Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Luôn đảm bảo cho các khâu của quá trình kinh doanh được liên tục, không bị gián đoạn.

Luôn đảm bảo cho các khâu của quá trình kinh doanh được liên tục, không bị gián đoạn.

Tải bản đầy đủ - 0trang

13



- Thời gian thanh toán khoản phải trả là khoảng thời gian trung bình

giữa lúc mua nguyên vật liệu và thuê mướn nhân công lúc trả tiền.

Chu kỳ luân chuyển tiền (CCC) cho thấy hiệu quả sử dụng vốn lưu

động của doanh nghiệp. Chu kỳ càng ngắn càng tối vì doanh nghiệp có thể

giảm được chi phí lãi vay.

1.1.4 Đặc điểm vốn lưu động

Đối với doanh nghiệp thương mại, vốn lưu động chuyển tồn bộ giá trị

của nó vào giá trị sản phẩm theo chu kỳ kinh doanh. Vốn lưu động liên tục

biển đổi hình thái tiền sang hàng rồi từ hàng lại thành tiền. Vậy nên thời gian

chu chuyển của vốn lưu động nhanh hơn so với vốn cố định. Nhu cầu về vốn

lưu động thường tăng giảm thất thường, tình trạng căng thẳng thiếu vốn khi

mua hàng, đặc biệt khi mua hàng thời vụ, sau đó lại có vốn khi bán hàng, để

điều hòa vốn, các doanh nghiệp thương mại thường phải quan hệ với ngân

hàng thương mại, các tổ chức tín dụng – tài chính để vay mượn, thanh tốn và

gửi tiền. [7]

Các hình thái thể hiền của vốn lưu động của doanh nghiệp thương mại

bao gồm: hàng hoá dự trữ, vật tư nội bộ, tiền gửi ngân hàng, tiền mặt tồn quĩ,

các khoản phải thu. Cơ cấu của chúng phụ thuộc rất lớn vào phương thức

thanh tốn, phương thức mua bán hàng hóa và phương thức vay trả đối với

các tổ chức tín dụng. Do nhiệm vụ của doanh nghiệp thương mại là thực hiện

lưu chuyển hàng hoá và thực hiện các hoạt động dịch vụ, vì vậy cơ cấu và tính

chất lưu chuyển của vốn khác hẳn so với các đơn vị sản xuất. Trong doanh

nghiệp thương mại, vốn lưu động là khoản vốn chiếm tỉ trọng lớn nhất

(khoảng 70 – 80% vốn kinh doanh). Trong đó, bộ phận dự trữ hàng hố chiếm

tỉ lệ cao. Tuỳ từng doanh nghiệp, tuỳ thuộc phương thức và lĩnh vực kinh

doanh mà vốn lưu động của doanh nghiệp thương mại sẽ trải qua các thời kỳ

chu chuyển khác nhau. Ví dụ vốn của doanh nghiệp thương mại có sản suất



14



gia công chế biến khác với đơn vị bán buôn, đơn vị chuyên bán hàng qua kho

sẽ khác với đơn vị chỉ bán hàng chuyển thẳng. [7], [13]

1.1.5 Vai trò của vốn lưu động

Để tiến hành sản xuất, ngồi TSCĐ như máy móc, thiết bị, nhà xưởng,…

doanh nghiệp phải bỏ ra một lượng tiền nhất định để mua hàng hóa, ngun

vật liệu,… phục vụ cho q trình sản xuất mà số tiền ứng trước về những tài

sản ấy được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp. Có thể xem vốn lưu động

là điều kiện tiên quyết của quá trình sản xuất kinh doanh hay nói cách khác,

vốn lưu động là điều kiện đầu tiên để doanh nghiệp đi vào hoạt động. [16]

Vốn lưu động là bộ phận chủ yếu cấu thành nên giá thành sản phẩm

trong các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, đảm bảo cho quá trình tái sản

xuất của doanh nghiệp được tiến hành thường xuyên, liên tục vì vốn lưu động

chuyển hóa khơng ngừng và có khả năng quay vòng.

