Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
thời gian 2012 - 2015

thời gian 2012 - 2015

Tải bản đầy đủ - 0trang

62



thủy sản, nông sản,… hay được bồi thường đất đai song lại chưa biết sử dụng

đầu tư sản xuât mà chủ yếu mua sắm tiêu dùng. Trong khi đó, đầu tư của nước

ngồi hầu như khơng đáng kể do những khó khăn về kết cấu hạ tầng, rủi ro

cao của lĩnh vực đặc thù này. Còn các chương trình dự án của Nhà nước tuy

khá nhiều, số vốn đầu tư khơng ít song hiệu quả lại rất thấp. Tóm lại, vấn đề

vốn đang là một sức ép không nhỏ đối với nông dân, nông nghiệp và nông

thôn nước ta [42].

Với huyện Tư nghĩa các nguồn vốn vay hỗ trợ phát triển nơng nghiệp

chủ yếu từ Ngân hàng Chính sách xã hội huyện và Ngân hàng Nông nghiệp

và phát triển nông thôn huyện. Vốn ngân sách phục vụ thực hiện các mơ hình

sản xuất hiệu quả, chương trình chuyển giao cơng nghệ, đào tạo nghề nông

thôn, công tác thiên tai ,chống hạn hán,…,công tác và ngăn ngừa dịch bệnh,

cải tạo giống vật ni (bò , heo)… nên đã góp phần quan trọng vào phát triển

ngành nông nghiệp.

d. Công nghệ sản xuất nơng nghiệp

Trong thực tế nhiều nơng dân đã nói rằng vốn thiếu họ có thể khắc phục

được nhưng khó khăn về công nghệ kỹ thuật sản xuất và quản lý thì họ trơng

chờ vào sự giúp đỡ của chính quyền.

Phát triển NN cần phải đi đôi với phát triển khoa học, công nghệ với sản

xuất; ứng dụng nhanh các thành tựu của khoa học và kỹ thuật vào sản xuất

nông, lâm, thủy sản.

- Hệ thống cơ sở dịch vụ kỹ thuật giống cây trồng vật nuôi: làm nhiệm

vụ chọn lọc và cung cấp dịch vụ chuyển giao giống cho người dân và sơ sở

sản xuất. Hệ thống này có các cơ sở:



63



+ Trạm khuyến nông: hệ thống tổ chức từ tỉnh (trung tâm khuyến nông),

xuống các huyện (trạm khuyến nông), và dưới các xã có các khuyến nơng

viên. Họ có nhiệm vụ chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho nông dân.

+ Trạm ứng dụng khoa học kỹ thuật: tiến hành nghiên cứu thực nghiệm

và cung cấp dịch vụ về giống

+ Bên cạnh đó còn có cơng ty, doanh nghiệp dịch vụ giống cây trồng

hoạt động ươm giống và nhân giống.

- Hệ thống dịch vụ thú y và bảo vệ thực vật: gồm trạm thú y và trạm bảo

vệ thực vật huyện. Hệ thống này có nhiệm vụ phòng chống bệnh dịch trong

nơng nghiệp.

2.2.4. Tình hình liên kết trong nơng nghiệp

- Kinh tế hộ, chưa liên kết giữa các nông hộ với nhau để hình thành các

tổ hợp tác, tăng năng lực sản xuất. Các nông sản do nông hộ sản xuất đã có

doanh nghiệp thu mua nhưng chưa cam kết bao tiêu ổn định theo hợp đồng

nên đầu ra thiếu ổn định.

- Kinh tế trang trại vẫn còn hạn chế, chưa có sự liên kết chặt chẽ với các

doanh nghiệp cũng như các hộ nơng dân trong q trình sản xuất nơng sản

hàng hóa.

