Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 2.3 Cơ cấu GTSX của huyện Tư Nghĩa qua các năm (Theo giá hiện hành)

Bảng 2.3 Cơ cấu GTSX của huyện Tư Nghĩa qua các năm (Theo giá hiện hành)

Tải bản đầy đủ - 0trang

47



dựng, giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp nhưng vẫn ở mức ổn định. Việc

chuyển dịch cơ cấu tỷ trọng giá trị các ngành kinh tế như vậy cũng phù hợp

với định hướng phát triển của địa phương cũng như của cả nước.

c. Thị trường

Trong những năm gần đây thị trường các yếu tố đầu vào SXNN như

phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn cho chăn nuôi, thú y, giống, cây

trồng con vật ni… rất khó kiểm sốt, giá liên tục tăng nhưng chất lượng lại

bấp bênh, không đảm bảo. Đa số các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ nên người nông dân

sử dụng thức ăn chăn nuôi kết hợp với các nguồn thức ăn sẵn có, do đó việc

giá cả không ổn định sẽ ảnh hưởng xấu đến hoạt động chăn ni của địa

phương. Phân bón trong trồng trọt cũng được sử dụng hỗn hợp giữa các loại

phân chuồng và phân hóa học, thị trường phân bón khơng ổn định và chất

lượng thấp sẽ ảnh hưởng xấu tới năng suất trồng trọt. Mặt khác giá cả tiêu thị

các loại nơng sản lại bất ổn như lúa, mía, các loại rau củ quả,… giá cả thịt gia

súc, gia cầm và các loại cây ăn quả thường bị người mua ép giá khiến mức

thu nhập của người nông dân khá thấp.

Diện tích trồng rừng cũng tăng so với các năm trước, chủ yếu là trồng

rừng sản xuất với cây keo lai là chủ lực tập trung ở các xã Nghĩa Thắng,

Nghĩa Sơn, Nghĩa Thọ.

Nhiều mơ hình khuyến nơng được áp dụng, bước đầu mang lại hiệu quả

kinh tế cao, tạo bước đột phá thu hút nhiều người dân tham gia

d. Đặc điểm cơ sở hạ tầng

- Mạng lưới giao thông: Tồn huyện Tư Nghĩa có 20 tuyến đường huyện

với tổng chiều dài gần 101 km thì đã có gần 88 km được láng nhựa và bêtơng hố, có 03 tuyến đuờng chuyên dùng với tổng chiều dài 7,2 km đều đã

được láng nhựa. Riêng 130 tuyến đường trục xã và trục thôn của huyện Tư

Nghĩa với tổng chiều dài gần 80 km thì đã có 58 km được bê- tơng. Tuy



48



nhiên, hiện nay, nhiều tuyến đường giao thông nông thôn trên địa bàn huyện

đã bị xuống cấp, kích thước hình học chưa đảm bảo tiêu chuẩn, phần lớn chỉ

đạt tiêu chuẩn cấp VI hoặc đường giao thông nông thôn với 1 làn xe. Còn

nhiều đoạn đường vẫn chưa được láng nhựa hoặc bê- tông xi- măng.

- Hệ thống cấp điện: Thời gian qua, công ty cổ phần điện huyện Tư

Nghĩa đã tiếp nhận và quản lý lưới đuện hạ áp sau 118 trạm biến áp trên địa

bàn 12 xã của huyện Tư Nghĩa với tổng chiều dài đường dây hạ áp gần

261km. Hiện nay, công ty đang quản lý 33 nghìn 475 cơng tơ với số lượng

khách hàng là 35 nghìn 724 hộ; trong đó, phục vụ cho mục đích sinh hoạt có

gần 32 nghìn cơng tơ với gần 34 nghìn hộ dân và phục vụ cho mục đích khác

có trên 1 nghìn 600 cơng tơ với trên 1 nghìn 600 cơ sở.

