Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 2.18 GTSX ngành thủy sản huyện Tư Nghĩa thời gian 2011 - 2015( Theo giá hiện hành)

Bảng 2.18 GTSX ngành thủy sản huyện Tư Nghĩa thời gian 2011 - 2015( Theo giá hiện hành)

Tải bản đầy đủ - 0trang

75



(chưa kể nuôi trong hồ thủy lợi), tổng GTSX 31.055 triệu đồng (chủ yếu là

giá trị từ sản lượng nuôi trồng thủy sản). Đến năm 2015 tình hình ni trồng

thủy sản thuận lợi, sản lượng khai thác tăng so với năm 2014; đặc biệt, năng

suất và giá bán tôm nuôi cao hơn các năm trước, người ni có lãi. Tuy vậy,

tình trạng tơm bị bệnh và chết do virut đốm trắng và mơi trường nước bị ơ

nhiễm vẫn còn xảy ra đã gây thiệt hại cho người nuôi tôm. Đối với tình hình

ni trồng thủy sản nước lợ gặp nhiều khó khăn hơn do chi phí cải tạo ao hồ,

dịch bệnh vẫn tiềm ẩn diễn ra nên xảy ra tâm lí lo sợ khiến nhiều hộ bỏ hoặc

chần chừ trong việc ni thủy sản nước lợ.

d.. Thực trạng đóng góp của ngành nông nghiệp với nền kinh tế

huyện Tư Nghĩa

Nông nghiêp chung cấp lương thực, nguyên liệu, thị trường và lao động

cho các ngành kinh tế, góp phần xây dựng nông thôn mới. SXNN đã giải

quyết việc làm cho phần lớn lao động nông thôn và nâng cao mức cho nhân

dân. Tư Nghĩa xác định phát triển nông nghiệp là nhiệm vụ quan trọng vừa

mang tính chiến lược lâu dài, vừa bảo đảm giảm nghèo nhanh, bền vững

Hình thức thay đổi phương thức, tập quán canh tác, chuyển đổi cơ cấu

cây trồng, vật nuôi, ứng dụng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào trong sản

xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao

Ngồi duy trì và mạnh dạn phát triển thêm đàn vật ni hiện có; chăn

ni giống mới, hướng nạc tăng trưởng nhanh về trọng lượng; mơ hình dùng

chế phẩm sinh học trong chăn nuôi heo được thực hiện tại Thị trấn Sơng Vệ,

đây là mơ hình chăn ni có hiệu quả, heo tăng trưởng nhanh, đảm bảo vệ

sinh mơi trường; mơ hình 3 giảm 3 tăng áp dụng cho giống lúa VN121 với

quy mô 20ha ở HTX Châu Phú Điền giúp người dân tiết kiệm được chi phí

sản xuất; mơ hình trình diễn giống mỳ mới NA1 nhằm giúp người dân tăng

thêm thu nhập, thay thế giống mỳ đã bị nhiễm bệnh trước đó; mơ hình trồng



76



rừng thâm canh keo lai mô ở xã Nghĩa Thuận hiện nay đang sinh trưởng và

phát triển tốt đáp ứng được yêu cầu của thị trường, tăng hiệu quả kinh tế trong

sản xuất, nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống cho người dân.

Với đặc thù là xã thuần nông, phần lớn người dân sống dựa vào SXNN

nên khả năng tài chính của hầu hết mọi người dân còn hạn chế

Chính vì thế, yêu cầu cấp thiết là phải làm sao nâng cao năng suất, thu

nhập cho người làm nông nghiệp. Có thể nói, cơng tác xóa nghèo và vươn lên

làm giàu là hết sức khó khăn, nhất là chỉ dựa vào chăn nuôi và trồng trọt ở

quy mô nhỏ. Tuy nhiên thời gian qua, các địa phương ở huyện Tư Nghĩa đã

mạnh dạn đầu tư cây, con giống mới từng bước đem lại hiệu quả trong sản

xuất.