- Tổ hợp tác, cơ sở HTX trong nơng nghiệp rất ít nên khơng có sự hỗ trợ

liên kết với nông dân mở rộng sản xuất nông sản cũng như chưa mang lại hiệu

quả cao. HTX dịch vụ nông nghiệp chủ yếu trong sản xuất cho nông dân như:

tưới, tiêu nước, cung ứng thuốc bảo vệ thực vật, thú y, khuyến nông. Nhiều

HTX đã nổ lực phát triển mở rộng đa dạng các dịch vụ như hỗ trợ phát triển

ngành nghề, cung cấp nước sinh hoạt, vệ sinh môi trường, bảo quản nông sản,

từng bước khẳng định vai trò. Tuy nhiên, trên thực tế chuyển biến của các

HTX còn chậm và chưa đồng đều: thiếu vốn, chậm đổi mới, năng lực nội tại



64



và quản lý điều hành còn yếu, chưa đáp ứng được với yêu cầu phát triển kinh

tế hàng hóa.

Nhìn chung, trong nơng nghiệp ở huyện chưa hình thành các mơ hình

liên kết, những liên kết này chưa chặt chẽ và kém hiệu quả trên tất cả các

khâu. Những mặt hạn chế này xuất phát từ nhiều nguyên nhân thuộc các

doanh nghiệp, hộ nông dân chưa đủ năng lực thực hiện ở các khâu của quá

trình sản xuất kinh doanh.

2.2.5. Thực trạng thâm canh trong SXNN

Trong những năm qua, tình hình thâm canh trong SXNN của huyện đã

từng bước được cải thiện nên đã góp phần đưa năng suất và sản lượng các loại

cây trồng tăng lên. Tuy nhiên chỉ có cây lúa, cây sắn và rau các loại là có mức

tăng tương đối còn các loại cây khác năng suất tăng lên đáng kể.

Những năm gần đây, do điều kiện giao thông nông thôn và giao thơng

nội đồng có nhiều tiến bộ nên đã tiến hành cơ giới hóa một số khâu làm đất,

thu hoạch nên năng suất cây trồng tăng nhưng ở một số khâu gieo cấy, phơi,

… chủ yếu vẫn là lao động thủ công.

Về giống cây, chuyển giao nhiều giống cây rau màu mới cho người dân,

chuyển giao mơ nhiều mơ hình canh tác giống lúa cho năng suất chất lượng

cao góp phần không nhỏ đưa năng suất lúa của huyện tăng lên qua từng năm.

Về giống gia súc, huyện đã triển khai mơ hình “Ni thâm canh bò lai

chun thịt” tại xã Nghĩa Điền. Mơ hình giúp người chăn ni hiểu rõ hơn về

kĩ thuật nuôi thâm canh và vỗ béo bò thịt mạnh dạn đầu tư con giống tốt cộng

với khẩu phần thức ăn đầy chất và lượng để rút ngắn thời gian ni góp phần

tích cực tăng sản lượng và chất lượng thịt bò cho xã hội, đồng thời nâng cao

thu nhập cho gia đình.

Trồng thâm canh lai keo mô được triển khai ở xã Nghĩa Lâm với quy mơ

5 ha có 2 hộ tham gia.



65



Nhờ áp dụng những biện pháp thâm canh mà năng suất một số cây trồng

tại huyện Tư Nghĩa tăng lên. Tuy nhiên so với mức bình qn tồn tỉnh vẫn

còn khá khiêm tốn. Cụ thể một số cây trồng chính của huyện Tư Nghĩa trong

thời gian 2011 – 2015 thể hiện qua bảng 2.10

Bảng 2.10 Năng suất của các cây trồng chủ yếu của huyện Tư Nghĩa

ĐVT: tạ/ha

Chỉ tiêu

2011

2012

2013

2014

2015

Lúa

60,7

61,4

61,8

64,4

64,1

Ngơ

59

58,1

56,9

59,8

60,4

Sắn

180,6

240

265,8

274

322

Mía

540

580

451,9

584,4

585,2

Đậu tương

18,9

18,6

19,1

18,6

18,7

Lạc

16,2

16,7

17,7

18

19,6

Đậu các loại

17

16,4

15,6

16,4

16,7

Rau

136

152

162,2

184,4

188,3

(Nguồn niên giám thống kê huyện Tư Nghĩa)

Nhìn chung năng suất lúa, sắn, mía đều tăng nhưng do ảnh hưởng của

điều kiện thời tiết diễn biến thất thường những năm gần đây cũng ảnh hưởng

lớn đến năng suất cây trồng.