Vốn lưu động là cơng cụ phản ánh, đánh giá quá trình mua sắm, dự trữ,

sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp, và cũng có khả năng quyết định đến quy

mô hoạt động của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp có lượng vốn lưu động đủ

lớn, sẽ giúp họ có thể khai thác những thuận lợi từ thị trường như tăng nhu

cầu mua hàng của mình với số lượng lớn khi giá thấp và nắm giữ hàng tồn

đến khi giá cao hơn thì bán ra. Từ đó, doanh nghiệp nâng cao lợi thế cạnh

tranh, nhận được nhiều lợi thế chiết khấu từ nhà cung cấp, tăng xếp hạng tín

dụng và gia tăng sự tin tưởng từ nhà đầu tư. [14]

1.2 QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG

Quản trị vốn lưu động là việc quản lý các thành phần của vốn lưu động

theo mục tiêu quản trị mà mỗi doanh nghiệp xây dựng cho mình. Quản trị

vốn lưu động hiệu quả sẽ đảm bảo cho nghiệp được tối đa hóa lợi ích từ mức

vốn lưu động ròng tối ưu để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động. Như vậy, ta sẽ

nghiên cứu quản trị vốn lưu động theo một chu trình thuần túy từ hoạch định



15



nhu cầu vốn lưu động, tổ chức thực hiện quản trị vốn lưu động và phân tích

đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động.

1.2.1 Lập dự toán vốn lưu động

a. Nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp



 Sự cần thiết của việc hoạt định nhu cầu vốn lưu động

Nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn lưu động thường

xuyên, cần thiết để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp được tiến hành liên tục và có hiệu quả.



 Phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp

Để xác định nhu cầu vốn lưu động người ta sử dụng phương pháp trực

tiếp và phương pháp gián tiếp. [4]

(1) Phương pháp trực tiếp: căn cứ các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến

vốn lưu động của doanh nghiệp để xác định nhu cầu vốn lưu động cho doanh

nghiệp.

Cơng thức chung:



Trong đó:



V là nhu cầu lưu động của doanh nghiệp.



M là mức tiêu dùng bình quân 1 ngày của loại vốn được tính tốn.

N là số ngày ln chuyển của loại vốn được tính tốn.

i là số khấu hai kinh doanh (i = 1, k)/.

j là loại vốn sử dụng (j = 1,n).

(2) Phương pháp gián tiếp: xác định nhu cầu vốn lưu động dựa vào

thống kê kinh nghiệm về tổng mức luân chuyển của vốn lưu động.

Cơng thức:



Vnc  VLD0 x



M1

x (1  t )

M0



16



Trong đó:



Vnc là nhu cầu lưu động của doanh nghiệp.



M1, M0 là tổng mức luân chuyển vốn lưu động năm kế hoạch và năm

báo cáo.

VLĐ0 là số dư bình quân vốn lưu động năm báo cáo.

t là tỷ lệ giảm (hoặc tăng) số ngày luân chuyển vốn lưu động năm kế

hoạch so với năm báo cáo.

t được xác định theo công thức: t = (K1 – K0)/K0 x 100%

Với: K1 là kỳ luân chuyển vốn lưu động năm kế hoạch.

K0 là kỳ luân chuyển vốn lưu động năm báo cáo.

b. Lập dự toán vốn lưu động

Dự toán vốn lưu động là dự toán định kỳ chi tiết các thành phần của

vốn lưu động. Trong đó, dự tốn tiêu thụ là nền tảng của dự toán vốn lưu

động.

Dự toán tiêu thụ



Dự toán

Hàng tồn kho



Dự toán

Doanh thu



Dự toán

Nợ phải trả



Dự toán

Khoản phải thu



Dự toán CP Bán hàng và CP Quản lý DN



Dự toán

Vốn bằng tiền



Hình 1.1 Trình tự lập dự tốn vốn lưu động

Từ dự tốn tiêu thụ trong kỳ và thơng tin hàng tồn kho đầu kỳ, doanh

nghiệp sẽ tiến hành lập dự toán hàng tồn kho trong kỳ. Cũng từ dự toán tiêu

thụ, ta sẽ dự báo mức bán hàng thu bằng tiền và bán hàng tín dụng. Ngồi ra,



17



từ dự tốn tiêu thụ kết hợp với nhu cầu quản lý của doanh nghiệp trong

tương lai, doanh nghiệp sẽ lập được báo cáo dự tốn chi phí bán hàng và dự

tốn chi phí quản lý doanh nghiệp. Từ các nhu cầu sử dụng tiền trong doanh

nghiệp, doanh nghiệp sẽ lập đươc dự tốn vốn bằng tiền từ các dự tốn trên.

Ta có thể xây dựng trình tự lập dự tốn vốn lưu động theo mơ hình 1.1.



