Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
thời gian 2011 – 2015

thời gian 2011 – 2015

Tải bản đầy đủ - 0trang

69



Bảng 2.14 Năng suất 1 số cây trồng chính hằng năm thời gian 2011 - 2015

Chỉ tiêu

1. cây lương thực

lúa

ngô

2. cây có bột

sắn

3. cây thực phẩm

rau các loai

đậu tuong

đậu các loại

4. cây cơng nghiệp

lạc

mía



2011



2012



2013



ĐVT: tạ/ha

2014

2015



60,67

59,04



61,39

58,09



61,79

56,88



64,42

59,76



64,06

60,43



180,60



240,00



265,76



274,00



322,00



135,99

18,87

16,99



159,14

18,58

15,95



162,19

19,07

15,62



184,38

18,63

16,40



188,33

18,73

16,69



16,18

540,00



16,65

579,99



17,66

451,86



17,97

584,40



19,62

585,20



(Nguồn niên giám thống kê huyện Tư Nghĩa)



Từ bảng 2.12, 2.13, 2.14 ta rút ra nhận xét 1 về một số loại cây trồng

chính của huyện Tư Nghĩa như sau:

- Cây lương thực có hạt có diện tích gieo trồng giảm dần nhưng năng

suất lại tăng dần qua các năm, tuy nhiên mức tăng vẫn còn hạn chế.

+ Cây lúa: Trong năm 2011 tổng diện tích gieo trồng lúa của huyện là

9.701 ha; năng suất 60,67 tạ/ha; sản lượng là 51.294 tấn; đến năm 2015 tổng

diện tích gieo trồng lúa của huyện giảm còn 8.140 ha trong đó diện tích lúa

đơng xn 4.100 ha, diện tích lúa hè thu hơn 4.000 ha; năng suất tăng lên đến

64,06 tạ/ha, sản lượng tăng lên đến 52.146 tấn. Nhờ tập trung cải tạo giống

lúa, đưa các giống lúa có năng suất và chất lượng cao vào sản xuất trên diện

rộng để cải thiện chất lượng lúa gạo đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nhân

dân trong huyện, giảm giống lúa chất lượng kém xuống dưới 15%, tăng một số

giống có chất lượng cao như: VTNA2, OM4900, OM6976, KDĐB, Thiên Ưu

8…. Đồng thời áp dụng tiến bộ kỹ thuật, quy trình thâm canh sản xuất lúa, áp

dụng chương trình 3 giảm 3 tăng, đưa nhanh cơ giới hóa vào sản xuất, giảm



70



chi phí, ơ nhiễm nguồn nước, giảm tổn thất sau thu hoạch, sử dụng có hiệu

quả các sản phẩm phụ (rơm, rạ, trấu...) góp phần tăng thu nhập cho nông dân

và giảm đáng kể ô nhiễm môi trường.

+ Cây ngơ: mặc dù năng suất cây ngơ có tăng từ 59,04 tạ/ha vào năm

2011 đến 60,43 tạ/ha vào năm 2015 nhưng diện tích gieo trồng và sản lượng

cây ngơ đã giảm đi. Năm 2015 thực hiện tập trung đầu tư thâm canh (đưa các

giống ngô lai vào sản xuất đại trà, thực hiện bón phân cân đối) để tăng năng

suất và sản lượng cây trồng trên một đơn vị diện tích. Đồng thời, triển khai

thực hiện phương án chuyển đổi một số diện tích đất lúa kém hiệu quả sang

trồng ngô. Khuyến cáo nông dân canh tác các giống Ngô lai mới cho năng suất,

chất lượng cao thay thế các giống cho năng suất, chất lượng thấp.

- Cây chất bột: diện tích gieo trồng hầu như khơng thay đổi vẫn giữ mức

1.250 ha, nhưng năng suất tăng lên rõ rệt từ 180,6 tạ/ha vào năm 2011 tăng

lên 322 tạ/ha vào năm 2015, sản lượng tăng gần như gấp đôi từ 22.575 tấn

năm 2011 tăng vượt đến 40514 tấn vào năm 2015. Nhờ vào triển khai các

giống cây có năng suất và hàm lượng tinh bột cao để dần thay thế những

giống cũ năng suất thấp. Sử dụng các giống như: NA1, SM2075-18,

KM140,...để dần thay thế các giống kém chất lượng và chưa đem lại hiệu quả

cao.

