Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CÔNG

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CÔNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

10



kiện xã hội hoá thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, y tế, khoa học,

giáo dục, đào tạo và các lĩnh vực khác.

- Chương trình mục tiêu, dự án phục vụ hoạt động của các cơ quan nhà

nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, kể cả việc

mua sắm, sửa chữa tài sản cố định bằng vốn sự nghiệp.

- Các dự án đầu tư của cộng đồng dân cư, tổ chức chính trị - xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp được hỗ trợ từ vốn nhà nước theo

quy định của pháp luật.

- Chương trình mục tiêu, dự án đầu tư công khác theo quyết định của

Chính phủ.

Theo như luận văn thì đầu tư cơng là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào

các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội và đầu tư

vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế – xã hội [1].

Hoạt động đầu tư cơng bao gồm tồn bộ quá trình lập, phê duyệt kế

hoạch, chương trình, dự án đầu tư công, triển khai thực hiện đầu tư và quản lý

khai thác, sử dụng các dự án đầu tư cơng.

Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước có một vai trò rất lớn trong đầu tư

cơng để tạo những bước đột phá phát triển đất nước. Trong điều kiện nền kinh

tế nhiều thành phần thì khu vực tư nhân trong nước và khu vực nước ngồi

cũng có thể tham gia đầu tư, kinh doanh dịch vụ cơng bằng các hình thức

thích hợp như BOT, BTO, BT,... [8. tr. 10-27]. Tuy nhiên, trong luận văn này,

nguồn vốn đầu tư công chỉ bao gồm:

- Vốn Ngân sách Nhà nước (NSNN): NSNN là hệ thống quan hệ kinh tế

phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính của xã hội để tạo lập

và sử dụng quỹ tiền tệ nhà nước nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước.

NSNN được hình thành từ các khoản thu thuế, phí và lệ phí. Trong đó thuế là

khoản thu chiếm tỷ trọng lớn nhất tại hầu hết các quốc gia trên thế giới, không



11



phân biệt chế độ chính trị. Khoản thu này được xây dựng trên cơ sở trao đổi

nghĩa vụ giữa công dân với nhà nước. Phí và lệ phí là nguồn thu thường được

đề cập đầu tiên trong các nguồn thu vốn có của NSNN vì nó trực tiếp gắn với

chức năng cung cấp hàng hóa cơng.

- Vốn tín dụng Nhà nước: Vốn tín dụng Nhà nước là khoản nợ phát sinh

từ các khoản vay trong nước, nước ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh

Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký

kết, phát hành, uỷ quyền phát hành theo quy định của pháp luật.

- Vốn ODA: ODA là nguồn vốn hỗ trợ chính thức từ bên ngoài bao gồm

các khoản viện trợ và cho vay với điều kiện ưu đãi. ODA được hiểu là nguồn

vốn dành cho các nước đang và kém phát triển được các cơ quan chính thức

và cơ quan thừa hành của chính phủ hoặc các tổ chức liên chính phủ, các tổ

chức phi chính phủ tài trợ. Đối tượng của đầu tư công ở hầu hết các nước đều

là các chương trình mục tiêu, dự án phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, kinh

tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh; Chương trình mục tiêu, dự án

phục vụ hoạt động của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính

trị, tổ chức chính trị - xã hội, kể cả việc mua sắm, sửa chữa tài sản cố định

bằng vốn sự nghiệp; Các dự án đầu tư của cộng đồng dân cư, tổ chức chính trị

- xã hội - nghề nghiệp được hỗ trợ từ vốn nhà nước; Chương trình mục tiêu,

dự án đầu tư cơng khác theo quyết định của Chính phủ.

b. Vai trò của đầu tư cơng trong nền kinh tế

Ngun nhân chính phủ phải tham gia đầu tư trong nền kinh tế đó là do

sự thất bại của khu vực tư trong việc cung cấp hàng hố cơng. Sự phát triển

của xã hội trong giai đoạn kinh tế thị trường hiện đại đã cho thấy chi tiêu cơng

hồn tồn khơng mất đi mà trái lại nó tạo ra sự tái phân phối giữa các khu vực

trong nền kinh tế. Chính phủ đóng vai trò là một trung tâm của q trình tái

phân phối thu nhập thông qua các khoản chi tiêu công. Với ý nghĩa đó, đầu tư



12



cơng đóng vai trò rất quan trọng trong giai đoạn nền kinh tế đang có những

bước chuyển đổi nhằm sử dụng các nguồn vốn đầu tư có hiệu quả. Đặc biệt,

trong thời kỳ đổi mới, đầu tư công chuyển mạnh sang đầu tư cho phát triển

các cơng trình kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, cho sự nghiệp giáo dục, y tế,

xố đói giảm nghèo.

