Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN VÀ BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN VÀ BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

12



của Schipper (1989)2: “Quan trị lợi nhuận là một sự can thiệp có tính toán

trong quá trình cung cấp thơng tin tài chính nhằm đạt được những mục đích

cá nhân”. Quan trị lợi nhuận phan ánh hành động của ban giám đốc trong việc

lựa chọn các phương pháp kế toán để mang lại lợi ích cho họ hoặc làm gia

tăng giá trị thị trường của công ty (Scott 1997)3.

Trong khi đó, Healy và Whalen, 1999 cho rằng, quan trị lợi nhuận xay ra

khi ban giám đốc sử dụng các ước tính kế toán hoặc giao dịch nội bộ để nhằm

thay đổi BCTC, đánh lạc hướng người sử dụng thông tin trên BCTC về tình

hình hoạt động san xuất kinh doanh của công ty hoặc làm anh hưởng đến kết

qua của các hợp đồng mà phụ thuộc vào số liệu kế toán trên BCTC (ví dụ:

hợp đồng tín dụng với ngân hàng, hợp đồng thù lao giữa ban giám đốc và

công ty…) [35].

Ronen và Yaari đã tổng hợp lại các nghiên cứu trước đó và đưa ra một

định nghĩa và phân loại quan trị lợi nhuận như sau: “Quan trị lợi nhuận là

hành vi của ban giám đốc sử dụng việc ghi nhận trên cơ sở dồn tích thơng qua

một số tài khoan để làm thay đổi lợi nhuận sau thuế theo các mục tiêu công bố

thông tin của họ” [45].

Trong nghiên cứu của Ronen và Yaari, tùy thuộc vào động cơ mà quan trị

lợi nhuận có thể được phân làm 3 nhóm:

- Quan trị lợi nhuận trắng (White Earnings Management): Ban giám đốc

dựa trên lợi thế về quyền lực để lựa chọn các chính sách kế toán một cách linh

hoạt nhằm thơng báo tín hiệu cá nhân của họ về dòng tiền của DN trong

tương lai (Demski, Patell, và Wolfson [29]; Demski [28]; Beneish [20]. Loại

này được xem là có lợi và làm gia tăng chất lượng BCTC. Mục đích của ban

giám đốc là muốn công bố nhiều thông tin với chất lượng tốt hơn đến người

sử dụng, giúp các các nhà đầu tư khám phá ra các mong đợi của họ về các

2

3



Trích từ nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Cơng Phương [9].

Trích từ nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Cơng Phương [9].



13



dòng tiền mà DN sẽ mang lại trong tương lai [20].

- Quan trị lợi nhuận xám (Grey Earnings Management): Các ban giám

đốc lựa chọn các chính sách kế toán trong hoặc ngoài các giới hạn cho phép

nhằm làm gia tăng giá trị của DN hoặc vì vụ lợi của họ [32]. Điều chỉnh lợi

nhuận đen (Black Earnings Management): Là hành vi sử dụng các thủ thuật

của ban giám đốc để làm sai lệch hoặc giam sự minh bạch của các BCTC

(Schipper [47]; Healy và Wahlen [35]; Chtourou, Bédard, và Courteau [22].

Theo Joosten, lợi nhuận bao gồm dòng tiền từ hoạt động và dòng tiền tích lũy,

ban giám đốc cơng ty có 2 phương thức để điều chỉnh lợi nhuận [40]:

+ Quan trị lợi nhuận bằng các giao dịch thực (Real earning

management): Cơng ty có thể điều chỉnh lợi nhuận thơng qua những chỉnh

sửa từ hoạt động kinh doanh bình thường, vì vậy dòng tiền từ hoạt động kinh

doanh có thể bị anh hưởng. Những chỉnh sửa từ hoạt động kinh doanh bình

thường để điều chỉnh BCKQHĐKD này được gọi là điều chỉnh lợi nhuận

bằng các giao dịch thực (REM) [46].

+ Quan trị lợi nhuận bằng các ước tính kế toán (Accrual-based earning

management): Cơng ty có thể thay đổi mức độ dồn tích để có được lợi nhuận

như mong muốn. Việc ban giám đốc sử dụng các ước tính để lập BCTC được

gọi là điều chỉnh lợi nhuận trên cơ sở ước tính (AEM) [35].