 Dự tốn hàng tồn kho

Việc lập dự toán hàng tồn kho được căn cứ vào đặc điểm hoạt động sản

xuất kinh doanh, yêu cầu quản lý của từng doanh nghiệp, qua nghiên cứu

tình hình thị trường và những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh

doanh. Sau khi nghiên cứu tổng hợp, đóng góp ý kiến, sửa chữa, bổ sung

hồn chỉnh và được phê duyệt sẽ trở thành dự tốn chính thức. Tùy vào đặc

điểm ngành nghề và chiến lược kinh doanh mà mỗi doanh nghiệp khác nhau

sẽ có mức tồn kho khác nhau. Xác định mức tồn kho hợp lý sẽ làm cơ sở để

xác định lượng hàng cần mua. Để xây dựng mức tồn kho hợp lý, các doanh

nghiệp cần: nắm bắt nhu cầu, hoạch định cung ứng, tính tốn lượng đặt hàng

và xác định thời điểm đặt hàng. [13]

Để xây dựng dự toán hàng tồn kho cần dựa vào:

- Lượng hàng tồn kho đầu kỳ được ước tính theo thực tế của kỳ trước.

- Lượng hàng hóa tiêu thụ dự toán được xác định theo dự toán tiêu thụ.

- Nhu cầu hàng tồn kho cuối kỳ theo mong muốn của nhà quản trị.

Đây chính là mức dự trữ tối thiểu cần thiết để phục vụ tiêu thụ cho thời kỳ

sau thời kỳ dự tốn. Nhu cầu này có thể được xác định theo một tỷ lệ phần

trăm nhu cầu tiêu thụ của kỳ sau.

-



Khả năng dự trữ hàng tồn kho của doanh nghiệp.



Như vậy, dự tốn hàng tồn kho có thể được tính theo cơng thức:

Lượng hàng

hóa cần



=



Nhu cầu hàng

tồn kho



+



Số sản phẩm

tiêu thụ



-



Số hàng tồn

kho tồn



18



trong kỳ

cuối kỳ

trong kỳ

đầu kỳ

Tuy nhiên khơng phải doanh nghiệp nào cũng có thể đảm nhận tất cả

nhu cầu, điều đó còn tuỳ thuộc vào khả năng dự trữ hàng tồn kho của doanh

nghiệp trên cơ sở năng lực và quy mô hiện tại. [27]



 Dự toán khoản phải thu

Nợ phải thu khách hàng chiếm tỷ trọng lớn khoản phải thu trong doanh

nghiệp, vậy nên dự toán khoản phải thu tác giả sẽ tập trung vào dự đoán số

nợ phải thu ở khách hàng. [4]

Số nợ phải thu ở khách hàng được xác định bằng tỷ lệ giữa doanh thu

tiêu thụ dự kiến và số vòng quay tiền bán chịu cho khách hàng.

Trong đó:



Npt = Dn x Th



Npt số nợ phải thu dự kiến.

Dn là doanh thu tiêu thụ bình quân ngày.

Th là thời hạn thu hồi nợ bình quân, với Th = Dpt/Dn (Dpt là số dư

bình qn khoản phải thu).



 Dự tốn vốn bằng tiền

Dự toán vốn bằng tiền là một báo cáo ước tính các dòng tiền thu về và

dòng tiền chi ra trong tương lại dưới dạng bảng biểu, qua đó cho biết số dư

tiền mặt dự kiến của doanh nghiệp trong một khoảng thời gian xác định. Dự

toán này có thể được lập hằng năm, hằng quý và nhiều khi cần thiết phải lập

hằng tháng, tuần, ngày.

Dự toán vốn bằng tiền là một trong những dự toán quan trọng của

doanh nghiệp. Vì qua đó nó thể hiện khả năng đáp ứng nhu cầu thanh toán

bằng tiền cho người lao động, các nhà cung cấp và đáp ứng các nhu cầu chi

tiêu khác. Việc lập dự toán vốn bằng tiền tạo điều kiện cho cơng tác quản lý

có thể chủ động ra các quyết định chiến lược cần thiết, ví dụ như phối hợp

với ngân hàng khi có các yêu cầu thanh tốn thấu chi hoặc củng cố quy trình



19



quản lý tín dụng thương mại đảm bảo người mua chịu thanh toán sớm hơn.

[2], [12]

Khi lập dự toán vốn bằng tiền, doanh nghiệp cần chú ý đến các điểm sau:

- Dự toán vốn bằng tiền được lập từ các khoản thu nhập và chi phí của

dự tốn hoạt động, dự tốn vốn và dự tốn chi phí tài chính.

- Phải dự đoán khoản thời gian giữa doanh thu được ghi nhận và thời

điểm thu tiền bán hàng thực tế.

- Phải dự đốn khoản thời gian giữa chi phí đã ghi nhận và thời điểm

thực tế trả tiền cho các khoản chi phí.

- Phải loại trừ các khoản chi phí khơng chi trả bằng tiền.