Vấn đề về thâm canh trong NN của huyện Tư Nghĩa đã có những bước

chuyển biến tích cực, rất đáng khích lệ. Tuy nhiên vẫn còn rất nhiều mặt hạn

chế có thể kể đến như: SXNN vẫn chủ yếu theo hướng nhỏ lẻ, tự cung tự cấp,

đầu ra không ổn định; việc đầu tư khoa học kỹ thuật, cơ giới hóa vào các khâu

của q trình SXNN vẫn còn khá thấp; năng suất cây trồng con giống vẫn còn

rất hạn chế. Việc nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi cần được chú trọng

nhằm mang lại hiệu quả cao hơn trong SXNN của địa phương trong những

năm tới.

2.2.6. Kết quả SXNN trong những năm qua

a. Kết quả SXNN đạt được qua các năm



66



Nhìn vào bảng 2.11 có thể thấy được rằng GTSX nơng nghiệp thời gian

này đã giảm đi rất nhiều. Thời gian năm 2013 – 2014 tốc độ tăng trưởng âm,

đồng nghĩa với sự sụt giảm GTSX của huyện. Tuy nhiên đến thời gian 2014 –

2015 tốc độ tăng trưởng dương trở lại. Điều này cho thấy sự bất ổn trong kết

quả SXNN huyện Tư Nghĩa thời gian 2011 – 2015. Nguyên nhân kéo theo

tăng trưởng âm là do thực hiện theo Nghị quyết 123/NQ-CP về việc điều

chỉnh địa giới hành chính huyện Sơn Tịnh, huyện Tư Nghĩa để mở rộng địa

giới hành chính thành phố Quảng Ngãi và thành lập phường Trương Quang

Trọng thuộc thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi, do đó huyện Tư Nghĩa

phải bàn giao 3 xã ven biển của huyện Tư Nghĩa cho Thành phố Quảng Ngãi

quản lý khiến cho huyện mất đi một nguồn GTSX về thủy sản rất lớn. Năm

2013 tổng GTSX nông nghiệp 4.364.756 triệu đồng giảm còn 1.859.074 triệu

đồng vào năm 2015.



67



Bảng 2.11 Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp thời gian 2011-2015( theo

giá hiện hành)

Năm

Nông nghiệp



2011

1.358.97

4



- Trồng trọt



583.736



- Chăn nuôi



722.818



Lâm nghiệp



20.578

1.914.47



Thủy sản

Tổng



8

3.294.03



2012

1.672.814

720.131,8

0

806.356,9

0

14.056

2.137.993



8

703.696



683.180



710.667



706.414



863.872



969.127



9.895

2.822.54



10.694



15.637



28.584



31.055



3

4.364.75



1.709.70



1.859.074

6

3

(Nguồn niên giám thống kê huyện Tư Nghĩa)

Kết quả sản xuất của từng ngành như sau:

0



3.824.863



2013

1.532.31



ĐVT: triệu đồng

2014

2015

1.670.42

1.812.382

5



a. Nông nghiệp

* Trồng trọt

Sản lượng cây trồng không ổn định qua các năm trong thời gian 2011 –

2015. Các loại cây trồng chính gồm có:

+ Cây lương thực có hạt: lúa, ngơ

+ Cây chất bột: sắn,

+ Cây thực phẩm: rau các loại,đậu tương

+ Cây cơng nghiệp:lạc, mía, đậu các loại.

GTSX ngành trồng trọt (theo giá hiện hành) năm 2011 là 583.736 triệu

đồng đến năm 2015 là 710.667 triệu đồng.



