Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 1.1 Trình tự lập dự toán vốn lưu động

Hình 1.1 Trình tự lập dự toán vốn lưu động

Tải bản đầy đủ - 0trang

17



từ dự toán tiêu thụ kết hợp với nhu cầu quản lý của doanh nghiệp trong

tương lai, doanh nghiệp sẽ lập được báo cáo dự tốn chi phí bán hàng và dự

tốn chi phí quản lý doanh nghiệp. Từ các nhu cầu sử dụng tiền trong doanh

nghiệp, doanh nghiệp sẽ lập đươc dự toán vốn bằng tiền từ các dự tốn trên.

Ta có thể xây dựng trình tự lập dự tốn vốn lưu động theo mơ hình 1.1.



 Dự tốn hàng tồn kho

Việc lập dự toán hàng tồn kho được căn cứ vào đặc điểm hoạt động sản

xuất kinh doanh, yêu cầu quản lý của từng doanh nghiệp, qua nghiên cứu

tình hình thị trường và những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh

doanh. Sau khi nghiên cứu tổng hợp, đóng góp ý kiến, sửa chữa, bổ sung

hồn chỉnh và được phê duyệt sẽ trở thành dự toán chính thức. Tùy vào đặc

điểm ngành nghề và chiến lược kinh doanh mà mỗi doanh nghiệp khác nhau

sẽ có mức tồn kho khác nhau. Xác định mức tồn kho hợp lý sẽ làm cơ sở để

xác định lượng hàng cần mua. Để xây dựng mức tồn kho hợp lý, các doanh

nghiệp cần: nắm bắt nhu cầu, hoạch định cung ứng, tính tốn lượng đặt hàng

và xác định thời điểm đặt hàng. [13]

Để xây dựng dự toán hàng tồn kho cần dựa vào:

- Lượng hàng tồn kho đầu kỳ được ước tính theo thực tế của kỳ trước.

- Lượng hàng hóa tiêu thụ dự toán được xác định theo dự toán tiêu thụ.

- Nhu cầu hàng tồn kho cuối kỳ theo mong muốn của nhà quản trị.

Đây chính là mức dự trữ tối thiểu cần thiết để phục vụ tiêu thụ cho thời kỳ

sau thời kỳ dự toán. Nhu cầu này có thể được xác định theo một tỷ lệ phần

trăm nhu cầu tiêu thụ của kỳ sau.

-



Khả năng dự trữ hàng tồn kho của doanh nghiệp.



Như vậy, dự toán hàng tồn kho có thể được tính theo cơng thức:

Lượng hàng

hóa cần



=



Nhu cầu hàng

tồn kho



+



Số sản phẩm

tiêu thụ



-



Số hàng tồn

kho tồn



18



trong kỳ

cuối kỳ

trong kỳ

đầu kỳ

Tuy nhiên không phải doanh nghiệp nào cũng có thể đảm nhận tất cả

nhu cầu, điều đó còn tuỳ thuộc vào khả năng dự trữ hàng tồn kho của doanh

nghiệp trên cơ sở năng lực và quy mơ hiện tại. [27]



 Dự tốn khoản phải thu

Nợ phải thu khách hàng chiếm tỷ trọng lớn khoản phải thu trong doanh

nghiệp, vậy nên dự toán khoản phải thu tác giả sẽ tập trung vào dự đoán số

nợ phải thu ở khách hàng. [4]

Số nợ phải thu ở khách hàng được xác định bằng tỷ lệ giữa doanh thu

tiêu thụ dự kiến và số vòng quay tiền bán chịu cho khách hàng.

Trong đó:



Npt = Dn x Th



Npt số nợ phải thu dự kiến.

Dn là doanh thu tiêu thụ bình quân ngày.

Th là thời hạn thu hồi nợ bình quân, với Th = Dpt/Dn (Dpt là số dư

bình quân khoản phải thu).



 Dự toán vốn bằng tiền

Dự toán vốn bằng tiền là một báo cáo ước tính các dòng tiền thu về và

dòng tiền chi ra trong tương lại dưới dạng bảng biểu, qua đó cho biết số dư

tiền mặt dự kiến của doanh nghiệp trong một khoảng thời gian xác định. Dự

tốn này có thể được lập hằng năm, hằng quý và nhiều khi cần thiết phải lập

hằng tháng, tuần, ngày.