Ở Việt Nam, thuật ngữ Earning Management (EM) được dịch ra với

nhiều cách khác nhau như quan trị lợi nhuận, quan trị thu nhập, điều chỉnh lợi

nhuận… Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là những nghiên cứu của Việt Nam

về EM thường đi theo hướng tiêu cực như những phương pháp để “làm đẹp”

BCTC hay “những thủ thuật phù phép BCTC”.

Theo Nguyễn Công Phương “Quan trị lợi nhuận là hành động điều chỉnh

lợi nhuận kế toán của nhà quan trị doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu

thông qua công cụ kế toán” [11].



14



Theo Đường Nguyễn Hưng “Quan trị lợi nhuận là việc người quan lý sử

dụng các đánh giá chủ quan của mình trong quá trình lập và cơng bố BCTC

và quá trình thực hiện các nghiệp vụ kinh tế để thay đổi BCTC nhằm đánh lừa

các bên có liên quan nhất định, hoặc nhằm thay đổi các kết qua của các hợp

đồng mà có điều khoan ràng buộc dựa trên số liệu kế toán” [7].

Mặt dù có nhiều quan điểm khác nhau về quan trị lợi nhuận nhưng tựu

chung quan trị lợi nhuận là việc các nhà quan trị sử dụng các phương pháp,

chính sách kế toán để điều chỉnh doanh thu, chi phí nhằm điều chỉnh lợi

nhuận theo mục tiêu đã định. Các hành động này sẽ “bóp méo” số liệu lợi

nhuận so với thực tế.

1.1.2. Quản trị lợi nhuận thông qua vận dụng chính sách kế tốn

Một trong những nghiên cứu đầu tiên đề cập đến hành vi quan trị lợi

nhuận (earnings management - EM) là nghiên cứu của Hepworth [38]. Ông đã

thực hiện khao sát và chỉ ra hành vi và cách thức mà nhà quan trị sử dụng để

san bằng lợi nhuận (income smoothing) giữa các năm nhằm giam mức độ

đánh giá rủi ro của nhà đầu tư đối với doanh nghiệp. Tuy không chỉ ra được

cách thức cụ thể để nhận diện hành vi san bằng lợi nhuận nhưng Hepworth đã

đặt một nền mống quan trọng cho những nghiên cứu sau này.

Cùng với đó, định nghĩa của quan trị lợi nhuận dựa trên cơ sở dồn tích

(AEM) cũng được hình thành. Gordon định nghĩa đây là hành vi điều chỉnh

lợi nhuận thông qua sự linh hoạt trong việc lựa chọn các chính sách và ước

tính kế toán được chấp nhận bởi các quy định về kế toán [34].

Việc lựa chọn phương pháp kế toán áp dụng để thực hiện điều chỉnh lợi

nhuận nằm trong khuôn khổ của chuẩn mực kế toán Việt Nam. Vì vậy người

viết trình bày tóm tắt thêm các chính sách kế toán ở Việt Nam có liên quan

chứa đựng các ước tính kế toán, cụ thể như sau:

- Chính sách kế toán đối với hàng tồn kho: lựa chọn phương pháp tính



15



giá thành san phẩm và phương pháp đánh giá san phẩm dở dang có thể làm

thay đổi giá thành san phẩm, từ đó có thể điều chỉnh giá vốn hàng bán; lựa

chọn phương pháp tính giá hàng xuất kho có thể làm thay đổi giá vốn hàng

bán trong kỳ; thay đổi giá bán và chi phí ước tính để thay đổi mức lập dự

phòng, điều chỉnh chi phí trong kỳ;

- Chính sách lập dự phòng phai thu khó đòi: có thể điều chỉnh chi phí và

lợi nhuận thơng qua việc dự kiến mức độ tổn thất có thể xay ra đối với những

khoan nợ chưa đến hạn thanh toán, hoặc tuổi nợ quá hạn của các khoan nợ;

điều chỉnh mức lập dự phòng phai thu khó đòi;

- Chính sách lập dự phòng giam giá đầu tư tài chính: có thể trích lập dự

phòng ít hơn mức cần thiết để giam bớt mức thua lỗ ghi nhận trong Báo cáo

kết qua hoạt động kinh doanh hoặc tăng mức trích lập dự phòng hơn mức cần

thiết để điều chỉnh chi phí và lợi nhuận. Trường hợp các công ty muốn báo

cáo giam kết qua kinh doanh để tiết kiệm chi phí thuế TNDN, có thể tăng mức

trích lập dự phòng hơn mức cần thiết.