- Hệ thống thủy lợi: tồn huyện có 8 cơng trình đập dâng và hồ chứa, 10

trạm bơm, 120 tuyến kênh mương nội đồng, trong đó chỉ có khoảng 30%

tuyến kênh được kiên cố. Đợt mưa lũ cuối năm 2013 đã làm 2 hồ chứa nước

bị sạt lở, bồi lấp; 6 cơng trình đập dâng và các cơng trình khác bị hư hỏng

nặng; hơn 5 km kênh kiên cố hóa bằng gạch, bê tổng bị sạt lở; gần 27 km

kênh đất bị bồi lấp và sạt lở... Từ năm 2011 - 2015, huyện Tư Nghĩa đã dành

nguồn vốn trên 425 tỷ đồng để phát triển kết cấu hạ tầng. Theo đó, huyện thực

hiện nhựa hóa, bê tơng hóa 80km đường; hồn thành cơng trình kè Nam sơng

Cây Bứa, kè Bắc sơng Vệ; kiên cố hóa nhiều trường học, các tuyến kênh

mương, thủy lợi…

- Thông tin liên lạc: Ngày nay, mạng lưới thông tin liên lạc ở Tư Nghĩa

khá hồn chỉnh với các loại thơng tin hiện đại. Tại huyện lỵ có Bưu cục trung

tâm. Trên địa bàn huyện có 4 tổng đài điện thoại với tổng dung lượng 8.900

số; có 3 bưu cục: Bưu cục Cổ Luỹ, Bưu cục Sơng Vệ, Bưu cục Thu Xà; có 14

xã có bưu điện văn hóa xã; có các trạm viễn thơng ở Cổ Luỹ, La Hà, Nghĩa



49



Lâm, Sông Vệ. Số máy điện thoại tăng nhanh, lên 9.750 máy (năm 2005), gấp

trên 11 lần so với năm 1996 (876 máy).

e. Các chính sách phát triển nông nghiệp

- Công tác quy hoạch phát triển NN: Để thực hiện mục tiêu chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nông nghiệp cần phải xây dựng quy hoạch sản xuất nơng lâm

ngư nghiệp và bố trí dân cư phù hợp đến năm 2020.

- Chính sách định hướng chuyển dịch cơ cấu NN: đẩy mạnh phát triển

nông sản là thế mạnh của huyện. Việc định hướng chuyển dịch cơ cấu trong

chính sác của huyện đã bộc lộ những vấn đề cần phải xem xét và có sự điều

chỉnh:

+ Định hướng chuyển dịch cơ cấu NN mang nặn tự cung tự cấp trong

điều kiện kinh tế thị trường là không phù hợp

+ Chưa dựa vào tiềm năng thế mạnh của địa phương để định hướng

chuyển dịch

+ Chưa dựa vào kết quả phân tích tình hình thực tế phát triển của mỗi

ngành để định hướng chuyển dịch

+ Không căn cứ vào nguồn lực để chuyển dịch cơ cấu và không đủ

nguồn lực để thực hiện

+ Những diễn biến của thị trường để hoạch định

- Thực hiện cải cách hành chính tạo mơi trường thuận lợi cho sản xuất

nơng nghiệp góp phần cùng với các chính sách và biện pháp khác thúc đẩy

NN phát triển. Điều đó có nghĩa là cải cách hành chính phải đồng bộ với các

chính sách và giải pháp khác như chính sách tài chính, chính sách đầu tư,…

- Chính sách đầu tư hỗ trợ phát triển sản xuất: Thực hiện chính sách này,

hàng năm huyện đã triển khai dự án hỗ trợ phát triển sản xuất theo hợp phần

của Chương trình 135, 30a,… đối với các xã đặc biệt khó khăn. Kinh phí hỗ

trợ hàng năm ổn định, từ chính sách này đã đem lại nhiều hiệu quả cho người



50



dân như việc đảm bảo giống cây trồng, vật ni, chuyển đổi tập qn canh

tác…

- Chính sách phát triển ni trồng thủy sản

- Những chính sách về phát triển NN của huyện: Nghị quyết Đại hội

Đảng bộ huyện về xác định phát triển NN là khâu đột phá trong phát triển

kinh tế - xã hội của huyện,…

2.1.4. Đánh giá chung về những thuân lợi và khó khăn trong phát

triển kinh tế nông nghiệp của huyện Tư Nghĩa

* Những thuận lợi

- Huyện Tư Nghĩa là một huyện đồng bằng nên được nhiều chương trình

dự án của Nhà nước tạo điều kiện để phát triển nông nghiệp, giúp cho hộ

nông dân có điều kiện áo dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất, nâng cao

năng lực, thay đổi hệ thống cây trồng và có giá trị sản lượng cao trên một đơn

vị diện tích.