Dự toán vốn bằng tiền là một trong những dự tốn quan trọng của

doanh nghiệp. Vì qua đó nó thể hiện khả năng đáp ứng nhu cầu thanh toán

bằng tiền cho người lao động, các nhà cung cấp và đáp ứng các nhu cầu chi

tiêu khác. Việc lập dự toán vốn bằng tiền tạo điều kiện cho công tác quản lý

có thể chủ động ra các quyết định chiến lược cần thiết, ví dụ như phối hợp

với ngân hàng khi có các u cầu thanh tốn thấu chi hoặc củng cố quy trình



19



quản lý tín dụng thương mại đảm bảo người mua chịu thanh toán sớm hơn.

[2], [12]

Khi lập dự toán vốn bằng tiền, doanh nghiệp cần chú ý đến các điểm sau:

- Dự toán vốn bằng tiền được lập từ các khoản thu nhập và chi phí của

dự tốn hoạt động, dự tốn vốn và dự tốn chi phí tài chính.

- Phải dự đốn khoản thời gian giữa doanh thu được ghi nhận và thời

điểm thu tiền bán hàng thực tế.

- Phải dự đoán khoản thời gian giữa chi phí đã ghi nhận và thời điểm

thực tế trả tiền cho các khoản chi phí.

- Phải loại trừ các khoản chi phí khơng chi trả bằng tiền.

- Phải xây dựng số dư tồn quỹ tiền tối thiểu tại đơn vị.

Trong thực tế, tiến hành cơng tác dự tốn vốn bằng tiền là một công

việc phức tạp cần phải xây dựng rất nhiều dự báo ban đầu.

- Bộ phận kinh doanh hay marketing có thể lập các dự báo về doanh

thu bán hàng.

- Bộ phận kiểm sốt tín dụng có thể cung cấp thông tin về khả năng và

tiến độ thanh toán các khoản phải thu và tỷ lệ nợ xấu.

- Bộ phận thu mua hoặc bộ phận sản xuất có thể dự báo về mức mua

sắm cần thiết và thời hạn tín dụng thương mại từ nhà cung cấp.

- Ngồi ra, Cơng ty còn cần lập các dự báo khác về thời gian và số

tiền, ví dụ mua hay thanh lý tài sản cố định. [2]

1.2.2 Tổ chức thực hiện quản trị vốn lưu động

a. Quản trị hàng tồn kho

Hàng tồn kho là hàng đã qua nghiệp vụ nhập kho, tính đến một thời

điểm nào đấy chưa qua nghiệp vụ xuất kho. Kho hàng là nơi dự trữ và bảo

quản hàng tồn kho từ khi mua hàng về cho đến khi xuất bán. Để bảo quản tốt



20



số lượng và chất lượng hàng hóa trong thời gian lưu trữ, doanh nghiệp cần

phải quan tâm đến hàng tồn kho và quản trị hàng tồn kho. [2]

Quản trị hàng tồn kho ở doanh nghiệp thương mại là quá trình tổ chức

quản lý việc nhập – xuất – tồn hàng hóa ở kho, dự trữ, bảo quản và bảo vệ

tốt hàng hóa cũng như xử lý các hiện tượng ảnh hưởng xấu đến số lượng và

chất lượng hàng hóa nhằm phục vụ tốt nhất cho việc lưu thơng hàng hóa. [6]

Tồn kho giúp Cơng ty chủ động trong việc hoạch định việc tiếp thị và

tiêu thụ sản phẩm nhằm khai thác và thỏa mãn tối đa nhu cầu thị trường. Tuy

nhiên, duy trì tồn kho cũng có mặt trái của nó là làm phát sinh chi phí liên

quan đến tồn kho như chi phí kho bãi, bảo quản hàng hóa và cả chi phí cơ

hội do vốn đầu tư nằm trong hàng tồn kho. Quản trị hàng tồn kho cần lưu ý

xem xét sự đánh đổi giữa lợi ích và phí tổn của việc duy trì tồn kho. [21]



 Mơ hình quyết định lượng đặt hàng kinh tế (EOQ)

Mơ hình quyết định lượng đặt hàng kinh tế (EOQ) là một trong những

kỹ thuật kiểm sốt tồn kho phổ biến và lâu đời nhất, nó được nghiên cứu và

đề xuất từ năm 1915 do ông Ford. W. Harris đề xuất, nhưng đến nay nó vẫn

được hầu hết các doanh nghiệp sử dụng. Lượng đặt hàng kinh tế là lượng đặt

hàng tối ưu sao cho chi phí tồn kho thấp nhất. Trong mơ hình này, ta sẽ

quyết định lượng đặt hàng tối ưu cho một loại tồn kho nào đó dựa trên cơ sở

ước tính mức sử dụng, chi phí đặt hàng và chi phí duy trì tồn kho. [21]

- Mức sử dụng là số lượng đơn vị cần dùng trong một thời kỳ nhất

định.