- Cây thực phẩm: diện tích gieo trồng đang có xu hướng giảm dần, năng

suất của cây rau các loại tăng nhưng sản lượng lại chỉ tăng ở cây đậu các loại.

Nhờ vào sự kết hợp trồng mỳ và đậu để giảm bớt xói mòn đất và cải thiện

dinh dưỡng đất khiến cây đậu các loại gia tăng từ 175 tấn vào năm 2011 đến

361,16 tấn vào năm 2015. Hiện tại Xây dựng một số vùng rau tập trung tại một

số xã có lợi thế điều kiện tự nhiên nhằm phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của

vùng, triển khai trồng các loại rau có giá trị, thực hiện quy trình sản xuất sạch,

bảo vệ môi trường. Trước mắt, xây dựng vùng sản xuất rau chuyên canh ở các



71



xã: Nghĩa Hiệp, Nghĩa Thương. Phát triển các HTX, tổ hợp tác tại các vùng rau

an toàn, liên kết các HTX tạo khối lượng sản phẩm lớn kết nối với các siêu thị,

chợ đầu mối…. Thu hút các doanh nghiệp đầu tư liên kết sản xuất rau củ quả

theo hướng VietGAP, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm liên kết theo chuỗi

giá trị trị từ sản xuất, đóng gói, bảo quản và tiêu thụ. Hỗ trợ đầu tư hạ tầng

phục vụ sản xuất rau, củ quả tại các vùng sản xuất tập trung, sản xuất theo quy

trình VietGAP; chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư liên kết sản

xuất theo chuỗi giá trị.

- Cây cơng nghiệp:

+ Cây mía: Mặc dù năng suất mía gia tăng qua các năm nhưng diện tích

gieo trồng và sản lượng mía ngày càng giảm từ 28.080 tấn vào năm 2011 còn

25.427 vào năm 2015.

+ Cây lạc: sản lượng và năng suất cây lạc điều tăng qua các năm. Năm

2011 năng suất 16,18 tạ/ha, sản lượng 980 tấn đã tăng năng suất lên 19,62

tạ/ha và sản lượng lên 1.186 tấn nhờ áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, quy trình

canh tác phù hợp, đưa các giống mới ( L23, L24, LDH 04, LDH 06…) vào sản

xuất để nâng cao năng suất, chất lượng đáp ứng nhu cầu thị trường và thị hiếu của

người tiêu dùng.

Nhìn chung cơ cấu cây trồng của huyện tập trung vào cây có chất bột và rau

các loại. Những loại cây này thường có năng suất ổn định, tuy nhiên doanh thu

mang lại thấp hơn so với các loại cây trồng khác, do đó thu nhập của người nơng

dân từ ngành trồng trọt vẫn còn khiêm tốn, chưa phát huy hết tiềm năng của

huyện.

* Chăn nuôi

Tỷ trọng ngành chăn nuôi năm 2015 chiếm 52% tổng GTSX tồn ngành

nơng nghiệp chiếm 52,13% GTSX nội bộ ngành nơng nghiệp. GTSX ngành



72



chăn ni (tính theo giá hiện hành) tăng từ 722.818 triệu đồng năm 2011 đến

năm 2015 là 969.127 triệu đồng.

Bảng 2.15 Thực trạng ngành chăn nuôi huyện Tư Nghĩa thời gian 20112015

ĐVT: Con

Gia cầm



Năm

2011

2012

2013

2014

2015



Trâu

4388

4842

5142

5032

5003



Đàn gia súc thời



Tổng đàn gia súc (con)



Heo

Tổng

(ngàn con)

23476

92419

121.544

641,83

24667

95654

126.233

658,9

26153

93308

124.694

675

22762

88664

117.338

620,4

23094

86729

116.702

640,9

(Nguồn niên giám thống kê huyện Tư Nghĩa)

gian 2011-2015 có chiều hướng tăng ở năm 2012 và



thời gian 2012-2015 lại có xu hướng giảm. Riêng đàn gia cầm thời gian 20112015 nhìn chung thì vẫn giữ ở mức ổn định thay đổi không đáng kể. Nguyên

nhân chủ yếu là trong thời gian 2011-2015, ảnh hưởng của dịch bệnh và giá

thức ăn chăn và giá con giống cao, giá sản phẩm thấp, người chăn ni khơng

có lãi nên tốc độ ngành chăn ni vẫn còn chưa phát huy được hết tiềm năng.

