Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 2.4 Số lượng cơ sở SXNN huyện Tư Nghĩa thời gian 2011 -2015

Bảng 2.4 Số lượng cơ sở SXNN huyện Tư Nghĩa thời gian 2011 -2015

Tải bản đầy đủ - 0trang

53



Số lượng trang trại gia tăng qua các năm. Năm 2011 địa bàn huyện Tư

Nghĩa có 6 trang trại đến nay năm 2015 trên địa bàn huyện đã có 13 trang trại

đang hoạt động, sản xuất, chủ yếu tập trung ở các xã cánh Tây như: Nghĩa

Điền, Nghĩa Kỳ, Nghĩa Thuận, Nghĩa Thắng, Nghĩa Lâm. Các trang trại này

đầu tư theo mơ hình chăn ni heo, gà, rắn và trồng nấm dược liệu. Bên cạnh

đó, các hộ gia đình và cá nhân cũng đã thành lập được 107 gia trại sản xuất

chăn nuôi với doanh thu hơn 100 triệu đồng/gia trại/năm.

Tuy nhiên, các trang trại chưa có quy hoạch bài bản, chủ yếu là trang trại

nuôi heo gia công cho các cơng ty nước ngồi. Trong q trình hoạt động, các

trang trại gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn vay để đầu tư, chưa xử

lý triệt để chất thải của gia súc nên chưa đảm bảo môi trường xung quanh,

nhất là vấn đề làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng như

quy trình thủ tục cho cho thuê đất còn nhiều bất cập vướng mắc, dẫn đến việc

không thể vay thêm vốn từ ngân hàng để phát triển quy mơ của trang trại; quy

trình cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại chưa được quan tâm đẩy mạnh

Ngoài ra, các chủ trang trại chưa có kế hoạch phát triển sản xuất lâu dài, chưa

qua các lớp đào tạo về quản lý kỹ thuật và sản xuất kinh doanh, chưa tổ chức

hạch toán kinh doanh rõ ràng. Tất cả những nguyên nhân trên đã làm cho mơ

hình kinh tế trang trại chưa có điều kiện để phát triển, mở rộng, dẫn đến hiệu

quả kinh tế chưa mang lại như kỳ vọng.

Nhìn chung kinh tế trang trại đang có xu hướng phát triển nhanh về số

lượng, quy mơ và giá trị sản phẩm hàng hóa, góp phần tích cực chuyển đổi cơ

cấu cây trồng, vật ni, từng bước hình thành mơ hình SXNN hàng hóa, gắn

với thị trường tiêu thụ. Hiện nay, tổng số vốn của các doanh nghiệp đã đầu tư

trang trại trên địa bàn huyện trên 20 tỷ đồng, ước tính doanh thu một năm hơn

95 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 120 lao động tại địa phương.



54



Xác định kinh tế trang trại là mơ hình sản xuất tiên tiến, góp phần nâng

cao hiệu quả kinh tế nông nghiệp, trong những năm qua, huyện Tư Nghĩa đã

tổ chức quy hoạch phát triển kinh tế trang trại, thực hiện các chính sách hỗ trợ

của nhà nước đối với phát triển trang trại và khuyến khích các doanh nghiệp,

cá nhân đầu tư phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện.

c. Kinh tế nơng hộ

Mơ hình kinh tế nơng hộ gia tăng qua các năm từ 11.400 nông hộ năm

2011 lên đến 11.756 nông hộ, chiếm tỷ lệ lớn nhất trong các mô hình cơ sở

SXNN của huyện Tư Nghĩa, theo đó hộ nơng dân là chủ thể chính của SXNN

trên địa bàn huyện

Tuy nhiên hầu hết các cơ sở kinh tế nông hộ ở huyện Tư Nghĩa có quy

vừa và nhỏ cả về diện tích sử dụng, vốn và lao động, chủ yếu theo mơ hình tự

cung tự cấp, chưa tìm kiếm được thị trường tiêu thụ ổn định. Việc phát triển

loại hình cơ sở SXNN này về lâu dài khơng thể mang lại hiệu quả như các mơ

hình trang trại, HTX do sự thiếu ổn định và hạn chế về quy mơ.

Mặc dù nơng dân là chủ thể chính của SXNN, GTSX nông nghiệp chủ

yếu là do kinh tế hộ tạo ra. Các nông hộ chủ yếu tham gia vào hoạt động trồng

trọt, chăn nuôi; một số hộ tham gia nuôi trồng thủy sản và làm dịch vụ nơng

nghiệp… Nhìn chung đã có sự đa dạng trong sản xuất kinh doanh của nông

hộ, tuy nhiên hiệu quả và giá trị mang lại chưa cao,thu nhập của nơng hộ còn

khiêm tốn so với các mơ hình SXNN khác và ở các lĩnh vực khác.

d. Doanh nghiệp nông nghiệp.

