Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY VIETTRONIMEX ĐÀ NẴNG

3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY VIETTRONIMEX ĐÀ NẴNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

64



d. Về công tác quản trị vốn bằng tiền.

Viettronimex Đà Nẵng đã theo dõi tổng hợp kết hợp với theo dõi chi tiết

luồng tiền vào, luồng tiền ra; quản lý tiền mặt và tài khoản ngân hàng đúng theo

quy định của Nhà nước; thường xuyên kiểm kê lượng tiền mặt tại quỹ để phòng

ngừa những rủi ro, tổn thất trong quá trình quản lý quỹ. Đặc biệt đơn vị chú

trọng đến công tác quản lý tiền mặt phát sinh tại các siêu thị bán lẻ, tiền hàng

được thu về thông qua bộ phận vận chuyển và tiền mặt khách hàng sỉ trả nợ

thông qua các chành xe. Đây là những khâu tiềm ần nhiều rủi ro trong công tác

quản trị tiền như trộm, cướp, chiếm đoạt tiền hàng.

2.3.2 Những hạn chế

Tuy đã đạt được những thành công nhất định, kết quả kinh doanh có sự

tăng trưởng khả quan, song trong quá trình quản trị vốn luân chuyển tại

Viettronimex Đà Nẵng vẫn còn bộc lộ và tồn tại những nhược điểm như sau:

- Việc quản lý vốn lưu động của Công ty chưa thật sự được quan tâm

và đầu tư đúng mức. Cơng ty chưa đưa ra những chủ trương, chính sách cụ

thể rõ ràng nào để định hướng cho công tác quản trị vốn lưu động thể hiện

được vai trò của nó trong việc giúp Cơng ty đạt được những hiệu quả sử

dụng vốn lưu động. Hiện nay, công tác Tài chính kế tốn mới chỉ dừng lại ở

việc giao cho nhân viên đảm nhận công việc theo mảng nghiệp vụ. Cơng tác

kế tốn chỉ dừng lại đơn thuần ở việc hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát

sinh theo các chuẩn mực kế toán hiện hành. Nhận thức về tầm quan trọng

của cơng tác kế tốn quản trị chưa thực sự đầy đủ nên đơn vị chưa xây dựng

được bộ báo cáo kế toán quản trị khoa học, dẫn đến thông tin cung cấp cho

hoạt động quản trị vốn nói chung và vốn ln chuyển nói riêng còn hạn chế,

chậm trễ.

- Công tác hoạch định vốn lưu động chưa có một quy trình cụ thể, sự

phối hợp giữa các thành phần vốn lưu động rất rời rạc khiến cho việc quản

trị vốn lưu động không phát huy được hiệu quả, gây lãng phí vốn lưu động.



65



- Việc lập báo cáo công nợ hằng ngày của các khách hàng sỉ chỉ mang

tính chất thống kê số liệu cho cấp trên chứ chưa đề ra được chính sách hay

tham mưu nào cho BTGĐ trong công tác quản lý thu hồi công nợ. Việc quản

lý công nợ phải thu khách hàng chưa hiệu quả làm cho tỷ lệ chiếm dụng vốn

của Công ty ngày càng cao.

- Chính sách tín dụng và chính sách thu nợ còn chưa được xây dựng

một cách chặt chẽ. Các quyết định bán chịu thường dựa vào cảm tính của

nhân viên bán hàng và người quản lý mảng kinh doanh bán sỉ.

- Hình thức thanh tốn tiền hàng của khách hàng là chuyển khoản và

gởi tiền qua các nhà xe vận chuyển hàng. Vì điều kiện địa lý và việc giao

dịch mua bán thông qua điện thoại nên khách hàng thường hứa hẹn trả tiền

ngay sau khi nhận hàng nhưng sau đó lại thanh tốn khơng đúng hẹn hay

mua vượt quá hạn mức. Những ảnh hưởng tiêu cực của việc bị chiếm dụng

và nguy cơ tiềm ẩn mất vốn từ các khoản phải thu tại Công ty chưa được

phân tích rõ ràng và cụ thể để có giải pháp giải quyết.

- Giá trị hàng tồn kho của Công ty chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu vốn

lưu động nhưng Cơng ty chưa có sự đầu tư thích đáng cho việc quản lý tài sản

này. Trong ngành hàng điện tử - điện lạnh, với sự phát triển của công nghệ và

sự cạnh tranh gay gắt giữa các nhà cung cấp khiến cho mức độ giảm giá của

hàng tồn kho diễn ra rất nhanh trong thời gian một năm. Công tác quản trị hàng

tồn kho còn chưa chặt chẽ và khoa học. Công ty chưa xác định được ngành

hàng nào đem lại lợi nhuận cao, tốc độ quay vòng nhanh và còn bị động trong

việc đặt hàng khiến cho Cơng ty dễ bị rơi vào tình trạng, lúc cần khơng có hàng

để bán, lúc hàng lại tồn lâu phải giảm giá để ‘‘đẩy’’ hàng ra.

- Cơng tác tính tốn quản trị vốn bằng tiền chưa khoa học, còn mang tính

cảm tính và ước lượng. Các biện pháp, phương thức quản trị lượng tiền mặt tồn

tại các siêu thị được xác lập dựa trên kinh nghiệm, chưa có sự phân tích cụ thể,

luôn ở thế bị động dựa trên các báo cáo tiền bán hàng của các siêu thị và xác



66



nhận của ngân hàng. Chưa có biện pháp hữu hiệu để quản trị lượng tiền tồn trữ

trong giai đoạn bán hàng ở các siêu thị.



