp lý cụ thể cần thiết

để thực hiện kiểm tra, kiểm soát từng khoản chi NSNN. Như vậy, cấp phát chi

NSNN đối với cơ quan Tài chính chỉ mang tính chất phân bổ ngân sách, còn

đối với KBNN thực chất chỉ là xuất quỹ NSNN. Việc chi trả trực tiếp trên

thực tế là chưa thực hiện được đến từng đơn vị sử dụng kinh phí, chưa phát

huy hết vai trò kiểm ra, kiểm sốt các khoản chi NSNN. Mặt khác, cùng với

sự phát triển mạnh mẽ của các hoạt động kinh tế xã hội, công tác chi NSNN

cũng ngày càng đa dạng và phức tạp hơn. Điều này cũng làm cho cơ chế quản

lý chi NSNN nhiều khi không theo kịp với các biến động và phát triển của

hoạt động chi NSNN; trong đó, một số nhân tố quan trọng như hệ thống tiêu

chuẩn định mức chi tiêu còn xa rời thực tế, thiếu đồng bộ, thiếu căn cứ để có

thể thẩm định; chưa có một cơ chế quản lý chi phù hợp và chặt chẽ đối với

một số lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực chi đầu tư xây dựng cơ bản, một

lĩnh vực phức tạp, khơng chỉ tốn nhiều tiền mà còn liên quan đến yêu cầu phát



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×