Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
HÀM Ý CHÍNH SÁCH

HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Tải bản đầy đủ - 0trang

64



tiếp đến giá cổ phiếu của công ty trên thị trường, anh hưởng đến giá trị công

ty trong mắt các nhà đầu tư tiềm năng. Chính vì vậy vấn đề cần thiết đặt ra là

sự cân nhắc kỹ lưỡng khi thực hiện các quyết định quan trị lợi nhuận.

4.1.2. Đề xuất liên quan đến Cơ quan thuế

Hành vi điều chỉnh giam lợi nhuận gây ra anh hưởng lớn nhất chính là

anh hưởng đến nguồn thu thuế của nhà nước. Chính vì vậy với vai trò là cơ

quan quan lý các khoan thu thuế trong ca nước, Cơ quan thuế cần phai thực

hiện một số biện pháp sau nhằm hạn chế tình trạng điều chỉnh lợi nhuận thực

tế nhằm tránh thuế.

Để hạn chế tình trạng quan trị lợi nhuận nhằm tránh thuế thông qua việc

lợi dụng một số kẽ hở của chính sách, cần tiếp tục rà soát, củng cố và hoàn

thiện hệ thống pháp luật quy định về thuế, cụ thể là đối với các ước tính mà

còn phụ thuộc nhiều vào ý kiến chủ quan của nhà quan lý.

Bên cạnh đó cần tăng cường cơng tác kiểm tra, kiểm soát các hoạt động

của các doanh nghiệp, đặc biệt là trong giai đoạn có sự thay đổi về thuế suất.

Để làm được điều này cơ quan thuế cần phai có nguồn lực đam bao ca về chất

lượng lẫn số lượng cán bộ thuế.

Chính vì vậy cơ quan thuế cần nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ thuế ca

về trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp, tăng cường hiệu qua công

tác tuyên truyền giáo dục pháp luật, tuyên dương kịp thời các tổ chức, cá nhân

có thành tích về thuế. Kỷ luật nghiêm khắc cán bộ thuế cố tình để xay ra sai

phạm trong cơng tác quan lý thuế.

Ngoài ra, Cơ quan Thuế cần đẩy nhanh tiến độ xây dựng các phần mềm

phân loại đánh giá rủi ro để tích hợp phân tích dữ liệu người nộp thuế phục vụ

cho công tác thanh tra, kiểm tra thuế phù hợp với cơng tác hiện đại hóa của cơ

quan thuế. Đồng thời, tổ chức thanh tra, kiểm tra chuyên sâu theo từng ngành,

từng lĩnh vực trọng điểm; triển khai kiểm tra, thanh tra các cơ sở kinh doanh



65



có dấu hiệu rủi ro cao về thuế, thu hồi kịp thời các khoan thu được phát hiện

qua công tác kiểm tra, thanh tra.

4.1.3. Đề xuất liên quan đến UBCK nhà nước

Xét trên khía cạnh thận trọng, thì việc các cơng ty cổ phần thực hiện

hành vi điều chỉnh giam lợi nhuận sẽ không gây anh hưởng sâu rộng đối với

nhà đầu tư và thị trường chứng khoán như khi thực hiện hành vi điều chỉnh

tăng lợi nhuận.

Tuy vậy, trong trường hợp này UBCK nhà nước, với vai trò giám sát

quan lý thị trường chứng khoán cần có các biện pháp nhằm khuyến khích các

cơng ty khơng thực hiện hành vi điều chỉnh giam lợi nhuận, để có thể tạo

được mơi trường cơng bằng, nhất quán trong việc so sánh lợi nhuận giữa các

cơng ty. Từ đó, tạo nên mơi trường thuận lợi cho việc thu hút đầu tư vào thị

trường chứng khoán, đưa thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển hơn

nữa ca về mặt số lượng lẫn chất lượng.

4.2. ĐỀ XUẤT ĐỐI VỚI TRƯỜNG HỢP CÁC CƠNG TY KHƠNG CĨ

QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN NHẰM TIẾT KIỆM THUẾ

Theo kết qua nghiên cứu ở chương 3, khi giam thuế suất từ 22% xuống

còn 20 %, có 71% cơng ty thực hiện quan trị tăng lợi nhuận.Việc không thực

hiện hành vi giam lợi nhuận nhằm tiết kiệm thuế, đối với nguồn thu ngân sách

nhà nước có thể là tín hiệu tốt, tuy nhiên xét trên khía cạnh nhà đầu tư và các

bên liên quan khác thì đây chưa hẳn là tín hiệu đáng mừng. Việc điều chỉnh

tăng lợi nhuận có thể gây nên “bong bóng ao” trên thị trường chứng khoán.