Cụ thể, vai trò của đầu tư cơng được thể hiện rõ ở các điểm như sau:

- Một là, đầu tư cơng góp phần thúc đẩy q trình cơng nghiệp hóa –

hiện đại hóa, phát triển kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội: Đầu tư cơng đóng

góp lớn vào tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế,… Trong bối cảnh khủng

hoảng kinh tế tồn cầu thì đầu tư cơng càng nổi bật vai trò duy trì động lực

tăng trưởng kinh tế thơng qua các gói kích cầu của Chính phủ.

- Hai là, đầu tư cơng góp phần định hình và phát triển cơ sở hạ tầng kinh

tế - xã hội quốc gia.

- Ba là, đầu tư công làm gia tăng tổng cầu của xã hội: Đầu tư công chiếm

tỷ trọng lớn trong tổng đầu tư của toàn bộ nền kinh tế. Khi tổng cung chưa

thay đổi, sự tăng lên của đầu tư làm cho tổng cầu tăng kéo sản lượng cân bằng

và giá cân bằng cũng tăng.

- Bốn là, đầu tư công làm gia tăng tổng cung và năng lực kinh tế: Đầu tư

công làm tăng năng lực sản xuất làm tổng cung tăng và sản lượng tăng, giá

giảm xuống cho phép tiêu dùng tăng. Tăng tiêu dùng lại kích thích sản xuất

phát triển và làm kinh tế- xã hội phát triển.

- Năm là, đầu tư cơng có vai trò như là khoản “đầu tư mồi”, tạo cú hch

và duy trì động lực tăng trưởng. Đầu tư cơng định vị và củng cố nền kinh tế

trong mối quan hệ của khu vực và quốc tế. Tạo niềm tin và động lực cho các

nguồn đầu tư khác vào trong nước góp phần tăng trưởng kinh tế.

- Sáu là, đầu tư cơng góp phần giải quyết việc làm, giảm thiểu tỷ lệ thất

nghiệp, tạo việc làm và thu nhập cho tồn xã hội.



13



c. Đặc điểm đầu tư cơng.

Xuất phát từ đặc điểm của hàng hóa cơng, đó là loại hàng hố khơng có

tính cạnh tranh trong tiêu dùng. Tính phi cạnh tranh về tiêu dùng biểu hiện

cùng một lúc có hơn một người tận hưởng những lợi ích từ hàng hố cơng, và

chi phí đáp ứng nhu cầu đòi hỏi các đối tượng tiêu dùng tăng thêm này là

bằng không. Phần lớn hàng hố cơng do Chính phủ cung cấp và ngồi ra còn

có thể huy động sự tham gia của khu vực tư để đáp ứng nhu cầu về hàng hố

cơng của xã hội.

Một đặc điểm khác đó là hàng hố cơng có tính tiêu dùng chung, khi

tăng thêm một người tiêu dùng thì hàng hố cơng sẽ khơng làm giảm đi lợi

ích của những người tiêu dùng hiện có và chi phí đáp ứng đòi hỏi của các đối

tượng tiêu dùng tăng thêm là bằng không. Khi hàng hố cơng được cung cấp

thì khơng thể loại trừ hoặc rất tốn kém để loại trừ một người nào đó tiêu dùng

hàng hố mà khơng chịu trả tiền cho hành động tiêu dùng của mình.

Từ các đặc điểm trên dẫn đến, đầu tư cơng có các đặc điểm sau:

- Đầu tư công của Ngân sách Nhà nước là khoản chi tích lũy.