- Chính sách về kế toán tài san cố định: dựa vào tiêu chuẩn ghi nhận tài

san để điều chỉnh việc ghi nhận là tài san hay một khoan chi phí; lựa chọn

phương pháp khấu hao hoặc ước tính thời gian sử dụng hữu ích của tài san để

điều chỉnh chi phí; Lựa chọn quy mơ, tính chất sửa chữa và số kỳ trích trước

hoặc phân bổ để điều chỉnh chi phí; lựa chọn thời điểm mua hay thanh lý tài

san để điều chỉnh doanh thu, chi phí;

- Chính sách về phân bổ chi phí tra trước: lựa chọn số kỳ phân bổ sẽ chủ

động điều chỉnh chi phí của từng kỳ;

- Ghi nhận chi phí phai tra, dự phòng phai tra, quỹ dự phòng trợ cấp mất

việc làm: lựa chọn về mức trích lập, hồn nhập thơng qua các giá trị ước tính

từ đó có thể làm điều chỉnh chi phí của cơng ty.

- Ước tính phần trăm (%) cơng việc hồn thành trong ghi nhận doanh



16



thu: Ước tính phần trăm cơng việc hoàn thành phụ thuộc nhiều vào nhận định,

kinh nghiệm và thực tế tiến độ hồn thành cơng việc. Mặc dù, dựa trên nền

tan cơ sở pháp lý nhưng việc ước lượng này vẫn mang tính chủ quan. Như

vậy, khi có mong muốn điều chỉnh lợi nhuận, ước lượng phần trăm cơng việc

hồn thành là một trong những lựa chọn phổ biến của nhà quan trị.

1.1.3. Động cơ của quản trị lợi nhuận

Quan trị lợi nhuận là hành động làm thay đổi lợi nhuận kế toán nhằm đạt

được mục tiêu lợi nhuận. Tồn tại một số động cơ quan trị lợi nhuận của người

quan trị như tăng giá trị cổ phiếu, giam số thuế TNDN phai nộp, muốn được

nhận mức lương, thưởng cao, hưởng lợi ích tối đa từ việc được ưu đãi thuế,

tránh vi phạm hợp đồng …Tùy theo thời điểm, nhà quan trị sẽ lựa chọn mục

tiêu được ưu tiên. Theo nghiên cứu của Nguyễn Công Phương, tồn tại một số

động cơ quan trị lợi nhuận sau đây.

a.Chế độ lương thưởng dành cho nhà quản trị

Lương và thưởng là một trong những lý do khiến nhà quan trị thực hiện

điều chỉnh lợi nhuận nhằm đạt được lợi ích của chính họ. Ở các nước phát

triển việc thuê giám đốc và tra lương, thưởng đã tồn tại từ lâu. Chế độ lương,

thưởng dựa vào kết qua đã tạo nên một động cơ thúc đẩy nhà quan trị điều

chỉnh lợi nhuận nhằm mang lại thu nhập có lợi nhất cho họ. Nhiều nghiên cứu

đã chứng minh gia thuyết này (Healy [37]; Watts và Zimmerman [50] …). Đa

phần các nghiên cứu này đều có kết luận rằng, khi lợi nhuận thực tế lớn hơn

giới hạn trên của mức lợi nhuận để nhận tiền thưởng, nhà quan trị sử dụng các

phương pháp kế toán để điều chỉnh lợi nhuận giam xuống nhưng vẫn nằm

trong mức lợi nhuận được nhận thưởng. Việc làm này nhằm dịch chuyển phần

lợi nhuận không làm tăng thêm tiền thưởng vào năm sau. Ngược lại, khi lợi

nhuận thực tế nhỏ hơn nhiều giới hạn dưới của mức đạt tiền thưởng, nhà quan

trị sẽ điều chỉnh lợi nhuận giam đi để dịch chuyển phần lợi nhuận này vào



17



năm sau vì dù sao họ vẵn khơng thể đạt được tiền thưởng của năm nay.