Chính vì vậy cần có những biện pháp nhằm kiểm soát hành vi quan trị

lợi nhuận, mục đích để minh bạch hóa thơng tin về lợi nhuận tạo môi trường

lành mạnh nhằm phát triển thị trường chứng khoán một cách lâu dài và bền

vững.



66



4.2.1. Đề xuất liên quan đến nhà đầu tư

Quan trị lợi nhuận là một hành vi điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp

nhằm đạt được mục tiêu của nhà quan lý. Hành vi quan trị lợi nhuận anh

hưởng rất lớn đến lợi ích của cổ đơng nói riêng, của cơng ty nói chung. Nó

làm xói mòn lòng tin của NĐT vào giá trị của BCTC và thị trường chứng

khoán.

Như vậy xét trên khía cạnh nhà đầu tư, việc quan trị lợi nhuận có thể là

hành vi tốt nhưng cũng có thể là hành vi khơng tốt, điều đó phụ thuộc vào

mục tiêu hành vi quan trị lợi nhuận của nhà quan lý có đồng nhất với mục tiêu

của nhà đầu tư hay khơng.

Trong thực tế, có rất nhiều kha năng mục tiêu nhà quan lý đôi khi khác

với mục tiêu của những người cổ đơng đầu tư vào cơng ty, vì vậy để nhà đầu

tư có thể kiểm soát được tình hình cơng ty, cũng như kiểm soát được hành vi

quan trị lợi nhuận của nhà quan lý, thì điều quan trọng nhất là phai giam thiểu

được sự “bất cân xứng” về thông tin, tăng cường sự tự nguyện công bố thơng

tin về phía nhà quan lý.

a. Tăng cường cơ chế giám sát của Hội đồng quản trị

Trong loại hình doanh nghiệp là cơng ty cổ phần thì hội đồng quan trị là

những người chịu trách nhiệm trước các cổ đông về sự hoạt động của doanh

nghiệp. Hội đồng quan trị sẽ thay mặt các cổ đông, giám sát các hành vi của

ban giám đốc, nhà quan lý nhằm đam bao hành vi của họ khơng vi phạm tới lợi

ích cổ đơng.

Các vần đề liên quan đến việc lựa chọn chính sách kế toán, hay tổ chức bộ

máy kế toán trong doanh nghiệp thuộc về trách nhiệm của Ban giám đốc, do đó

việc thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận sẽ bị phụ thuộc rất lớn vào ý muốn

chủ quan của ban giám đốc. Hiện nay, việc giám sát của Hội đồng quan trị mới

dừng lại ở các quyết định kinh tế của doanh nghiệp, chưa thực sự chú trọng tới



67



việc quyết định loại thông tin cần công bố để đáp ứng nhu cầu của cổ đông

nhằm kiểm soát hành vi điều chỉnh lợi nhuận.

Để làm được điều này mỗi doanh nghiệp cần tăng cường cơ chế quan trị

của mình, cần có sự phân cơng trách nhiệm giám sát cơng bố thông tin rõ ràng

cho các thành viên trong hội động quan trị, đồng thời thiết lập cơ chế giám sát

cho phù hợp.

Bên cạnh đó, cần có sự phối hợp hoạt động kiểm soát, điều hành, giám sát

giữa các thành viên Hội đồng quan trị, các thành viên Ban kiểm soát và các

thành viên Ban giám đốc theo các nhiệm vụ cụ thể của các thành viên nói trên.

b. Lựa chọn hình thức khen thưởng cho nhà quản lý

Việc lựa chọn hình thức khen thưởng cho nhà quan lý cũng có thể tác

động đến sự tự nguyện cơng bố thơng tin của các nhà quan lý. Khi các nhà

quan lý được khen thưởng bằng các loại cổ phiếu như: cổ phiếu thưởng, quyền

chọn mua cổ phiếu… thì các nhà quan lý có xu hướng cung cấp nhiều thơng tin

tự nguyện hơn vì khi đó nhà quan lý quan tâm đến giao dịch cổ phiếu mà họ

đang nắm giữ, họ sẽ công bố thêm nhiều thông tin tự nguyện hơn nhằm tăng

tính thanh khoan cho cổ phiếu. Thơng qua việc tăng cường công bố thông tin tự

nguyện, các nhà quan lý nắm giữ cổ phiếu kỳ vọng họ làm thay đổi quan điểm

của những nhà đầu tư đang đánh giá thấp giá trị cổ phiếu mà họ nắm giữ.