Chi đầu tư cơng trực tiếp làm gia tăng số lượng và chất lượng tài sản cố

định, gia tăng giá trị tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân. Vấn đề này thể

hiện rõ nét thông qua việc Nhà nước tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ

tầng kinh tế xã hội như: giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục.v.v…Sự tăng lên

về số lượng và chất lượng của hàng hố cơng này là cơ sở và nền tảng cho sự

phát triển của nền kinh tế quốc dân trên các mặt: phát triển cân đối giữa các

ngành, các lãnh vực, các vùng kinh tế trên lãnh thổ quốc gia; nâng cao chất

lượng và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh; thúc đẩy sự phát triển của

các thành phần kinh tế, thu hút đầu tư trong nước và nước ngồi, tạo động lực,

cú hích cho sự tăng trưởng.



14



- Quy mô và cơ cấu chi đầu tư công của Ngân sách Nhà nước không cố

định và phụ thuộc vào chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước

trong từng thời kỳ và mức độ phát triển của khu vực kinh tế tư nhân.

Theo kinh nghiệm phát triển cho thấy, trong thời kỳ đầu thực hiện chiến

lược cơng nghiệp hố, quy mơ chi đầu tư cơng của Ngân sách Nhà nước

chiếm tỷ lệ khá lớn so với tổng đầu tư xã hội.

Ở giai đoạn này, do khu vực kinh tế tư nhân còn yếu trong khi chính sách

thu hút vốn đầu tư chưa hồn thiện nên nhà nước phải tăng cường quy mô đầu

tư từ ngân sách nhà nước để tạo đà cho tiến trình cơng nghiệp hố. Đi đơi với

sự gia tăng quy mơ thì cơ cấu chi đầu tư cũng rất đa dạng để đáp ứng với nhu

cầu thực tiễn đặt ra, như chi hỗ trợ, chi thực hiện chương trình mục tiêu kinh

tế xã hội…Quy mô chi đầu tư công của nhà nước sẽ giảm dần theo mức độ

thành công của chiến lược cơng nghiệp hố và mức độ phát triển của khu vực

kinh tế tư nhân. Khi đó chi đầu tư phát triển của nhà nước chủ yếu tập trung

vào điều chỉnh nhằm đạt tới sự ổn định của kinh tế vĩ mô và các khoản chi

cho vay chỉ định, chi thực hiện chương trình mục tiêu kinh tế xã hội sẽ được

cắt giảm.

- Chi đầu tư công phải gắn chặt chi thường xuyên nhằm nâng cao hiệu

quả vốn đầu tư.

Sự phối hợp không đồng bộ giữa chi đầu tư với chi thường xun sẽ dẫn

đến tình trạng thiếu kinh phí để duy tu, sửa chữa, bảo dưỡng cơ sở hạ tầng.

Điều này sẽ làm giảm hiệu quả khai thác và sử dụng tài sản đầu tư. Sự gắn kết

giữa 2 nhóm chi tiêu này sẽ khắc phục tình trạng đầu tư tràn lan, khơng tính

đến hiệu quả khai thác.

Nội dung chi đầu tư công gồm 4 lãnh vực: chi xây dựng các cơng trình

kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội khơng có khả năng thu hồi vốn; chi hỗ trợ vốn

cho các doanh nghiệp nhà nước; chi cho quỹ hỗ trợ phát triển để thực hiện tín



15



dụng đầu tư phát triển của nhà nước; chi dự trữ nhà nước. Trong đó, chi đầu

tư xây dựng kết cấu hạ tầng là khoản chi chiếm tỷ trọng lớn nhất và được thực

hiện theo phương thức khơng hồn trả.

- Đầu tư cơng thường đòi hỏi lượng vốn lớn và vốn này nằm khê đọng

khơng vận động trong suốt q trình thực hiện đầu tư.

Do đặc điểm này, cần phải tính tốn kỹ khi tiến hành công cuộc đầu tư,

tránh những thiệt hại hay tổn thất mà cơng cuộc đầu tư có thể gặp phải và cần

phải phân bổ vốn theo tiến độ phù hợp đảm bảo tính liên tục và giảm lượng

vốn khê đọng.