Huyện đã ập trung khai thác tiềm năng thế mạnh, phát triển chăn nuôi

thành ngành sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả

năng cạnh tranh cao, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế của huyện,

đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trên địa bàn huyện nói riêng và trên địa bàn tỉnh nói

chung. Đẩy mạnh cơ cấu lại ngành chăn nuôi theo hướng phát triển trang trại

tập trung, kỹ thuật cao, đồng bộ, theo chuỗi giá trị (từ giống, thức ăn, thú y...

đến giết mổ, tiêu thụ) gắn với thị trường. Chú trọng phát triển đàn bò, đàn lợn,

nâng cao chất lượng đàn gia cầm, tăng cường công tác kiểm dịch đối với gia

cầm, đặc biệt là thủy cầm. Hỗ trợ đưa các con giống lai cho năng suất, chất

lượng cao vào sản xuất (như bò lai Sind, lợn hướng siêu nạc, gà vịt siêu trứng,



73



siêu thịt...). Khuyến khích người dân phát triển ngành nghề đặc thù có thế

mạnh về kinh tế, có lợi thế của địa phương (phát triển chăn nuôi gà lông màu,

gà siêu thịt, siêu trứng an tồn sinh học, lợn, bò an tồn ...). Xây dựng các mơ

hình chăn ni an tồn sinh học, chăn nuôi công nghệ cao, chăn nuôi giống

mới ... làm cơ sở nhân rộng ra địa bàn tồn huyện.

b. Lâm nghiệp:

Tính riêng trong năm 2015 đã trồng được trên 180 ha rừng và chăm sóc

1.612,8 ha rừng. GTSX ngành lâm nghiệp thời gian 2011 – 2014 giảm mạnh

nhưng đến năm 2015 đang có xu hướng gia tăng.

Bảng 2.16 Sản phẩm chủ yếu của ngành lâm nghiệp

Chỉ tiêu

1- Trồng rừng, nuôi rừng

- Trồng rừng tập trung

- Trồng cây phân tán

- Chăm sóc rừng

- Khoanh nuôi tái sinh

2- Khai thác lâm sản

- Gỗ

- Củi

- Tre



ĐVT



2014



2015



Ha

"

"

"



150,0

62,5

1.698,5

254,3



151,2

29,0

1.612,8

186,6



M3

5.068,0

9.903,0

Ster

362,6

705,3

Ngàn cây

2,0

1,2

(Nguồn niên giám thống kê huyện Tư Nghĩa)



74



Bảng 2.17 GTSX ngành lâm nghiệp huyện Tư Nghĩa thời gian 2011 - 2015(

Theo giá hiện hành)

ĐVT: triệu đồng

Chỉ tiêu

2011

2012

2013

2014

2015

Lâm nghiệp

20.578 11.416 9.895 10.694 15.637

- Khai thác

13.726 6.562 4.828 5.322 10.924

- Trồng rừng, nuôi rừng

4.965 3.658 3.797 4.094

4.087

- Các sản phẩm lâm nghiệp khác

0

0

0

0

- Dịch vụ lâm nghiệp

1.888 1.196 1.270 1.277

627

(Nguồn niên giám thống kê huyện Tư Nghĩa)

Sản xuất lâm nghiệp của huyện vẫn còn nặng về khai thác, yếu về mặt

trồng rừng, trồng cây phân tán. Hiện nay trên địa bàn huyện chủng loại cây

trồng chủ yếu là cây mọc nhanh (keo lai) phục vụ cho nhu cầu nguyên liệu

giấy và bảo vệ mơi trường góp phần vào phát triển NN của huyện.

c. Thủy sản:

Với địa hình có nhiều sơng suối, ao hồ, lưu lượng nước mưa trong mùa

khá lớn lại thường xuyên xảy ra lụt, do đó các hoạt đồng nuôi trồng thủy sản

chủ yếu là nuôi trồng cá nước ngọt (cá trắm cỏ, mè hoa, chép, rô phi,…) với

quy mô nhỏ, tự phát, nuôi để cải thiện bữa ăn gia đình, cung cấp một phần

thực phẩm tại chỗ chưa hình thành sản phẩm hàng hóa.