Số lượng doanh nghiệp nông nghiệp thời gian 2011 – 2015 không thay

đổi, số lượng còn khá khiêm tốn so với tiềm năng của huyện. Từ năm 2011

đến năm 2015 có 23 doanh nghiệp nơng nghiệp, điều này xuất phát từ tâm lý

lo sợ đầu tư vào nông nghiệp không mang lại hiệu quả cao, chứa đựng nhiều

rủi ro, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, các nguy cơ về dịch bệnh,… sẽ



55



làm cho việc thu hồi vốn chậm, nguồn vốn đầu tư dàn trải và khó lường được

các nguy cơ sẽ xảy ra.

2.2.2. Tình hình chuyển dịch cơ cấu trong SXNN

a. Chuyển dịch cơ cấu trong ngành nông – lâm – thủy sản

Cơ cấu GTSX nông nghiệp thời gian 2011 – 2015 theo hướng tăng tỷ

trọng ngành nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi), giảm tỷ trọng ngành thủy

sản, đối với ngành lâm nghiệp tỷ trọng biến động nhưng không đáng kể được

thể hiện qua bảng 2.5

Bảng 2.5 Cơ cấu GTSX ngành nông nghiệp của huyện Tư Nghĩa thời gian

2011-2015

ĐVT: %

Năm

Nông nghiệp

- Trồng trọt

- Chăn nuôi

Lâm nghiệp

Thủy sản

Tổng



2011

2012

2013

2014

2015

41,26

43,74

35,11

97,7

97,49

42,95

46,11

45,92

40,9

39,21

53,18

46,24

46,1

51,7

52,13

0,62

0,37

0,23

0,63

0,84

58,12

55,9

64,67

1,67

1,67

100

100

100

100

100

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Tư Nghĩa 2015)



Từ bảng 2.5 ta thấy giá trị sản xuất ngành NN (bao gồm trồng trọt và

chăn nuôi) vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu giá trị sản xuất của huyện

Tư Nghĩa. Do đó hiện nay huyện Tư Nghĩa vẫn là huyện thuần nông của tỉnh

Quảng Ngãi

Tỷ trọng ngành nông nghiệp trong thời gian 2011 – 2015 đã tăng nhanh

chóng từ 41,26% vào năm 2011 lên đến 97,49% vào năm 2015. Năm 2013 tỷ

trọng ngành nông nghiệp có xu hướng giảm nhẹ nhưng đến năm 2014 tỷ trọng

ngành nơng nghiệp đã tăng vọt chiếm 97% trong tồn bộ cơ cấu GTSX tồn

ngành nơng nghiệp. Tương ứng với sự tăng vọt đó là sự giảm đáng kể của



56



ngành thủy sản từ 64,67% vào năm 2013 chỉ còn 1,67% vào năm 2015. Riêng

đối với ngành thủy sản, từ năm 2014 trở đi GTSX ngành thủy sản chủ yếu là

từ nuôi trồng thủy sản (nuôi tôm, cá) ở cả nước ngọt và nước lợ, GTSX từ

nguồn đánh bắt hải hản đã giảm đi đáng kể được thể hiện qua biểu đồ 2.2



Biểu đồ 2.2: Chuyển dịch cơ cấu GTSX ngành NN huyện Tư Nghĩa thời

gian 2011 – 2015

Việc tỷ trọng ngành NN giảm nguyên nhân là cuối năm 2013 đầu năm

2014 để mở rộng địa giới hành chính Thành Phố Quảng Ngãi huyện Tư Nghĩa

đã bàn giao toàn bộ 3 xã ven biển Nghĩa Hà, Nghĩa Phú và Nghĩa An để

Thành phố Quảng Ngãi quản lý nên đã có sự thay đổi lớn về GTSX và cơ cấu

ngành thủy sản của huyện Tư Nghĩa.

Đến năm 2015 cơ cấu GTSX ngành lâm nghiệp tăng lên đến 0,84%, nhờ

tham gia dự án KFW6 trồng rừng tại các xã Nghĩa Thắng, Nghĩa Sơn, Nghĩa

Thọ, cơng tác quản lý bảo vệ rừng, giao khốn rừng theo Nghị quyết 30a tiếp

tục được củng cố.

b. Chuyển dịch cơ cấu trong ngành trồng trọt



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 2.4 Số lượng cơ sở SXNN huyện Tư Nghĩa thời gian 2011 -2015

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×