68



Bảng 2.12 Diện tích gieo trong 1 số cây trong chính hằng năm thời

gian 2011 - 2015

Chỉ tiêu

1. cây lương thực

lúa

ngơ

2. cây có bột

sắn

3. cây thực phẩm

rau các loai

đậu tuong

4. cây cơng nghiệp

lạc

mía

đậu các loại



2011

9701

8.455

1.246



2012

9.856,5

8554,45

1302



2013

9.871,7

8557,87

1313,81



2014

9267,6

8.145

1.122,6



ĐVT: ha

2015

9254,7

8.140

1.114,5



1250



1.255,0



1.250,0



1249,4



1258,2



1892

23



1.856

13,0



1.887

13,9



1244,9

12,5



1278,1

9



605,5

520

103



669,0

686,0

596,71

604,55

535,9

520,0

449,8

434,5

283,0

275,0

247,9

216,4

(Nguồn niên giám thống kê huyện Tư Nghĩa)

Bảng 2.13 Sản lượng một số cây trồng chính hằng năm

thời gian 2011 - 2015



Chỉ tiêu

1. cây lương thực

lúa

ngơ

2. cây có bột

sắn

3. cây thực phẩm

rau các loai

đậu tương

đậu các loại

4. cây cơng nghiệp

lạc

mía



ĐVT: tấn

2014

2015

59177

58882

52.468

52.146

6.708,9 6.735,7



2011

58.651

51294

7357



2012

60.079

52.516

7.563



2013

60.353

52.880

7.473



22.575,0



30.120,0



33.221,0



34233



40514



25.729

43,4

175,0



29.537

24,2

451,4



30.609

26,5

429,4



22954

23,282

406,56



24071

16,86

361,16



980,0

28.080



1.113,9

1.211,4

1072,2

1186,4

31.081,7 23.496,3

26287

25427

(Nguồn niên giám thống kê huyện Tư Nghĩa)



69



Bảng 2.14 Năng suất 1 số cây trồng chính hằng năm thời gian 2011 - 2015

Chỉ tiêu

1. cây lương thực

lúa

ngơ

2. cây có bột

sắn

3. cây thực phẩm

rau các loai

đậu tuong

đậu các loại

4. cây cơng nghiệp

lạc

mía



2011



2012



2013



ĐVT: tạ/ha

2014

2015



60,67

59,04



61,39

58,09



61,79

56,88



64,42

59,76



64,06

60,43



180,60



240,00



265,76



274,00



322,00



135,99

18,87

16,99



159,14

18,58

15,95



162,19

19,07

15,62



184,38

18,63

16,40



188,33

18,73

16,69



16,18

540,00



16,65

579,99



17,66

451,86



17,97

584,40



19,62

585,20



(Nguồn niên giám thống kê huyện Tư Nghĩa)



Từ bảng 2.12, 2.13, 2.14 ta rút ra nhận xét 1 về một số loại cây trồng

chính của huyện Tư Nghĩa như sau:

- Cây lương thực có hạt có diện tích gieo trồng giảm dần nhưng năng

suất lại tăng dần qua các năm, tuy nhiên mức tăng vẫn còn hạn chế.

+ Cây lúa: Trong năm 2011 tổng diện tích gieo trồng lúa của huyện là

9.701 ha; năng suất 60,67 tạ/ha; sản lượng là 51.294 tấn; đến năm 2015 tổng

diện tích gieo trồng lúa của huyện giảm còn 8.140 ha trong đó diện tích lúa

đơng xn 4.100 ha, diện tích lúa hè thu hơn 4.000 ha; năng suất tăng lên đến

64,06 tạ/ha, sản lượng tăng lên đến 52.146 tấn. Nhờ tập trung cải tạo giống

lúa, đưa các giống lúa có năng suất và chất lượng cao vào sản xuất trên diện

rộng để cải thiện chất lượng lúa gạo đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nhân

dân trong huyện, giảm giống lúa chất lượng kém xuống dưới 15%, tăng một số

giống có chất lượng cao như: VTNA2, OM4900, OM6976, KDĐB, Thiên Ưu

8…. Đồng thời áp dụng tiến bộ kỹ thuật, quy trình thâm canh sản xuất lúa, áp

dụng chương trình 3 giảm 3 tăng, đưa nhanh cơ giới hóa vào sản xuất, giảm



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

thời gian 2012 - 2015

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×