Không những đầu tư vào chăn ni, nhiều hộ dân còn kết hợp thêm việc

buôn bán thức ăn gia súc. Với kinh nghiệm trong sản xuất là ni con gì, cho

ăn gì giúp mau lớn, mang lại năng suất, hiệu quả kinh tế cao. Cùng với đó,

hiện nay, nhiều cá nhân ở trong và ngoài địa phương đang tiến hành các thủ

tục để xây dựng các trang trại có quy mơ lớn để chăn ni, nâng cao thu nhập

cho chính gia đình mình và tạo việc làm cho nhiều nơng dân ở địa phương.

Có thể nói, với tinh thần hăng hái thi đua sản xuất kinh doanh để phát

triển kinh tế, tạo nhiều việc làm tại chỗ, cùng với chính sách ưu đãi của nhà

nước đã tạo điều kiện giúp đỡ các gia đình chính sách, những hộ nghèo gặp

khó khăn về vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất, tạo điều kiện vươn lên thoát

nghèo bền vững.

Tổng GTSX trong năm 2015 ước thực hiện 6.946 tỷ đồng, tốc độ tăng

GTSX 15,1%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng định hướng. Cụm Công

nghiệp La Hà đã được các doanh nghiệp đầu tư lấp đầy toàn bộ diện tích với

13 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh, sử dụng hơn 2.800 lao



77



động, nộp ngân sách khoảng 8 tỷ đồng. Hiện nay, huyện đang lập thủ tục để

quy hoạch Cụm cơng nghiệp Gò Su ở xã Nghĩa Thắng với quy mơ 5ha.

Diện tích gieo trồng cây lúa cả năm đạt 8.140 ha, năng suất bình quân

64,06 tạ/ha, sản lượng 52.146 tấn. Các loại cây trồng khác đều thực hiện đảm

bảo theo kế hoạch, như: cây sắn 1.258 ha, sản lượng 40.514 tấn; đậu các loại

216 ha, sản lượng 361,16 tấn; rau các loại 1.278 ha, sản lượng 24.071 tấn.

Riêng cây mía, diện tích và năng suất tiếp tục giảm so với các năm trước do

giá thu mua của nhà máy đường thấp nên người trồng mía ít chú trọng đầu tư

thâm canh hoặc chuyển qua cây trồng khác có giá trị kinh tế cao hơn.

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện ước thực hiện hơn 89 tỷ

đồng, vượt 84,5% so với tỉnh giao và vượt 6,2% so với Nghị quyết HĐND

huyện. Tổ chức công bố quy hoạch chung thị trấn La Hà với diện tích 465,68

ha và thị trấn Sơng Vệ với diện tích 264 ha.

Thu nhập bình qn đầu người từ SXNN tăng dần, năm 2011 là 14,2

triệu đồng/người/năm tăng lên 20,9 triệu đồng/người/năm, cao gấp 1,47 lần so

với năm 2011. Một số hộ nơng dân khơng có tay nghề, trinh độ sản xuất kém,

điều kiện lại kinh tế khó khăn lại có sự ỷ lại nên đời sống còn gặp nhiều khó

khăn, mức sống thấp hơn so với các vùng nơng thơn khác.

Năm 2015 trên tồn bộ huyện có 34.500 hộ, thời gian 2010 – 2015 tỷ lệ

hộ nghèo có xu hướng giảm rõ rệt từ 12% vào năm 2011 xuống còn 5,29%

vào năm 2015. Thu nhập bình qn đầu người của người dân nông thôn cũng

chênh lệch không nhiều lắm so với thu nhập bình qn người dân tồn huyện

và đang có xu hướng tăng dần từ năm 2011 là 14,2 triệu đồng/người/năm đến

năm 2015 là 20,9 triệu đồng/người/năm, điều đó cho thấy rằng việc phát triển

kinh tế tương đối đồng điều trong tồn huyện Tư Nghĩa. Có thể nói rằng hiệu

quả kinh tế - xã hội của nền nơng nghiệp huyện Tư Nghĩa đang dần tiến bộ

tích cực



78



e. Thực trạng đời sống của người dân huyện Tư Nghĩa

SXNN góp phần giải quyết việc làm, nâng cao mức sống cho nhân dân.