Tuy nhiên đây lại là con dao 2 lưỡi đối với hành vi quan trị lợi nhuận, khi

lựa chọn hình thức khen thưởng bằng các loại cổ phiếu… thì có kha năng trong

thời gian nhà quan lý nắm giữ cố phiếu có thể có các hành vi điều chỉnh lợi

nhuận nhằm tác động đến giá cổ phiếu vì lợi ích cá nhân, điều này có thể gây

thiệt hại cho các nhà đầu tư trong khoang thời gian khi đầu tư nếu chỉ dựa vào

các tín hiệu “ao” do hành vi điều chỉnh lợi nhuận chứ khơng phai tiềm lực thật

sự của doanh nghiệp

Chính vì vậy, Đại hội đồng cổ đơng cần phai cân nhắc khi lựa chọn hình



68



thức khen thưởng cho nhà quan lý, hoặc có thể có các điều kiện ràng buộc kèm

theo.

c. Ràng buộc trong hợp đồng với người quản lý

Hành vi ra quyết định kế toán phụ thuộc rất nhiều vào các quy định ràng

buộc của pháp luật. Tuy rằng, hành vi quan trị lợi nhuận chịu anh hưởng bởi

yếu tố chủ quan của nhà quan lý, nhưng nếu có sự ràng buộc bằng văn ban quy

định trách nhiệm của nhà quan lý một cách cụ thể khi thực hiện các quyết định

nói chung, và trách nhiệm cụ thể trong việc duy trì mức lợi nhuận trong khoang

thời gian cần thiết thì các ràng buộc này có thể chính là động cơ để thúc đẩy

nhà quan lý cân nhắc hơn khi thực hiện các hành vi quan trị lợi nhuận, để giam

các nguy cơ về pháp lý.

Chính vì vậy, nhằm mục tiêu kiểm soát hành vi quan trị lợi nhuận, giam

bất cân xứng thông tin giữa nhà quan lý và nhà đầu tư, trong các hợp đồng giữa

doanh nghiệp và nhà quan lý nên có những quy định cụ thể về trách nhiệm của

nhà quan lý đối với việc duy trì lợi nhuận ổn định của doanh nghiệp, đồng thời

cần quy định cụ thể thông tin cần công bố cho nhà đầu tư, và quy định rõ trách

nhiệm pháp lý mà nhà quan lý có thể gặp phai nếu cơng bố thông tin không đầy

đủ và kịp thời theo yêu cầu sử dụng.

Các mối đe dọa này của cổ đông có thể tác động vào quyết định của nhà

quan lý, khiến nhà quan lý có trách nhiệm hơn trong việc thực hiện hành vi

kiểm soát lợi nhuận cũng như tự nguyện cung cấp nhiều thơng tin hơn ra bên

ngồi.

d. Thiết lập yêu cầu thông tin cần công bố trong mỗi doanh nghiệp

Các thông tin bắt buộc theo quy định của pháp luật thường không đáp ứng

đủ nhu cầu thông tin của các nhà đầu tư, cũng như người sử dụng. Các thông

tin được công bố trước hết nhằm giam sự bất cân xứng thông tin giữa nhà quan

lý và nhà đầu tư.



69



Chính vì vậy, tùy vào nhu cầu thơng tin của mình, các cổ đơng có thể u

cầu thơng tin tự nguyện cần công bố trên báo cáo thường niên, ngồi thơng tin

bắt buộc theo quy định của Pháp luật. Để làm được điều này, các doanh nghiệp

có thể tham khao ý kiến của các cổ đông và lập nên danh sách các thông tin mà

nhà đầu tư của doanh nghiệp thật sự quan tâm, bên ngồi các thơng tin bắt

buộc. Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà quan lý khi lựa chọn

thông tin tự nguyện công bố phù hợp với nhu cầu nhà đầu tư, hơn nữa có thể

giúp rút ngắn khoang cách giữa nhà đầu tư và nhà quan lý.

e. Nâng cao trình độ nhận thức và khả năng phân tích cho NĐT

Để bao vệ quyền lợi cho nhà đầu tư trước các hành vi điều chỉnh lợi

nhuận thì trước hết những nhà đầu tư cần có trình độ chun mơn cũng như

năng lực, kinh nghiệm phù hợp trước khi ra quyết định đầu tư vào bất kỳ công

ty nào.