- Là một huyện có vị trí địa lý liền kề với thành phố Quảng Ngãi, gần các

trung tâm kinh tế, văn hóa của Tỉnh, gần các trường Đại học, trung tâm

nghiên cứu khoa học của vùng, có điều kiện tiếp cận với khoa học, kỹ thuật

và công nghệ mới để phát triển. Rất thuận lợi cho các hộ nông dân trong việc

ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất hàng hóa của

mình.

- Đội ngũ cán bộ của huyện nhiệt tình, năng động, lực lượng lao động

đơng đảo, cần cù, chịu khó lao động. Họ làm việc khơng quản nắng mưa để

làm giàu luôn luôn nghĩ cách gia tăng thu nhập cho gia đình và đóng góp cho

sự phát triển kinh tế chung của huyện.

- Đất đai của huyện tương đối đa dạng, điều kiện tự nhiên thuận lợi cho

việc phát triển nhiều loại cây trồng, cho phép phát triển một nền sản xuất



51



nông, lâm, ngư nghiệp đa dạng và thâm canh, sinh thái và bền vững làm cơ sở

cho q trình cơng nghiêp hóa, hiện đại hóa.

- Hệ thống sơng ngòi, kênh rạch, hệ thống thủy lợi, hệ thống giao thơng

thuận tiện cho phát triển sản xuất hàng hóa.

- Về giáo dục, đào tạo, y tế, thông tin liên lạc và các mặt kinh tế - xã hội

khác đã và đang phát triển, đời sống người dân từng bước được cải thiện.

* Những khó khăn

- Điểm xuất phát của nền kinh tế còn thấp kém, phần lớn các hộ nơng

dân còn sản xuất tự cung tự cấp. Các hộ sản xuất hàng hóa phát triển ở các xã

còn khó khăn, hệ thống cơ sở hạ tầng rất kém. Thu nhập của người dân còn

thấp.

- Hệ thống cơ sở hạ tầng mặc dù đã được quan tâm và chú trọng xong ở

một số khu thì hệ thống này còn thiếu về số lượng, chưa đảm bảo về chất

lượng. Hệ thống dịch vụ triển khai ứng dụng khoa học kỹ thuật như trạm

giống cây trồng vật nuôi các cơ sở kỹ thuật khác chưa đáp ứng được nhu cầu

sản xuất và đời sống.

2.2. THỰC TRẠNG PHÁT RIỂN NÔNG NGHIỆP HUYỆN TƯ NGHĨA,

TỈNH QUẢNG NGÃI

2.2.1. Số lượng cơ sở SXNN trong thời gian qua

Trong những năm qua thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước và

chính quyền địa phương về việc phát triển kinh tế nói chung và kinh tế nơng

nghiệp nói riêng nhằm đạt được các chỉ tiêu tổng quát phát triển kinh tế - xã

hội 5 năm thời gian 2011 – 2015, huyện cũng có những thay đổi tích cực

nhằm nâng cao hiệu quả SXNN. Điều này thể hiện qua số lượng các cơ sở

SXNN tăng lên qua các năm ở bảng 2.4 và tốc độ tăng các SXNN qua các

năm.



52



Bảng 2.4 Số lượng cơ sở SXNN huyện Tư Nghĩa thời gian 2011 -2015

Cơ sở NN

HTX

Trang trại

Nông hộ

Doanh nghiệp nông nghiệp



2011

2012

2013

2014

2015

22

22

22

22

22

6

7

8

12

13

11.400 11.500 11.560

11.760 11.756

23

23

23

23

23

(Nguồn niên giám thống kê huyện Tư Nghĩa)