Bảng 2.18 GTSX ngành thủy sản huyện Tư Nghĩa thời gian 2011 2015( Theo giá hiện hành)

Chỉ tiêu

Thuỷ sản



2011

1.914.47

8

1.884.83



2012



2013



ĐVT: triệu đồng

2014

2015



2.482.970 2.822.543 28.728



31.055



2.419.715 2.771.997 974

1.106

0

29.649 63.255 50.546 27.755 29.949

(Nguồn niên giám thống kê huyện Tư Nghĩa)

Thời gian 2011 – 2015 GTSX ngành thủy sản giảm mạnh. Năm 2015



- Khai thác

- Ni trồng



tổng diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản trên địa bàn huyện là 130 ha



75



(chưa kể nuôi trong hồ thủy lợi), tổng GTSX 31.055 triệu đồng (chủ yếu là

giá trị từ sản lượng ni trồng thủy sản). Đến năm 2015 tình hình nuôi trồng

thủy sản thuận lợi, sản lượng khai thác tăng so với năm 2014; đặc biệt, năng

suất và giá bán tơm ni cao hơn các năm trước, người ni có lãi. Tuy vậy,

tình trạng tơm bị bệnh và chết do virut đốm trắng và môi trường nước bị ô

nhiễm vẫn còn xảy ra đã gây thiệt hại cho người ni tơm. Đối với tình hình

ni trồng thủy sản nước lợ gặp nhiều khó khăn hơn do chi phí cải tạo ao hồ,

dịch bệnh vẫn tiềm ẩn diễn ra nên xảy ra tâm lí lo sợ khiến nhiều hộ bỏ hoặc

chần chừ trong việc nuôi thủy sản nước lợ.

d.. Thực trạng đóng góp của ngành nơng nghiệp với nền kinh tế

huyện Tư Nghĩa

Nông nghiêp chung cấp lương thực, nguyên liệu, thị trường và lao động

cho các ngành kinh tế, góp phần xây dựng nông thôn mới. SXNN đã giải

quyết việc làm cho phần lớn lao động nông thôn và nâng cao mức cho nhân

dân. Tư Nghĩa xác định phát triển nông nghiệp là nhiệm vụ quan trọng vừa

mang tính chiến lược lâu dài, vừa bảo đảm giảm nghèo nhanh, bền vững

Hình thức thay đổi phương thức, tập quán canh tác, chuyển đổi cơ cấu

cây trồng, vật nuôi, ứng dụng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào trong sản

xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao

Ngồi duy trì và mạnh dạn phát triển thêm đàn vật ni hiện có; chăn

ni giống mới, hướng nạc tăng trưởng nhanh về trọng lượng; mơ hình dùng

chế phẩm sinh học trong chăn ni heo được thực hiện tại Thị trấn Sông Vệ,

đây là mô hình chăn ni có hiệu quả, heo tăng trưởng nhanh, đảm bảo vệ

sinh mơi trường; mơ hình 3 giảm 3 tăng áp dụng cho giống lúa VN121 với

quy mô 20ha ở HTX Châu Phú Điền giúp người dân tiết kiệm được chi phí

sản xuất; mơ hình trình diễn giống mỳ mới NA1 nhằm giúp người dân tăng

thêm thu nhập, thay thế giống mỳ đã bị nhiễm bệnh trước đó; mơ hình trồng



76



rừng thâm canh keo lai mơ ở xã Nghĩa Thuận hiện nay đang sinh trưởng và

phát triển tốt đáp ứng được yêu cầu của thị trường, tăng hiệu quả kinh tế trong

sản xuất, nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống cho người dân.

Với đặc thù là xã thuần nông, phần lớn người dân sống dựa vào SXNN

nên khả năng tài chính của hầu hết mọi người dân còn hạn chế

Chính vì thế, u cầu cấp thiết là phải làm sao nâng cao năng suất, thu

nhập cho người làm nơng nghiệp. Có thể nói, cơng tác xóa nghèo và vươn lên

làm giàu là hết sức khó khăn, nhất là chỉ dựa vào chăn nuôi và trồng trọt ở

quy mô nhỏ. Tuy nhiên thời gian qua, các địa phương ở huyện Tư Nghĩa đã

mạnh dạn đầu tư cây, con giống mới từng bước đem lại hiệu quả trong sản

xuất.