Để làm được điều này, các tổ chức đào tạo cần có chương trình đào tạo

phù hợp, tạo điều kiện cho sinh viên và nhà đầu tư nghiên cứu và thực hành

các kiến thức về kinh tế và tài chính, ví dụ như thành lập các trung tâm hỗ trợ

dữ liệu và phân tích, tổ chức các cuộc thi học thuật và đầu tư như Sở giao dịch

chứng khoán ao.

Đồng thời, ban thân nhà đầu tư cần “tỉnh táo”, tích cực học tập, tìm hiểu,

nâng cao năng lực chuyên môn để đưa ra những quyết định đầu tư phù hợp.

Để tránh anh hưởng của hành vi quan trị lợi nhuận, nhà đầu tư có thể sử dụng

các mơ hình nhận diện hành vi quan trị lợi nhuận để đo lường mức bất thường

trong hoạt động của doanh nghiệp, từ đó có được cái nhìn phù hợp nhất về

tình hình tài chính của doanh nghiệp.

4.2.2. Đối với các Ủy ban chứng khoán nhà nước

Ủy ban Chứng khoán Nhà nước là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, thực

hiện chức năng tham mưu, quan lý nhà nước về chứng khoán và thị trường



70



chứng khoán; trực tiếp quan lý, giám sát hoạt động chứng khoán và thị trường

chứng khoán; quan lý các hoạt động dịch vụ thuộc lĩnh vực chứng khoán, thị

trường chứng khoán theo quy định của pháp luật. Để kiểm soát được hành vi

quan trị lợi nhuận đối với các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán,

kiến nghị UBCK nhà nước cần thực hiện các biện pháp sau đây:

a. Tăng cường chức năng quản lý, giám sát TTCK

UBCK thực hiện hai chức năng chính là quan lý và giám sát TTCK. Đối

với các công ty kiểm toán trong lĩnh vực chứng khoán, UBCK thực hiện chức

năng quan lý thơng qua tham gia góp ý văn ban thuộc lĩnh vực kế toán, kiểm

toán do Bộ Tài chính ban hành, chấp thuận các cơng ty kiểm toán và kiểm

toán viên của công ty kiểm toán đối với các cơng ty có lợi ích cơng chúng

thuộc lĩnh vực chứng khoán.

UBCK còn thực hiện chức năng giám sát việc tuân thủ các quy định

pháp luật của các công ty kiểm toán trong lĩnh vực chứng khoán, trường hợp

cần thiết có thể tiến hành kiểm tra, thanh tra đối với các cơng ty kiểm toán, có

thể xử phạt tùy theo mức độ vi phạm của công ty.

Để thực hiện tốt nhiệm vụ này UBCK nhà nước cần phối hợp chặt chẽ với

các cơ quan quan lý nhà nước trong việc hồn thiện khn khổ pháp lý, điều

hành TTCK, hoạt động giám sát và cưỡng chế thực thi nhằm bao đam an tồn

cho TTCK và ca hệ thống tài chính quốc gia; Hoàn thiện hệ thống các văn ban

pháp lý hướng đến việc minh bạch thông tin và xử lý tranh chấp, tạo điều kiện

thu hút dòng vốn gián tiếp nước ngoài vào thị trường chứng khoán. Các văn

ban pháp lý cần hoàn thiện theo hướng thống nhất, tạo cơ sở để triển khai các

san phẩm mới, TTCK phái sinh, thị trường trái phiếu doanh nghiệp góp phần

đa dạng hóa san phẩm hàng hóa niêm yết trên thị trường chứng khoán.

UBCK nhà nước cần nâng cao hiệu qua quan lý, giám sát TTCK và xử lý

nghiêm các trường hợp vi phạm bằng việc nghiên cứu xây dựng phương pháp,



71



nguyên tắc tính toán khoan thiệt hại cho nhà đầu tư liên quan tới 4 tội danh

trong lĩnh vực chứng khoán quy định tại Bộ luật Hình sự 2015. Ngồi ra

UBCK nhà nước cần có các biện pháp nhằm nâng cao ý thức tuân thủ pháp

luật về chứng khoán và TTCK của các đối tượng có nghĩa vụ báo cáo, cơng

bố thơng tin của thành viên thị trường trong hoạt động giao dịch; đạo đức

nghề nghiệp của người hành nghề. Đồng thời triển khai kế hoạch thanh tra,

kiểm tra định kỳ theo kế hoạch nhằm thực hiện chức năng giám sát của mình.

b. Giải pháp nâng cao chất lượng BCTC

Hành vi quan trị lợi nhuận được thể hiện thông qua báo cáo tài chính của

các doanh nghiệp, chính vì vậy để có thể nhận biết được hành vi này cần dựa

vào nhiều yếu tố trong đó có việc nâng cáo chất lượng báo cáo tài chính. Để

làm được điều này UBCKNN cần tiếp tục phối hợp hiệu qua cùng với Hiệp

hội KTV hành nghề Việt Nam - VACPA nhằm nâng cao chất lượng hoạt động

kiểm toán đối với công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán.