a. Hợp tác xã

Trong thời gian 2011 - 2015 toàn huyện có 22 HTX nơng nghiệp. Nhìn

chung, các HTX điều hoạt động ổn định và đa số dịch vụ có lãi. Hiện nay các

HTX vẫn đang trong quá trình thực hiện đăng kí chuyển đổi hoạt động theo

Luật HTX năm 2012. Trong đó có 22/22 HTX NN tổ chức kinh doanh dịch vụ

thủy lợi; 7/22 HTX NN tổ chức kinh doanh dịch vụ khuyến nông; 5/22 HTX

NN tổ chức liên kết sản xuất lúa giống;… Các HTX đã làm tốt một số khâu

cho xã viên như thủy lợi, bảo vệ đồng, bảo vệ thực vật, cũng cố giao thông

nội đồng như: HTX nông lâm nghiệp Nghĩa Sơn, HTX nông nghiệp Bắc

Phương, HTX dịch vụ khai thác hải sản xa bờ, HTX nơng nghiệp Tây Hiệp,…

Đến năm 2015 đã có 6 HTX NN đã tiến hành liên doanh liên kết đầu tư

mua máy gặt đập liên hợp và máy làm đất. Ngoài việc nâng cao đời sống của

người dân huyện Tư Nghĩa thì mơ hình HTX còn giúp người dân tạo công ăn

việc làm, giúp ổn định cuộc sống và khuyến khích nhân dân học tập, nhân rộng.

b. Trang trại

Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất rất quan trọng, là bước

tiền đề để thực hiện mục tiêu cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa nơng nghiệp nơng

thơn, hồn thành các mục tiêu về xây dựng nông thôn mới. Tuy nhiên do điều

kiện về vốn nên việc thành lập trang trạng bước đầu còn nhiều khó khăn, đa

phần các trang trại theo mơ hình kinh tế vườn, kinh tế trang trại nhỏ lẻ.



53



Số lượng trang trại gia tăng qua các năm. Năm 2011 địa bàn huyện Tư

Nghĩa có 6 trang trại đến nay năm 2015 trên địa bàn huyện đã có 13 trang trại

đang hoạt động, sản xuất, chủ yếu tập trung ở các xã cánh Tây như: Nghĩa

Điền, Nghĩa Kỳ, Nghĩa Thuận, Nghĩa Thắng, Nghĩa Lâm. Các trang trại này

đầu tư theo mơ hình chăn ni heo, gà, rắn và trồng nấm dược liệu. Bên cạnh

đó, các hộ gia đình và cá nhân cũng đã thành lập được 107 gia trại sản xuất

chăn nuôi với doanh thu hơn 100 triệu đồng/gia trại/năm.

Tuy nhiên, các trang trại chưa có quy hoạch bài bản, chủ yếu là trang trại

nuôi heo gia cơng cho các cơng ty nước ngồi. Trong q trình hoạt động, các

trang trại gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn vay để đầu tư, chưa xử

lý triệt để chất thải của gia súc nên chưa đảm bảo môi trường xung quanh,

nhất là vấn đề làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng như

quy trình thủ tục cho cho th đất còn nhiều bất cập vướng mắc, dẫn đến việc

không thể vay thêm vốn từ ngân hàng để phát triển quy mô của trang trại; quy

trình cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại chưa được quan tâm đẩy mạnh

Ngoài ra, các chủ trang trại chưa có kế hoạch phát triển sản xuất lâu dài, chưa

qua các lớp đào tạo về quản lý kỹ thuật và sản xuất kinh doanh, chưa tổ chức

hạch toán kinh doanh rõ ràng. Tất cả những nguyên nhân trên đã làm cho mơ

hình kinh tế trang trại chưa có điều kiện để phát triển, mở rộng, dẫn đến hiệu

quả kinh tế chưa mang lại như kỳ vọng.

Nhìn chung kinh tế trang trại đang có xu hướng phát triển nhanh về số

lượng, quy mô và giá trị sản phẩm hàng hóa, góp phần tích cực chuyển đổi cơ

cấu cây trồng, vật ni, từng bước hình thành mơ hình SXNN hàng hóa, gắn

với thị trường tiêu thụ. Hiện nay, tổng số vốn của các doanh nghiệp đã đầu tư

trang trại trên địa bàn huyện trên 20 tỷ đồng, ước tính doanh thu một năm hơn

95 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 120 lao động tại địa phương.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 2.3 Cơ cấu GTSX của huyện Tư Nghĩa qua các năm (Theo giá hiện hành)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×