Không những đầu tư vào chăn ni, nhiều hộ dân còn kết hợp thêm việc

buôn bán thức ăn gia súc. Với kinh nghiệm trong sản xuất là ni con gì, cho

ăn gì giúp mau lớn, mang lại năng suất, hiệu quả kinh tế cao. Cùng với đó,

hiện nay, nhiều cá nhân ở trong và ngoài địa phương đang tiến hành các thủ

tục để xây dựng các trang trại có quy mơ lớn để chăn ni, nâng cao thu nhập

cho chính gia đình mình và tạo việc làm cho nhiều nơng dân ở địa phương.

Có thể nói, với tinh thần hăng hái thi đua sản xuất kinh doanh để phát

triển kinh tế, tạo nhiều việc làm tại chỗ, cùng với chính sách ưu đãi của nhà

nước đã tạo điều kiện giúp đỡ các gia đình chính sách, những hộ nghèo gặp

khó khăn về vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất, tạo điều kiện vươn lên thoát

nghèo bền vững.

Tổng GTSX trong năm 2015 ước thực hiện 6.946 tỷ đồng, tốc độ tăng

GTSX 15,1%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng định hướng. Cụm Công

nghiệp La Hà đã được các doanh nghiệp đầu tư lấp đầy tồn bộ diện tích với

13 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh, sử dụng hơn 2.800 lao



77



động, nộp ngân sách khoảng 8 tỷ đồng. Hiện nay, huyện đang lập thủ tục để

quy hoạch Cụm cơng nghiệp Gò Su ở xã Nghĩa Thắng với quy mơ 5ha.

Diện tích gieo trồng cây lúa cả năm đạt 8.140 ha, năng suất bình quân

64,06 tạ/ha, sản lượng 52.146 tấn. Các loại cây trồng khác đều thực hiện đảm

bảo theo kế hoạch, như: cây sắn 1.258 ha, sản lượng 40.514 tấn; đậu các loại

216 ha, sản lượng 361,16 tấn; rau các loại 1.278 ha, sản lượng 24.071 tấn.

Riêng cây mía, diện tích và năng suất tiếp tục giảm so với các năm trước do

giá thu mua của nhà máy đường thấp nên người trồng mía ít chú trọng đầu tư

thâm canh hoặc chuyển qua cây trồng khác có giá trị kinh tế cao hơn.

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện ước thực hiện hơn 89 tỷ

đồng, vượt 84,5% so với tỉnh giao và vượt 6,2% so với Nghị quyết HĐND

huyện. Tổ chức công bố quy hoạch chung thị trấn La Hà với diện tích 465,68

ha và thị trấn Sơng Vệ với diện tích 264 ha.

Thu nhập bình qn đầu người từ SXNN tăng dần, năm 2011 là 14,2

triệu đồng/người/năm tăng lên 20,9 triệu đồng/người/năm, cao gấp 1,47 lần so

với năm 2011. Một số hộ nơng dân khơng có tay nghề, trinh độ sản xuất kém,

điều kiện lại kinh tế khó khăn lại có sự ỷ lại nên đời sống còn gặp nhiều khó

khăn, mức sống thấp hơn so với các vùng nơng thơn khác.

Năm 2015 trên tồn bộ huyện có 34.500 hộ, thời gian 2010 – 2015 tỷ lệ

hộ nghèo có xu hướng giảm rõ rệt từ 12% vào năm 2011 xuống còn 5,29%

vào năm 2015. Thu nhập bình quân đầu người của người dân nông thôn cũng

chênh lệch khơng nhiều lắm so với thu nhập bình qn người dân tồn huyện

và đang có xu hướng tăng dần từ năm 2011 là 14,2 triệu đồng/người/năm đến

năm 2015 là 20,9 triệu đồng/người/năm, điều đó cho thấy rằng việc phát triển

kinh tế tương đối đồng điều trong toàn huyện Tư Nghĩa. Có thể nói rằng hiệu

quả kinh tế - xã hội của nền nông nghiệp huyện Tư Nghĩa đang dần tiến bộ

tích cực



78



e. Thực trạng đời sống của người dân huyện Tư Nghĩa

SXNN góp phần giải quyết việc làm, nâng cao mức sống cho nhân dân.