Bên cạnh đó UBCK nhà nước nên tăng cường thực hiện soát xét BCTC

theo quý nhằm nâng cao tính minh bạch trong cơng bố thơng tin một cách kịp

thời. Ngoài ra, UBCK nhà nước cần xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá, xếp

loại các công ty kiểm toán hàng năm và công bố rộng rãi trên các kênh thông

tin về chứng khoán để công ty niêm yết lựa chọn. Cuối cùng UBCK nhà nước

cần tham mưu cho Chính phủ nâng cao mức phạt hành chính hơn nữa đối với

các cơng ty niêm yết trong trường hợp công bố thông tin không trung thực

làm anh hưởng đến lợi ích của nhà đầu tư.

c. Tăng cường phân tích, cảnh báo về TTCK

Trong thời gian qua, UBCK nhà nước cũng đã có nhiều phân tích, đánh

giá về TTCK, giúp nhà đầu tư có thêm thơng tin để đưa ra các quyết định đầu

tư. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp UBCK nhà nước chậm công bố thông tin

về tình hình hoạt động kinh doanh của cơng ty niêm yết, gây thiệt hại cho nhà



72



đầu tư. Nhằm lập lại niềm tin, tạo sự an tâm và giúp nhà đầu tư có thêm thơng

tin để đưa ra quyết định đầu tư; thiết nghĩ UBCK nên thường xuyên đưa ra

những phân tích, canh báo thiết thực, kịp thời hơn nữa về tình hình hoạt động

kinh doanh của cơng ty niêm yết cũng như về TTCK.

4.2.3. Đối với các Công ty kiểm tốn độc lập

Kiểm toán khơng chỉ cần thiết trong việc minh bạch các thơng tin kế

toán, tài chính của các công ty cổ phần niêm yết mà là cho tất ca các cơng ty

cổ phần nói chung. Chất lượng đội ngũ kiểm toán viên của các Công ty kiểm

toán độc lập là yếu tố vô cùng quan trọng nhằm đam bao cho việc thực hiện

chức năng của các Công ty kiểm toán. Vì vậy cần có những biện pháp để

nhanh chóng đào tạo đội ngũ kiểm toán viên nhằm đáp ứng nhu cầu ngày

càng cao về kiểm toán nói chung và về kiểm toán báo cáo tài chính các tổ

chức niêm yết trên thị trường chứng khoán nói riêng.

4.2.4. Đối với Bộ Tài chính

Bộ Tài chính là cơ quan có thẩm quyền trong việc ban hành các chính

sách, chế độ kế toán chung cho các doanh nghiệp thực hiện kinh doanh tại

Việt Nam. Việc thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận được thực hiện thông

qua công cụ kế toán. Chính vì vậy để kiểm soát hành vi điều chỉnh lợi nhuận,

Bộ Tài chính cần có những biện pháp cụ thể liên quan đến các vấn đề sau:

a. Đối với nội dung thơng tin về BCTC

Bộ Tài chính cần quy định chặt chẽ hơn về việc sử dụng phương pháp và

ước tính kế toán, bỏ bớt chính sách kế toán khơng cần thiết để các nhà quan

trị ít có cơ hội vận dụng quan trị lợi nhuận. Đồng thời ban hành các hướng

dẫn chi tiết việc sử dụng các ước tính kế toán, u cầu các doanh nghiệp phai

trình bày và cung cấp chi tiết về các khoan mục này trong ban Thuyết minh

báo cáo tài chính hoặc trình bày trong báo cáo thường niên của các doanh

nghiệp niêm yết.



73



Ngoài ra, Bộ tài chính nên quy định BCTC cơng bố của cơng ty niêm yết

trình bày số liệu của ba năm gần nhất (thay vì chỉ có hai năm như hiện nay).

Điều này vừa giúp nhà đầu tư có cơ sở đánh giá xác thực hơn về kha năng và

xu hướng phát triển của công ty, vừa phù hợp với thơng lệ quốc tế.