b.Thu hút nguồn tài trợ bên ngoài

Một gia thuyết được đặt ra trong bối canh lần đầu tiên các công ty niêm

yết cổ phiếu hoặc phát hành thêm cổ phiếu là thơng tin của BCTC có tác động

đến giá của các cổ phiếu. Từ đó, bằng việc điều chỉnh lợi nhuận tăng lên,

cơng ty có thể cung cấp một “bức tranh” tốt hơn về tình hình tài chính để góp

phần thu hút nhà đầu tư trên thị trường. Hành động này làm giam chi phí của

việc huy động vốn mới [33]. Gia thuyết này đã được minh chứng bằng nhiều

nghiên cứu kinh nghiệm (Friedlan [33]; Teoh, Welch và Wong [49]; …). Các

nghiên cứu này dựa trên gia thuyết rằng, các nhà đầu tư sử dụng thông tin

BCTC để định giá các cổ phiếu phát hành. Như vậy, tồn tại một mối liên hệ

thuận chiều giữa lợi nhuận và giá của cổ phiếu phát hành, các nhà quan trị

doanh nghiệp phát hành cổ phiếu niêm yết thực hiện hành động quan trị lợi

nhuận theo hướng tăng lên trong năm phát hành.

c. Tối thiểu hóa chi phí thuế thu nhập doanh nhiệp

Mức thuế là một trong các lĩnh vực của chi phí chính trị. Ở những nước

mà lợi nhuận kế toán và lợi nhuận chịu thuế khơng có sự khác biệt lớn như

nước ta [12], mong muốn giam thuế TNDN tạo nên một động cơ mạnh mẽ

thúc đẩy nhà quan trị thực hiện điều chỉnh lợi nhuận thấp hơn mức bình

thường. Ở những nước mà lợi nhuận chịu thuế thu nhập được xác định tương

đối độc lập với lợi nhuận kế toán (như Mỹ, Canada), các nhà quan trị không

xem đây là cơ hội để điều chỉnh lợi nhuận vì việc điều chỉnh lợi nhuận thấp

hơn có anh hưởng khơng đáng kể đến chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp.

Với những nghiên cứu liên quan đến quan trị lợi nhuận dưới tác động của

thuế TNDN đặt ra gia thuyết rằng, các doanh nghiệp chọn các phương pháp

kế toán nhằm giam chi phí thuế. Gia thuyết này biểu hiện rõ nhất ở Việt Nam

vì thuế được xem là một nhân tố có anh hưởng lớn đối với hành vi của nhà



18



quan trị doanh nghiệp.

Khi thuế suất thuế TNDN thay đổi, tùy vào sự thay đổi như thế nào công

ty sẽ lựa chọn điều chỉnh tăng hay giam lợi nhuận. Nếu công ty được hưởng

các ưu đãi miễn, giam thuế thu nhập doanh nghiệp, trong giai đoạn được

hưởng ưu đãi các cơng ty thường có xu hướng điều chỉnh tăng lợi nhuận để

được hưởng lợi tối đa từ việc ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.

1.1.4. Các mơ hình nghiên cứu quản trị lợi nhuận

Để đo lường quan trị lợi nhuận thơng qua biến kế toán dồn tích, có 3

phương pháp tiếp cận sau.

- Phương pháp thứ nhất là đo lường biến dồn tích khơng thể điều chỉnh

được (non discretionary accruals) dựa vào mối quan hệ giữa tổng biến dồn

tích (total accruals) và gia thuyết giai thích các yếu tố. Mơ hình sử dụng cách

tiếp cận được gọi là mơ hình tổng dồn tích, ví dụ như mơ hình của Healy [37]

và Jones [39]; Dechow [26]; DeAngelo [24]. Có khá nhiều mơ hình nghiên

cứu nổi tiếng dựa trên phương pháp thứ nhất như mơ hình của Jones [39];

Dechow [26]; Kasznik [42]; Kothari [43].

- Phương pháp thứ hai là sử dụng một mơ hình dồn tích cụ thể. Trong

nghiên cứu thực nhiệm sử dụng mơ hình dồn tích cụ thể, trọng tâm thường là

một ngành cơng nghiệp cụ thể nơi có mức dồn tích lớn hoặc các biến dồn tích

đơn lẻ. Chẳng hạn như nghiên cứu của Beaver và Engel [19].

- Phương pháp thứ ba: quan sát mức dồn tích trong một khoang thời gian

cụ thể. Cách tiếp cận này xem xét tính chất thống kê của lợi nhuận để xác

định hành vi đó anh hưởng đến lợi nhuận. Chẳng hạn như các nghiên cứu của

Burgstahler và Dichev [21], Degeorge và cộng sự [27].