- Hoạt động đầu tư cơng mang tính chất lâu dài

Thời gian để tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi các thành quả

của nó phát huy tác dụng thường kéo dài nhiều năm, tháng với nhiều biến

động xảy ra. Trong q trình đó những tác động của mơi trường đầu tư có thể

làm những dự đốn của chủ thể đầu tư bị sai lệch do vậy cần phải quản lý một

cách nghiêm ngặt và có sự điều chỉnh kịp thời quá trình đầu tư.

Thời gian vận hành các kết quả đầu tư để thu hồi đủ vốn hoặc cho đến

khi thanh lý tài sản do vốn đầu tư tạo ra thường cũng kéo dài nhiều năm

tháng, có dự án thời gian tồn tại các kết quả mà đầu tư tạo ra là vĩnh viễn (như

các cơng trình văn hoá, kiến trúc lớn ở nước ta cũng như trên thế giới...).

Quá trình đầu tư, cũng như kết quả và hiệu quả hoạt động đầu tư chịu

ảnh hưởng của nhiều yếu tố bất định theo thời gian và của điều kiện không

gian tự nhiên, kinh tế-xã hội.

Các thành quả của hoạt động đầu tư cơng là các cơng trình xây dựng sẽ

hoạt động ở ngay nơi mà chúng được tạo dựng nên do đó các điều kiện về địa

lý, địa hình sẽ ảnh hưởng khơng chỉ tới q trình thực hiện đầu tư mà còn ảnh

hưởng tới sự hoạt động và phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư sau này.



16



Đầu tư công, do bản chất của nó, là hoạt động chịu tác động của nhiều

yếu tố rủi ro: do đó cần có các biện pháp để hạn chế cũng như ngăn ngừa rủi

ro, như nhận diện các yếu tố của rủi ro có thể ảnh hưởng tới dự án, phân tán

rủi ro đó bằng các hình thức như bảo hiểm...và quản lý chặt chẽ các rủi ro,

hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất.

1.1.2. Quản lý đầu tư công

Quản lý đầu tư công là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền

lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con

người, do các cơ quan trong hệ thống hành pháp và hành chính thực hiện

nhằm hỗ trợ các chủ đầu tư thực hiện đúng vai trò, chức năng, nhiệm vụ của

người đại diện sở hữu Nhà nước trong các dự án công, ngăn ngừa các ảnh

hưởng tiêu cực của các dự án, kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa các hiện tượng

tiêu cực trong việc sử dụng vốn Nhà nước nhằm tránh thất thốt, lãng phí

Ngân sách nhà nước [14, tr. 19-36].

Từ khái niệm trên, ta có cách hiểu: quản lý đầu tư công là sự tác động có

tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và

hành vi hoạt động của con người, của các cơ quan trong bộ máy nhà nước

nhằm hỗ trợ các chủ đầu tư thực hiện đúng vai trò, chức năng, nhiệm vụ của

người đại diện sở hữu nhà nước trong các dự án công, ngăn ngừa các ảnh

hưởng tiêu cực của các dự án, kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa các hiện tượng

tiêu cực trong việc sử dụng vốn Nhà nước nhằm tránh thất thốt, lãng phí

Ngân sách nhà nước; đảm bảo hoạt động đầu tư công đạt được tốt nhất mục

tiêu phát triển kinh tế - xã hội với chi phí thấp nhất. Chỉ khi đáp ứng được

những yêu cầu này thì hoạt động quản lý đầu tư công mới được coi là có hiệu

quả.

Việc tăng cường quản lý đầu tư cơng có ý nghĩa hết sức to lớn trong q

trình thực hiện đầu tư công. Quản lý đầu tư công nhằm quản lý vốn đầu tư của



17



Nhà nước được sử dụng đúng mục đích, phát triển hài hòa giữa lợi ích kinh tế

và xã hội. Thực hiện các biện pháp đảm bảo dự án thực hiện đúng tiến độ đề

ra, ngăn ngừa các tiêu cực trong quá trình thực hiện đầu tư và sử dụng vốn

đầu tư hiệu quả.

1.1.3. Các công cụ để quản lý đầu tư công

a. Công cụ pháp luật

Trong xã hội nhà nước pháp quyền, các quan hệ xã hội chủ yếu được

điều chỉnh bằng các quy phạm pháp luật. Pháp luật trở thành công cụ quan

trọng của nhà nước để điều chỉnh các hoạt động đầu tư theo mục tiêu đã định.

Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền, thực hiện sự quản lý của mình đối

với xã hội nói chung và nền kinh tế quốc dân nói riêng, chủ yếu bằng luật

pháp và theo pháp luật.

Hệ thống văn bản pháp luật trong QLNN về kinh tế nói chung và quản lý

đầu tư cơng nói riêng có hai loại: văn bản quy phạm pháp luật và văn bản áp

dụng quy phạm pháp luật.

Pháp luật bao gồm một hệ thống các quy phạm có tính bắt buộc chung,

do nhà nước ban hành và được nhà nước bảo đảm thực thi trong một thời gian

dài để điều chỉnh mọi quan hệ trong hoạt động đầu tư. Nó đòi hỏi các cơ quan

nhà nước, các tổ chức kinh tế - xã hội và mọi công dân đều phải nghiêm chỉnh

chấp hành, đấu tranh phòng ngừa và chống lại các tội phạm và các vụ việc vi

phạm pháp luật. Công cụ này bao gồm: hệ thống luật có liên quan đến hoạt

động đầu tư công như: luật đầu tư công, luật xây dựng, luật đất đai, luật bảo

vệ môi trường, luật lao động, luật bảo hiểm, luật thuế… và các văn bản dưới

luật kèm theo về quản lý hoạt động đầu tư như các qui chế về quản lý tài

chính, vật tư, thiết bị, lao động, tiền lương, sử dụng đất đai và tài nguyên

thiên nhiên khác...



18



b. Công cụ kế hoạch

Hiện nay nhiều nước trên thế giới coi kế hoạch là công cụ quan trọng để

quản lý nền kinh tế quốc dân trong đó có quản lý hoạt động đầu tư công. Ở

nước ta quy định về lập kế hoạch ĐTC trung hạn là một bước tiến bộ rõ rệt để

tăng cường sự gắn kết giữa kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và kế hoạch

ngân sách (trước hết là ngân sách đầu tư). Nhờ đó, kế hoạch ĐTC thực sự trở

thành một công cụ hữu hiệu để thực hiện đường lối, chính sách và kế hoạch

phát triển của Nhà nước, các bộ ngành và địa phương. Nếu hiểu kế hoạch này

là danh mục các dự án được đề xuất theo thứ tự ưu tiên và phù hợp với khả

năng cân đối nguồn vốn thì đây cũng là một nỗ lực để xác lập trần ngân sách

đầu tư trung hạn, tức là bước đầu áp dụng kỷ luật tài khóa tổng thể. Một khi bị

khống chế bởi mức “trần”, các bộ, ngành địa phương phải cân nhắc lựa chọn

những dự án nào được ưu tiên nhất để đưa vào danh mục.

Như vậy, có thể thấy kế hoạch ĐTC trung hạn bước đầu đã khiến các

đơn vị sử dụng ngân sách phải sắp xếp thứ tự ưu tiên các dự án đầu tư để phục

vụ mục tiêu phát triển. Theo nghĩa này, hiệu quả phân bổ sẽ được nâng cao.

c. Cơng cụ chính sách

Chính sách là một trong những cơng cụ chủ yếu và quan trọng mà nhà

nước sử dụng để thực hiện chức năng quản lý đầu tư của mình. Mỗi chính

sách cụ thể là một tập hợp các giải pháp nhất định để thực hiện các mục tiêu

bộ phận trong quá trình đầu tư nhằm hướng tới đạt mục tiêu chung của quá

trình tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội. Trong hệ thống các công cụ

quản lý đầu tư cơng chính sách là cơng cụ năng động nhất, có độ nhạy cảm

cao. Thực tiễn ở nước ta và kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới đã