Bên cạnh đó, nên tách doanh thu tài chính và chi phí tài chính ra khỏi nội

dung của lợi nhuận hoạt động kinh doanh, đồng thời bổ sung chỉ tiêu Lợi

nhuận hoạt động tài chính trên báo cáo kết qua hoạt động kinh doanh. Vì thực

tế, việc gộp doanh thu/chi phí tài chính vào lãi/lỗ hoạt động kinh doanh trên

BCTC vừa không phù hợp với thông lệ quốc tế, vừa tạo sự nhập nhằng và

thiếu tính minh bạch về thơng tin, thậm chí gây hiểu nhầm cho nhà đầu tư,

đồng thời cũng dễ tạo điều kiện cho các nhà quan trị thực hiện hành vi quan

trị lợi nhuận.

Thêm vào đó cần quy định việc trình bày một số thơng tin thực sự hữu

ích cho việc ra quyết định của nhà đầu tư. Cụ thể: Thuyết minh các khoan đầu

tư tài chính, việc trích lập dự phòng giam giá các khoan mục hàng tồn kho,

nợ phai thu, phai tra, đầu tư tài chính...

Cuối cùng cần quy định cơng bố một số nội dung trên báo cáo thường

niên như: các số liệu tài chính quan trọng phai được trình bày trong ít nhất là

4 năm (hiện nay các cơng ty niêm yết chỉ trình bày 2 hoặc nhiều nhất là 3

năm). Công bố về quan trị rủi ro trên báo cáo thường niên của công ty niêm

yết cũng cần được xem là nội dung bắt buộc.

b. Đối với việc cơng bố thơng tin

Bộ Tài chính cần có chế tài xử phạt nghiêm khắc với những vi phạm với

về công bố thông tin định kỳ về BCTC của công ty niêm yết.

Đối với vi phạm chậm công bố thông tin của các cơng ty niêm yết mà nó

có thể dẫn đến sự thiếu minh bạch của thị trường, hay nguy hại hơn là sự sụt

giam niềm tin của nhà đầu tư, Bộ tài chính cần kết hợp với ủy ban chứng



74



khoán nhà nước ban hành chế tài xử phạt thật nặng, vừa mang tính canh báo,

vừa mang tính răn đe và nâng cao ý thức của công ty niêm yết trong việc

công bố các thông tin. Trong trường hợp chưa có những quy định về xử phạt

hành chính đối với các trường hợp phai giai trình BCTC với những sai sót

nghiêm trọng, cơ quan quan lý thị trường vẫn có thể áp dụng biện pháp như

công bố rộng rãi danh sách các cơng ty thường xun có hiện tượng bất nhất

số liệu trong BCTC trước và sau khi kiểm toán, công ty thường xuyên lặp lại

lỗi đã từng bị nhắc nhở... Có như vậy, nhà đầu tư mới có thể tránh rơi vào

“bẫy” có thể có của các cơng ty, ban thân các công ty cũng ý thức hơn, cẩn

trọng hơn khi xây dựng và công bố BCTC.

Bên cạnh việc hồn thiện chuẩn mực kế toán thì chuẩn mực kiểm toán

cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc kiểm soát và nâng cao chất

lượng kiểm toán báo cáo tài chính. Chuẩn mực kiểm toán có chất lượng cao

sẽ góp phần làm giam nguy cơ điều chỉnh lợi nhuận của các nhà quan trị.

Hiện nay, hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam đã áp dụng nhiều chuẩn

mực mới của Quốc tế, tuy nhiên vẫn còn chậm hơn so với các nước phát triển

khác trên thế giới, vì vậy Bộ tài chính cần cập nhật, bổ sung kịp thời để nâng

cao chất lượng kiểm toán trong nước.

c. Về chất lượng kiểm tốn

Kiểm toán là một trong những cơng cụ hữu ích nhằm minh bạch hóa

thơng tin giữa nhà quan lý và các bên liên quan. Bộ Tài chính và Hội kế toán

kiểm toán Việt Nam, Hiệp hội kiểm toán viên hành nghề là các cơ quan có

trách nhiệm giám sát, kiểm tra chất lượng của các công ty kiểm toán, nhằm

đam bao các công ty kiểm toán đang hoạt động có đủ năng lực, uy tín, đáp

ứng được u cầu phức tạp của thị trường.

Chính vì vậy, muốn nâng cao tính minh bạch của thị trường thì việc nâng

cao chất lượng của các công ty thực hiện chức năng kiểm toán báo cáo tài



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×