Trong những nghiên cứu này, cơng thức tính tổng dồn tích được xác định

dựa trên hai cơ sở kế toán cơ ban: cơ sở dồn tích và cơ sở tiền. Kế toán theo

cơ sở dồn tích là kế toán dựa trên cơ sở dự thu – dự chi. VAS 01 nêu rõ cơ sở



19



kế toán dồn tích như sau: “Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của cơng ty liên

quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu và chi phí

phải được ghi sổ kế tốn vào thời điểm phát sinh giao dịch, khơng căn cứ vào

thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền”.

Kế toán theo cơ sở tiền là cơ sở kế toán dựa vào thực thu – thực chi tiền.

Kế toán theo cơ sở tiền chỉ cho phép ghi nhận các giao dịch khi các giao dịch

này phát sinh bằng tiền.

BCKQHĐKD phai được ghi nhận theo cơ sở dồn tích. Điều này mang lại

cơ hội cho ban giám đốc thực hiện hành động quan trị lợi nhuận thông qua

các giao dịch không bằng tiền nhằm đạt được một mục tiêu nào đó. Trong khi

đó, kế toán theo cơ sở tiền được sử dụng để lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ

dựa trên cơ sở thực thu, thực chi tiền nên ban giám đốc không thể thực hiện

quan trị lợi nhuận thơng qua vận dụng các chính sách kế toán. Từ đó chênh

lệch giữa lợi nhuận trên BCKQHĐKD và dòng tiền trên BCLCTT tạo ra biến

kế toán gọi là dồn tích (Accruals). Vì vậy, cơng thức tính tổng dồn tích (total

accrual) được xác định như cơng thức 1.1 sau:

Tổng biến kế toán dồn

tích

(Total Accruals – TA)



=



Lợi

nhuận

sau thuế



-



Lưu chuyển tiền

thuần từ hoạt

động kinh doanh



(1.1)



Total Accruals gồm hai phần: Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh

(Discretionary Accruals – DA) và biến kế toán dồn tích khơng thể điều chỉnh

(Non Discretionary Accruals – NDA), được thể hiện qua cơng thức 1.2 sau:

Tổng biến kế

toán dồn tích

(Total

Accruals –

TA).



=



Biến kế toán dồn

tích có thể điều

chỉnh được

(Discretionary

Accruals – DA)



+



Biến kế toán dồn

tích khơng có thể điều

chỉnh được (Non

Discretionary

Accruals – NDA).



(1.2)



Theo đó, biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh chính là khoang trống

để các nhà quan trị điều chỉnh lợi nhuận theo ý muốn chủ quan của mình



20



thơng qua việc lựa chọn các chính sách kế toán.

Nghiên cứu này lược khao các phương pháp xác định các biến kế toán

không thể điều chỉnh được nhiều nhà nghiên cứu đã nghiên cứu thực nghiệm

gồm các mơ hình: Mơ hình tổng biến kế toán dồn tích trung bình của Healy

[37]; Mơ hình của DeAnglo [24]; Mơ hình dãy thời gian của Jones [39]; Mơ

hình ngành của Dechow và Sloan [25]; Mơ hình Friedlan [33]; Mơ hình

Modified Jones [25] Mơ hình Kothari và các cộng sự [43]. Mỗi mơ hình đều

có ưu điểm, nhược điểm và điều kiện vận dụng riêng.

Dưới đây là tóm tắc các mơ hình đo lường biến lợi nhuận được tổng hợp

bởi Nguyễn Cơng Phương [9].

a. Mơ hình tổng biến kế tốn dồn tích trung bình của Healy , 1985

Theo cách tiếp cận của Healy, biến kế toán dồn tích khơng thể điều chỉnh

chính là tổng biến kế toán dồn tích trung bình của các năm trước.

TAit



NDAit =



∑A



it −1



t



(1.3)



n



DAit= TAit/Ait-1 – NDAit



(1.4)



Trong đó:

NDAit: Biến kế toán dồn tích khơng thể điều chỉnh vào năm t của công ty i

DAit: Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh vào năm t của công ty i

TAit: Tổng biến kế toán dồn tích năm t của cơng ty i

Ait: Tổng tài san năm t của công ty i

n: số năm trong kỳ ước tính

t: năm sự kiện (năm nghiên cứu hành động điều chỉnh lợi nhuận)

Theo Healy, phần NDA năm t chính là TA của năm t-1. Điều này cho

thấy, NDA không thay đổi từ năm này qua năm khác. Đồng thời mơ hình của

Healy cũng cho thấy rằng tổng DA trong một khoang thời gian sẽ bằng 0 [37].