- Phải xây dựng số dư tồn quỹ tiền tối thiểu tại đơn vị.

Trong thực tế, tiến hành cơng tác dự tốn vốn bằng tiền là một công

việc phức tạp cần phải xây dựng rất nhiều dự báo ban đầu.

- Bộ phận kinh doanh hay marketing có thể lập các dự báo về doanh

thu bán hàng.

- Bộ phận kiểm sốt tín dụng có thể cung cấp thơng tin về khả năng và

tiến độ thanh toán các khoản phải thu và tỷ lệ nợ xấu.

- Bộ phận thu mua hoặc bộ phận sản xuất có thể dự báo về mức mua

sắm cần thiết và thời hạn tín dụng thương mại từ nhà cung cấp.

- Ngồi ra, Cơng ty còn cần lập các dự báo khác về thời gian và số

tiền, ví dụ mua hay thanh lý tài sản cố định. [2]

1.2.2 Tổ chức thực hiện quản trị vốn lưu động

a. Quản trị hàng tồn kho

Hàng tồn kho là hàng đã qua nghiệp vụ nhập kho, tính đến một thời

điểm nào đấy chưa qua nghiệp vụ xuất kho. Kho hàng là nơi dự trữ và bảo

quản hàng tồn kho từ khi mua hàng về cho đến khi xuất bán. Để bảo quản tốt



20



số lượng và chất lượng hàng hóa trong thời gian lưu trữ, doanh nghiệp cần

phải quan tâm đến hàng tồn kho và quản trị hàng tồn kho. [2]

Quản trị hàng tồn kho ở doanh nghiệp thương mại là quá trình tổ chức

quản lý việc nhập – xuất – tồn hàng hóa ở kho, dự trữ, bảo quản và bảo vệ

tốt hàng hóa cũng như xử lý các hiện tượng ảnh hưởng xấu đến số lượng và

chất lượng hàng hóa nhằm phục vụ tốt nhất cho việc lưu thơng hàng hóa. [6]

Tồn kho giúp Cơng ty chủ động trong việc hoạch định việc tiếp thị và

tiêu thụ sản phẩm nhằm khai thác và thỏa mãn tối đa nhu cầu thị trường. Tuy

nhiên, duy trì tồn kho cũng có mặt trái của nó là làm phát sinh chi phí liên

quan đến tồn kho như chi phí kho bãi, bảo quản hàng hóa và cả chi phí cơ

hội do vốn đầu tư nằm trong hàng tồn kho. Quản trị hàng tồn kho cần lưu ý

xem xét sự đánh đổi giữa lợi ích và phí tổn của việc duy trì tồn kho. [21]



 Mơ hình quyết định lượng đặt hàng kinh tế (EOQ)

Mơ hình quyết định lượng đặt hàng kinh tế (EOQ) là một trong những

kỹ thuật kiểm soát tồn kho phổ biến và lâu đời nhất, nó được nghiên cứu và

đề xuất từ năm 1915 do ông Ford. W. Harris đề xuất, nhưng đến nay nó vẫn

được hầu hết các doanh nghiệp sử dụng. Lượng đặt hàng kinh tế là lượng đặt

hàng tối ưu sao cho chi phí tồn kho thấp nhất. Trong mơ hình này, ta sẽ

quyết định lượng đặt hàng tối ưu cho một loại tồn kho nào đó dựa trên cơ sở

ước tính mức sử dụng, chi phí đặt hàng và chi phí duy trì tồn kho. [21]

- Mức sử dụng là số lượng đơn vị cần dùng trong một thời kỳ nhất

định.

- Chi phí đặt hàng (O) là chi phí phát sinh liên quan đến việc đặt hàng

như chi phí thủ tục giấy tờ, kiểm nhận hàng hóa. Chi phí này cố định bất kể

qui mơ đặt hàng nhiều hay ít và chi phí đặt hàng cho một thời kỳ nào đó

bằng chi phí mỗi lần đặt hàng nhân với số lần đặt hàng.



21



- Chi phí duy trì tồn kho đơn vị (C) là chi phí phát sinh như lưu kho,

bảo hiểm và chi phí cơ hội để duy trì tồn kho. Giả sử chi phí duy trì tồn kho

đơn vị cố định trong một thời kỳ nào đó, do đó, tổng chi phí duy trì tồn kho

trong kỳ bằng chi phí duy trì tồn kho đơn vị nhân với số lượng tồn kho bình

quân trong kỳ đó.