Tình hình hộ nghèo và thu nhập của nông dân được thể hiện qua bảng 2.19,

cụ thể như sau:

Bảng 2.19 Tỷ lệ hộ nghèo và thu nhập bình quân của người dân huyện Tư

Nghĩa qua các năm 2011 - 2015

Chỉ tiêu

2011

2012

2013

2014

2015



Tỷ lệ hộ nghèo

%

12

11

11

5,99

5,29



TNBQ người dân



TNBQ người dân



nơng thơn

Triệu đồng/ng/năm

14,2

16,3

17,5

19

20,9



tồn huyện

Triệu đồng/ng/năm

16,2

18,3

20,5

22,6

24,9



(Nguồn niên giám thống kê huyện Tư Nghĩa)



Thu nhập bình quân đầu người từ SXNN tăng dần, năm 2011 là 14,2

triệu đồng/người/năm tăng lên 20,9 triệu đồng/người/năm, cao gấp 1,47 lần so

với năm 2011. Một số hộ nơng dân khơng có tay nghề, trinh độ sản xuất kém,

điều kiện lại kinh tế khó khăn lại có sự ỷ lại nên đời sống còn gặp nhiều khó

khăn, mức sống thấp hơn so với các vùng nơng thơn khác.

Năm 2015 trên tồn bộ huyện có 34.500 hộ, thời gian 2010 – 2015 tỷ lệ

hộ nghèo có xu hướng giảm rõ rệt từ 12% vào năm 2011 xuống còn 5,29%

vào năm 2015trên tổng số hộ. Thu nhập bình quân đầu người của người dân

nông thôn cũng chênh lệch khơng nhiều lắm so với thu nhập bình qn người

dân tồn huyện và đang có xu hướng tăng dần từ năm 2011 là 14,2 triệu

đồng/người/năm đến năm 2015 là 20,9 triệu đồng/người/năm, điều đó cho

thấy rằng việc phát triển kinh tế tương đối đồng điều trong tồn huyện Tư

Nghĩa.

Có thể nói rằng hiệu quả kinh tế - xã hội của nền nông nghiệp huyện Tư

Nghĩa những năm qua chưa cao. Khi phân tích các nơi dung về tăng trưởng



79



NN, phát triển xã hội nông thôn cho thấy huyện Tư Nghĩa đạt mức thấp so với

trung bình cả tỉnh. Trong thời gian tới huyện cần tìm ra những giải pháp để

khắc phục những ha hạn chế và yếu kém trong quá trình phát triển NN của

huyện Tư Nghĩa.

2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ SXNN HUYỆN TƯ NGHĨA

2.3.1 Những thành công

Trong những năm qua, ngành nông nghiệp huyện Tư Nghĩa đã đạt được

nhiều thành tựu khá toàn diện, đồng thời thực hiện các mục tiêu về xây dựng

nông thôn mới, nền nông nghiệp của huyện Tư Nghĩa đã đạt được những

bước phát triển đáng kể:

- Số lượng cơ sở SXNN trong thời gian qua được gia tăng.

- Tốc độ tăng trưởng toàn ngành nông nghiệp khá cao và ổn định

- An ninh lương thực luôn được đảm bảo

- Thu nhập đời sống của dân cư nơng thơn ngày càng được cải thiện, góp

phần xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội của huyện.

- Công tác đổi mới nông nghiệp bước đầu đã hình thành được các vùng

sản xuất hàng hóa gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm.

- Chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp theo hướng phù hợp,

giảm dần tỷ trọng ngành trồng trọt, tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi. Cơ cấu cây

trồng con vật nuôi có chuyển biến tích cực, phù hợp với điều kiện sinh thái,

các cây trồng có hiệu quả kinh tế cao thấp được thay thế bởi dàn những cây

trồng hóa hóa có giá trị kinh tế cao.

- Các loại giống mới đã được đưa vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất,

chất lượng sản phẩm cây trồng vật nuôi. Chăn nuôi cũng có những bước phát

triển đáng kể, đặc biệt là chăn ni bò, heo.

- Bước đầu khai thác sử dụng có hiệu quả nguồn lực cho SXNN.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

thời gian 2011 – 2015

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×