Tình hình hộ nghèo và thu nhập của nông dân được thể hiện qua bảng 2.19,

cụ thể như sau:

Bảng 2.19 Tỷ lệ hộ nghèo và thu nhập bình quân của người dân huyện Tư

Nghĩa qua các năm 2011 - 2015

Chỉ tiêu

2011

2012

2013

2014

2015



Tỷ lệ hộ nghèo

%

12

11

11

5,99

5,29



TNBQ người dân



TNBQ người dân



nông thơn

Triệu đồng/ng/năm

14,2

16,3

17,5

19

20,9



tồn huyện

Triệu đồng/ng/năm

16,2

18,3

20,5

22,6

24,9



(Nguồn niên giám thống kê huyện Tư Nghĩa)



Thu nhập bình quân đầu người từ SXNN tăng dần, năm 2011 là 14,2

triệu đồng/người/năm tăng lên 20,9 triệu đồng/người/năm, cao gấp 1,47 lần so

với năm 2011. Một số hộ nơng dân khơng có tay nghề, trinh độ sản xuất kém,

điều kiện lại kinh tế khó khăn lại có sự ỷ lại nên đời sống còn gặp nhiều khó

khăn, mức sống thấp hơn so với các vùng nông thôn khác.

Năm 2015 trên tồn bộ huyện có 34.500 hộ, thời gian 2010 – 2015 tỷ lệ

hộ nghèo có xu hướng giảm rõ rệt từ 12% vào năm 2011 xuống còn 5,29%

vào năm 2015trên tổng số hộ. Thu nhập bình quân đầu người của người dân

nông thôn cũng chênh lệch không nhiều lắm so với thu nhập bình qn người

dân tồn huyện và đang có xu hướng tăng dần từ năm 2011 là 14,2 triệu

đồng/người/năm đến năm 2015 là 20,9 triệu đồng/người/năm, điều đó cho

thấy rằng việc phát triển kinh tế tương đối đồng điều trong tồn huyện Tư

Nghĩa.

Có thể nói rằng hiệu quả kinh tế - xã hội của nền nông nghiệp huyện Tư

Nghĩa những năm qua chưa cao. Khi phân tích các nơi dung về tăng trưởng



79



NN, phát triển xã hội nông thôn cho thấy huyện Tư Nghĩa đạt mức thấp so với

trung bình cả tỉnh. Trong thời gian tới huyện cần tìm ra những giải pháp để

khắc phục những ha hạn chế và yếu kém trong quá trình phát triển NN của

huyện Tư Nghĩa.

2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ SXNN HUYỆN TƯ NGHĨA

2.3.1 Những thành công

Trong những năm qua, ngành nông nghiệp huyện Tư Nghĩa đã đạt được

nhiều thành tựu khá toàn diện, đồng thời thực hiện các mục tiêu về xây dựng

nông thôn mới, nền nông nghiệp của huyện Tư Nghĩa đã đạt được những

bước phát triển đáng kể:

- Số lượng cơ sở SXNN trong thời gian qua được gia tăng.

- Tốc độ tăng trưởng tồn ngành nơng nghiệp khá cao và ổn định

- An ninh lương thực luôn được đảm bảo

- Thu nhập đời sống của dân cư nơng thơn ngày càng được cải thiện, góp

phần xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội của huyện.

- Công tác đổi mới nông nghiệp bước đầu đã hình thành được các vùng

sản xuất hàng hóa gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm.

- Chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp theo hướng phù hợp,

giảm dần tỷ trọng ngành trồng trọt, tăng tỷ trọng ngành chăn ni. Cơ cấu cây

trồng con vật ni có chuyển biến tích cực, phù hợp với điều kiện sinh thái,

các cây trồng có hiệu quả kinh tế cao thấp được thay thế bởi dàn những cây

trồng hóa hóa có giá trị kinh tế cao.

- Các loại giống mới đã được đưa vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất,

chất lượng sản phẩm cây trồng vật ni. Chăn ni cũng có những bước phát

triển đáng kể, đặc biệt là chăn nuôi bò, heo.

- Bước đầu khai thác sử dụng có hiệu quả nguồn lực cho SXNN.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 2.18 GTSX ngành thủy sản huyện Tư Nghĩa thời gian 2011 - 2015( Theo giá hiện hành)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×