chứng tỏ phần lớn những thành công trong công cuộc đổi mới và cải cách

kinh tế đều bắt nguồn từ việc lựa chọn và áp dụng những chính sách liên quan

đến đầu tư thích hợp, có hiệu quả cao để khai thác tối ưu các lợi thế so sánh



19



của đất nước. Một hệ thống chính sách liên quan đến đầu tư đồng bộ, phù hợp

với yêu cầu đầu tư phát triển của đất nước trong từng thời kỳ sẽ bảo đảm

vững chắc cho sự vận hành của nền kinh tế. Kinh nghiệm thực tế cũng cho

thấy sự sai lầm của một chính sách đầu tư có ảnh hưởng xấu đến cuộc sống

hàng triệu người trong xã hội, thậm chí đến sự cả nền kinh tế quốc dân. Cái

giá phải trả cho sự sai lầm của một chính sách đầu tư là rất lớn cả về mặt vật

chất lẫn tinh thần. Việc khắc phục những hậu quả của một chính sách đầu tư

sai lầm thường gặp phải rất nhiều khó khăn và trở ngại, đòi hỏi phải mất

nhiều thời gian, cơng sức và tiền của. Các chính sách liên quan đến đầu tư

như chính sách giá cả, chính sách tiền lương, chính sách xuất nhập khẩu,

chính sách thuế, chính sách tài chính tín dụng, chính sách tỷ giá hối đối,

chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách phân phối thu nhập...

1.1.4. Nguyên tắc quản lý đầu tư công

Nguyên tắc quản lý đầu tư công được quy định tại Điều 12 Luật đầu tư

công 2014, bảo đảm việc quản lý và sử dụng nguồn vốn đầu tư công để thực

hiện các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội một cách tập trung, hiệu quả cụ

thể như sau:

- Tuân thủ các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng vốn đầu tư

công.

- Phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch phát triển

kinh tế - xã hội 05 năm của đất nước, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và

quy hoạch phát triển ngành.

- Thực hiện đúng trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan quản lý nhà

nước, tổ chức, cá nhân liên quan đến quản lý và sử dụng vốn đầu tư công.

- Quản lý việc sử dụng vốn đầu tư công theo đúng quy định đối với từng

nguồn vốn; bảo đảm đầu tư tập trung, đồng bộ, chất lượng, tiết kiệm, hiệu quả

và khả năng cân đối nguồn lực; khơng để thất thốt, lãng phí.



20



- Bảo đảm cơng khai, minh bạch trong hoạt động đầu tư cơng. Tồn bộ

q trình hoạt động đầu tư cơng phải được thực hiện công khai, minh bạch,

bao gồm: từ khâu xây dựng, ban hành các chính sách, pháp luật; nguyên tắc

tiêu chí lựa chọn danh mục dự án đầu tư; nguyên tắc tiêu chí phân bổ vốn; xây

dựng kế hoạch, tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch, chương trình, dự án,...

- Khuyến khích tổ chức, cá nhân trực tiếp đầu tư hoặc đầu tư theo hình

thức đối tác cơng tư vào dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và cung cấp

dịch vụ cơng.

1.2. NỘI DUNG CƠNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CÔNG TỪ NGUỒN

VỐN NGÂN SÁCH CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP HUYỆN

1.2.1 Lập và phê duyệt chủ trương, kế hoạch đầu tư công

Theo quy định của Luật Đầu tư công năm 2014, công tác kế hoạch đầu

tư công từ nguồn NSNN (hay còn gọi là kế hoạch đầu tư cơng, viết tắt là

ĐTC) gồm có Kế hoạch ĐTC trung hạn được lập trong thời hạn 05 năm và Kế

hoạch ĐTC hằng năm để triển khai thực hiện kế hoạch đầu tư công trung hạn.

Cụ thể:

a. Lập, thẩm định, phê duyệt kế hoạch ĐTC trung hạn vốn ngân sách

cấp huyện.

- UBND cấp huyện căn cứ văn bản hướng dẫn của UBND cấp tỉnh, Sở

Kế hoạch và Đầu tư:

+ Giao Phòng Tài chính – Kế hoạch lập kế hoạch ĐTC trung hạn giai

đoạn sau trong phạm vi nhiệm vụ được giao và nguồn vốn thuộc cấp mình

quản lý theo nội dung quy định tại Điều 52 của Luật Đầu tư công.

+ Tổ chức thẩm định kế hoạch ĐTC trung hạn giai đoạn sau của cấp

mình;



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CÔNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×