67



CHƯƠNG 3



GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ VỐN LƯU

ĐỘNG TẠI CÔNG TY VIETTRONIMEX ĐÀ NẴNG

3.1 CÁC CĂN CỨ ĐỂ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

3.1.1 Đánh giá tình hình và triển vọng phát triển của ngành điện

máy trong thời gian tới

a. Một số thông tin dự báo chung.

Theo Tổng cục thống kê, Việt Nam có mức dân số trên 90 triệu dân với

thu nhập và đời sống ngày càng được nâng cao. Đó chính là mảnh đất màu

mỡ cho nhiều ngành nghề phát triển, trong đó có thị trường điện máy. Trong

tương lai, thị trường được dự báo sẽ tiếp tục tăng trưởng khi các hãng sản

xuất liên tục có cải tiến ra mắt sản phẩm mới. Thực tế cũng có thấy, sau thời

gian dài ảm đạm, từ cuối năm 2015, thị trường này đã có nhiều tín hiệu tốt.

Tăng trưởng của các hệ thống điện máy lớn đều đạt từ 15% - trên 20%. Tết

Nguyên đán vừa rồi, sức mua thị trường rất tốt, càng củng cố quyết tâm tái

khởi động cuộc đua mở rộng hệ thống nhằm giành giật thị phần. Song các

công ty kinh doanh điện máy cũng cần chuẩn bị kỹ lưỡng, tính toán thiệt

hơn. Bởi trong một thời gian vài năm trở lại đây khơng ít các tên tuổi lớn

trong ngành kinh doanh điện máy kinh doanh thua lỗ, đã phải bán tháo bỏ dở

cuộc chơi.

Đều đặn qua các năm, thị phần của các chuỗi bán lẻ hiện đại dần dần

gia tăng, và lấn sâu vào thị phần của các cửa hàng nhỏ lẻ truyền thống. Từ

năm 2011, thị phần của các chuỗi bán lẻ hiện đại chỉ chiếm khoảng dưới

20%, dự báo đến năm 2016, thị phần của các chuỗi bán lẻ trong thị trường

hàng hóa cơng nghệ điện tử gia tăng lên mức khoảng 55%. Thị trường hàng

hóa cơng nghệ điện tử dành cho các nhà phân phối bán sỉ ngày càng thu hẹp,

khi mà thị phần của các cửa hàng nhỏ lẻ truyền thống đang sụt giảm mạnh.



68



Do các chuỗi bán lẻ lớn đang dần nhập hàng trực tiếp từ các nhà sản xuất,

thay vì thơng qua các nhà phân phối bán sỉ. Tuy nhiên, các doanh nghiệp

phân phối có thể giữ vững được vị thế trung gian phân phối, bằng chiến lược

phân phối độc quyền kèm theo dịch vụ marketing cho các hãng sản xuất.

Theo phân tích của nhiều chuyên gia, hiện thị trường bán lẻ điện máy

trong nước đang tồn tại ba phương thức cạnh tranh cơ bản là giảm giá,

khuyến mãi, mở rộng thị phần và cải thiện chất lượng dịch vụ. Các phương

thức đều có sự gắn kết chặt chẽ, tuy nhiên nếu doanh nghiệp phân chia tỷ lệ

áp dụng sai sẽ rất dễ rơi vào khủng hoảng. Để tồn tại và phát triển theo

hướng bền vững, doanh nghiệp tập trung nghiên cứu kỹ nhu cầu, thị hiếu

khách hàng và thị trường để có những bước đi thích hợp. Các nhà bán lẻ

điện máy cần phải xác định cho mình những lối đi riêng, đặc biệt phải tạo ra

sự khác biệt trong cuộc cạnh tranh ngày càng cam go này.

b. Các rủi ro đối với ngành.



 Rủi ro thay đổi cấu trúc ngành.

Một trong những xu hướng phát triển trong mảng công nghệ trên thế

giới, các nhà sản xuất đang cố gắng giảm bớt mức chiết khấu, cũng như số

lượng các nhà phân phối trung gian. Thứ nhất, các nhà sản xuất muốn tiết

kiệm lại phần hoa hồng cho các đại lý trung gian khi biên lợi nhuận gộp

trong sản phẩm điện thoại thông minh đang giảm dần. Thứ hai, sau vấn đề

chất lượng sản phẩm, các nhà sản xuất tiến đến mang lại giá trị từ dịch vụ

trực tiếp hơn để tạo ra sự trung thành đối với thương hiệu.

Rủi ro này sẽ hiện hữu nhiều hơn đối với các nhà phân phối, bán sỉ khi

vị thế đang có xu hướng bị suy giảm. Rủi ro càng gia tăng đối với các dòng

sản phẩm có thương hiệu được nhận thức rộng. Các cơng ty sản xuất lớn như

Apple, Samsung, Dell, HP có vị thế lớn để cắt giảm chiết khấu cho các Công

ty phân phối, bán sỉ. Đồng thời, khi thị trường bán lẻ khơng còn phân tán,



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY VIETTRONIMEX ĐÀ NẴNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×