Điều này cho thấy nhà quan trị không thể điều chỉnh lợi nhuận trong một thời



21



gian vơ tận. Bởi vì việc điều chỉnh lợi nhuận được thực hiện chủ yếu bằng

việc lựa chọn các phương pháp kế toán, nếu lợi nhuận được điều chỉnh tăng

trong một vài năm thì qua các năm kế tiếp lợi nhuận phai giam đi.

Ưu điểm của mô hình Healy là đơn gian về tính toán. Tuy nhiên, nhược

điểm của mơ hình nằm ở chổ cho rằng NDA không thay đổi theo thời gian.

Thực tế, NDA liên qua đến mức hoạt động của doanh nghiệp, khi mức hoạt

động thay đổi, phần NDA sẽ thay đổi. Vì vậy, cách tiếp cận này không thể

kiểm soát được những thay đổi về mức độ hoạt động làm biến động phần

NDA, như tăng trưởng về hoạt động, thay đổi tình trạng kinh tế. Việc không

kiểm soát được các biến này làm cho phần NDA tính được khơng chính xác

và từ đó, đo lường phần DA bị sai lệch.

b. Mơ hình DeAngelo, 1986

Theo DeAngelo, biến kế toán dồn tích khơng thể điều chỉnh của công ty i

vào năm sự kiện t là:



NDAit =



TAit −1

Ait − 2



(1.5)



Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh của công ty i năm sự kiện t:



DAit =

Gia định của mơ hình:



TAit

− NDAit

Ait −1



(1.6)



- Nămt-1 khơng có quan trị lợi nhuận

- DNA khơng đổi qua các năm



Mơ hình này được xem như là một trường hợp đặc biệt của mơ hình

Healy [37]. Điểm khác biệt ở đây là kỳ ước tính NDA là năm trước, thay vì

một giai đoạn trong mơ hình của Healy. Điểm chung cho ca hai cách tiếp cận

là việc sử dụng TA của kỳ ước tính như một tính toán gần đúng phần NDA

của kỳ nghiên cứu. Ước tính NDA trong mơ hình của DeAngelo, 1986 thật sự

chính xác nếu NDA khơng thay đổi theo thời gian và trung bình DA bằng 0 ở



22



kỳ ước tính. Tuy nhiên, như trình bày ở trên, NDA thường phụ thuộc vào mức

độ hoạt động. Như vậy mô hình của DeAngelo cũng có nhược điểm của mơ

hình Healy đó là khơng đo lường chính xác phần NDA.

c. Mơ hình dãy thời gian của Jones, 1991

Để khắc phục nhược điểm của hai mơ hình trên, Jones - 1991 thử kiểm

soát sự anh hưởng của những thay đổi về mức độ hoạt động kinh doanh của

doanh nghiệp đến NDA. Theo Jones, phần NDA phụ thuộc vào doanh thu, qui

mô của tài san. Vì vậy, Jones sử dụng các mức biến động về doanh thu thuần

và nguyên giá TSCĐ giữa năm t-1 và năm t để dự đoán phần NDA. Mô hình

của Jones được trình bày như sau:

 1

NDAit

=α1 

A

Ait −1

 it −1





 ∆REVit



+α2 

 A

it −1









 PPEit



+α3 

 A



 it −1













(1.7)



Trong đó:

∆REV: Doanh thu thuần kỳ t – Doanh thu thuần kỳ t-1

PPEt: Nguyên giá TSCĐ hữu hình, nguyên giá TSCĐ thuê tài chính,

nguyên giá BĐS đầu tư, chi phí xây dựng cơ ban dở dang cuối kỳ t

Ait-1: Tổng tài san cuối kỳ t-1

α1, α2, α3: là các tham số của từng công ty

t: kỳ t cần nghiên cứu hành động điều chỉnh lợi nhuận

i: công ty i cần nghiên cứu hành động điều chỉnh lợi nhuận

Các tham số α1, α2, α3 ở mơ hình trên được tính bằng ước lượng OLS của

a1, a2, a3 trong mơ hình sau:

 1 

 ∆REVit

TAit





=a1 

+

a

2

A



 A

Ait −1

it −1

 it -1 







 PPEit





+

a

3



 A



 it −1







 +ε (1.8)





ε : thặng dư, tương đương với phần biến kế toán dồn tích có thể điều



chỉnh.

Như vậy, mơ hình Jones đã khắc phục được nhược điểm của hai mơ hình



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN VÀ BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×