- Chi phí đặt hàng (O) là chi phí phát sinh liên quan đến việc đặt hàng

như chi phí thủ tục giấy tờ, kiểm nhận hàng hóa. Chi phí này cố định bất kể

qui mơ đặt hàng nhiều hay ít và chi phí đặt hàng cho một thời kỳ nào đó

bằng chi phí mỗi lần đặt hàng nhân với số lần đặt hàng.



21



- Chi phí duy trì tồn kho đơn vị (C) là chi phí phát sinh như lưu kho,

bảo hiểm và chi phí cơ hội để duy trì tồn kho. Giả sử chi phí duy trì tồn kho

đơn vị cố định trong một thời kỳ nào đó, do đó, tổng chi phí duy trì tồn kho

trong kỳ bằng chi phí duy trì tồn kho đơn vị nhân với số lượng tồn kho bình

qn trong kỳ đó.

Ngồi ra, giá định rằng nhu cầu tồn kho là chắc chắn và tất cả các đơn

đặt hàng đều có thể đáp ứng ngay lập tức, do đó khơng cần duy trì mức tồn

kho an tồn. Khi ấy, lượng tồn kho bình quân sẽ bằng Q/2 (với Q là số lượng

đặt hàng cố định trong kỳ hoạch định).

Tình hình tồn kho đầu kỳ, cuối kỳ và bình qn trong kỳ được diễn tả

theo mơ hình 1.1.



Hình 1.2 Mơ hình quyết định lượng đặt hàng kinh tế (EOQ)

Ta thấy rằng, khi số lượng tồn kho xuống đến mức 0 thì só lượng đặt

hàng mới sẽ đến và số lượng tồn kho sẽ tăng trở lại mức Q. Dễ thấy rằng

mức tồn kho bình quân sẽ là Q/2.

Chi phí duy trì tồn kho bình qn bằng chi phí duy trì tồn kho đơn vị

nhân với số lượng tồn kho bình quân, tức là C(Q/2). Tổng số đơn đặt hàng

bằng số lượng tồn kho cần dùng (S) chia cho số lượng đặt hàng (Q). Kết quả



22



là, chi phí đặt hàng bằng O(S/Q). Tổng chi phí tồn kho (T) bằng chi phí duy

trì tồn kho cộng với chi phí đặt hàng, tức là: T = C(Q/2) + Q (S/Q)

Nhìn vào công thức trên, chúng ta thấy rằng nếu số lượng đặt hàng Q

càng lớn thì chi phí duy trì tồn kho càng lớn nhưng chi phí đặt hàng lại nhỏ.

Nếu số lượng đặt hàng Q càng nhỏ thì chi phí duy trì tồn kho nhỏ nhưng chi

phí đặt hàng sẽ lớn. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để xác định số lượng đặt

hàng tối ưu. Tức là số lượng đặt hàng mà làm cho tổng chi phí nhỏ nhất. Ta

có thể mơ tả mối quan hệ của hai loại chi phí này bằng đồ thị hình 1.3:



Hình 1.3 Mơ hình chi phí theo EOQ

Để xác định số lượng đặt hàng tối ưu, chúng ta có phương trình:

Q* = Q =



OS

C



 Xác định điểm đặt hàng

Với mơ hình EOQ ta đã các định được số lượng đặt hàng tối ưu, nhưng

thời điểm đặt hàng cũng là một yếu tố quan trọng trong quản lý hàng tồn

kho. Với mơ hình EOQ ta giả sử răng hàng có thể đặt và nhận ngay lập tức

khơng có một sự chậm trễ nào. Nhưng thực tế thường có một khoảng cách

thời gian giữa thời điểm đặt hàng và thời điểm nhận hàng. Đây là khoảng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 1.1 Trình tự lập dự toán vốn lưu động

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×