Ngồi ra, giá định rằng nhu cầu tồn kho là chắc chắn và tất cả các đơn

đặt hàng đều có thể đáp ứng ngay lập tức, do đó khơng cần duy trì mức tồn

kho an tồn. Khi ấy, lượng tồn kho bình quân sẽ bằng Q/2 (với Q là số lượng

đặt hàng cố định trong kỳ hoạch định).

Tình hình tồn kho đầu kỳ, cuối kỳ và bình quân trong kỳ được diễn tả

theo mơ hình 1.1.



Hình 1.2 Mơ hình quyết định lượng đặt hàng kinh tế (EOQ)

Ta thấy rằng, khi số lượng tồn kho xuống đến mức 0 thì só lượng đặt

hàng mới sẽ đến và số lượng tồn kho sẽ tăng trở lại mức Q. Dễ thấy rằng

mức tồn kho bình qn sẽ là Q/2.

Chi phí duy trì tồn kho bình qn bằng chi phí duy trì tồn kho đơn vị

nhân với số lượng tồn kho bình quân, tức là C(Q/2). Tổng số đơn đặt hàng

bằng số lượng tồn kho cần dùng (S) chia cho số lượng đặt hàng (Q). Kết quả



22



là, chi phí đặt hàng bằng O(S/Q). Tổng chi phí tồn kho (T) bằng chi phí duy

trì tồn kho cộng với chi phí đặt hàng, tức là: T = C(Q/2) + Q (S/Q)

Nhìn vào cơng thức trên, chúng ta thấy rằng nếu số lượng đặt hàng Q

càng lớn thì chi phí duy trì tồn kho càng lớn nhưng chi phí đặt hàng lại nhỏ.

Nếu số lượng đặt hàng Q càng nhỏ thì chi phí duy trì tồn kho nhỏ nhưng chi

phí đặt hàng sẽ lớn. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để xác định số lượng đặt

hàng tối ưu. Tức là số lượng đặt hàng mà làm cho tổng chi phí nhỏ nhất. Ta

có thể mơ tả mối quan hệ của hai loại chi phí này bằng đồ thị hình 1.3:



Hình 1.3 Mơ hình chi phí theo EOQ

Để xác định số lượng đặt hàng tối ưu, chúng ta có phương trình:

Q* = Q =



OS

C



 Xác định điểm đặt hàng

Với mơ hình EOQ ta đã các định được số lượng đặt hàng tối ưu, nhưng

thời điểm đặt hàng cũng là một yếu tố quan trọng trong quản lý hàng tồn

kho. Với mơ hình EOQ ta giả sử răng hàng có thể đặt và nhận ngay lập tức

khơng có một sự chậm trễ nào. Nhưng thực tế thường có một khoảng cách

thời gian giữa thời điểm đặt hàng và thời điểm nhận hàng. Đây là khoảng



23



thời gian cần thiết để nhà cung cấp chuẩn bị sản xuất và giao hàng. Đối với

Công ty, đây là khoảng thời gian chờ hàng về. Vậy nên để hoạt động kinh

doanh sản xuất khơng bị gián đoạn, Cơng ty cần tình toán thời gian này để

đặt hàng sớm hơn thời gian cần có hàng. Điểm đặt hàng (OP) sẽ được tính

theo công thức sau [21]:

Điểm đặt hàng (OP) =



Thời gian chờ



X



Số lượng sử dụng



hàng đặt

trong ngày

 Đánh giá và phân tích tình hình hàng tồn kho qua các chỉ tiêu sau:

-



Tồn kho đầu kỳ kế hoạch: là lượng hàng hóa còn lại ở doanh nghiệp



đến đầu kỳ kế hoạch.

-



Dự trữ hàng hóa cuối kỳ kế hoạch: là lượng hàng hóa cần thiết để



đảm bảo bán hàng liên tục khi bắt đầu kỳ kế hoạch tiếp trong trường hợp

doanh nghiệp chưa nhập được hàng hóa về.

-



Mức dự trữ hàng hóa tối đa.



-



Mức dự trữ hàng hóa tối thiểu.



-



Mức dự trữ hàng hóa bình qn.



-



Cường độ dự trữ hàng hóa: chỉ tiêu này nói lên mức độ dự trữ hàng



hóa bình qn trong kỳ so với doanh số bán ra.

Công thức: I =

Trong đó:



Dbq

TR



I là cường độ dự trữ hàng hóa.

Dbd là giá trị hàng tồn kho bình quân.

TR là doanh thu bán ra trong kỳ.



 Tốc độ luân chuyển hàng tồn kho được thể hiện qua 2 chỉ tiêu sau:

[14]



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Luôn đảm bảo cho các khâu của quá trình kinh doanh được liên tục, không bị gián đoạn.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×