Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP

Tải bản đầy đủ - 0trang

10



(chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón), sinh học (chọn lọc, lai tạo giống, nghiên cứu

các giống mới), mức độ cơ giới hóa cao và nơng nghiệp sinh thái hay nói cách

khác là nơng nghiệp bền vững. Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng cho mục đích

thương mại, làm hàng hóa bán ra trên thị trường hay xuất khẩu. Các hoạt động

trên trong SXNN chuyên sâu là sự cố gắng tìm mọi cách để có nguồn thu nhập

tài chính cao nhất từ ngũ cốc, các sản phẩm được chế biến từ ngũ cốc, vật nuôi,

lâm sản,…

Trồng trọt là ngành sử dụng đất đai với cây trồng làm đối tượng chính để

sản xuất ra lương thực, thực phẩm, tư liệu cho cây công nghiệp và thỏa mãn

các nhu cầu về vui chơi giải trí, tạo cảnh quan (hoa viên, cây kiểng, sân banh,

sân golf). Ngành nông học phân loại cây trồng theo nhiều cách hoặc là 1) dựa

trên phương pháp canh tác chia ra cây trồng nơng học (gồm các nhóm cây hạt

ngũ cốc, nhóm cây đậu cho hạt, nhóm cây cho sợi, nhóm cây lấy củ, nhóm

cây cơng nghiệp, nhóm cây đồng cỏ và thức ăn gia súc) hay cây trồng nghề

vườn (gồm các nhón rau, nhóm cây ăn trái, nhóm hoa kiểng, nhóm cây đồn

điền/cây cơng nghiệp); 2) dựa trên công dụng chia ra cây lương thực, cây

công nghiệp, cây ăn quả, cây rau và hoa, cây trồng làm thức ăn gia súc và cây

dược liệu; 3) dựa trên yêu cầu về điều kiện khí hậu chia ra cây ôn đới, cây á

nhiệt đới, cây nhiệt đới; hoặc 4) dựa trên thời gian của chu kỳ sinh trưởng

chia ra cây hàng năm, cây lâu năm.

Chăn nuôi là một trong hai ngành sản xuất chủ yếu của nông nghiệp

(thoe nghĩa hẹp), với đối tượng sản xuất là các loại động vật nuôi. Ngành

chăn nuôi cung cấp thực phẩm nhiều chất đạm như thịt, sữa, trứng; cung cấp

da, len, lông; sản phẩm phụ của chăn ni dùng làm phân bón ; đại gia súc

dùng làm sức kéo. Nguồn thức ăn cho chăn nuôi chủ yếu lấy từ ngành trồng

trọt. Ngành chăn nuôi ngày càng chiếm tỷ trọng cao so với ngành trồng trọt



11



trong cơ cấu ngành nơng nghiệp vì trong khẩu phần ăn của con người đang

ngày càng thay đổi.

Ngư nghiệp bao gồm đánh bắt và nuôi trồng thủy sản. Đánh bắt là hoạt

động có từ lâu đời của con người nhằm cung cấp thực phẩm cho mình thơng

qua các hình thức đánh bắt cá và các sinh vật thủy sinh khác; việc đánh bắt

phải kết hợp với hoạt động bảo vệ nguồn lợi thủy sản nhằm bảo vệ môi

trường và duy trì nguồn thủy sản đánh bắt trong tương lai. Ni trồng thủy

sản là hình thức canh tác thủy sản có kiểm sốt. Ni cá là hình thức cơ bản

của ni trồng thủy, trong đó có ni cá nước mặn, lợ và nước ngọt; ngồi ra,

còn có ni rong, ni tơm, ni sò, ni ngọc trai.

Lâm nghiệp là các hoạt động chăm sóc ni dưỡng và bảo vệ rừng; khai

thác, vận chuyển và chế biến các sản phẩm từ rừng; trồng cây, tái tạo rừng,

duy trì tác dụng phòng hộ nhiều mặt của rừng [40, tr.7]. Theo luật bảo vệ và

phát triển rừng của Việt Nam 2004, rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể

thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố mơi

trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần

chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên. Rừng gồm rừng trồng và rừng

tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng.

b. Phát triển nông nghiệp

Để hiểu rõ hơn quan niệm về phát triển nông nghiệp, chúng ta sẽ đi từ

các khái niệm liên quan đến phát triển

- Khái niệm về phát triển

Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về phát triển. Theo tác giả

Raanan Waitz (1995): “Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm tăng

trưởng mức sống của con người và phân phối bằng những thành quả tăng

trưởng trong xã hội”. Sự tồn tại và phát triển của một xã hội hôm nay là sự kế

thừa những di sản đã diễn ra trong quá khứ [36].



12



Theo từ điển Tiếng Việt: “Phát triển là sự lớn lên về mặt kích thước, độ

rộng (số lượng) hay về mặt giá trị, tầm quan trọng (chất lượng)” [31].

Phát triển trong sản xuất là quá trình tạo ra của cải vật chất và dịch vụ.

Trong đó, con người ln đấu tranh với thiên nhiên làm thay đổi những vật

chất sẵn có nhằm tạo ra lương thực, thực phẩm, quần áo, nhà ở và những của

cải khác phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của mình.

Phát triển cũng thường đi kèm với những thay đổi quan trọng trong cấu

trúc của nền kinh tế, hay nói cách khác là sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế và cơ

cấu lao động. Thông thường sự chuyển dịch theo hướng tiến bộ là phần đóng

góp của ngành công nghiệp và nông nghiệp đều tăng nhưng công nghiệp tăng

nhanh hơn, cơ cấu lao động cũng chuyển dịch theo hướng tăng lao động công

nghiệp và giảm dần lao động nông nghiệp, đồng thời tỷ lệ dân chúng sống

trong thành phố tăng nhiều hơn ở miền quê, tiêu biểu nhờ ngày càng có nhiều

người chuyển từ SXNN ở nơng thơn sang cơng việc được trả lương cao hơn

và có cơ sở ở thành thị, thường là trong sản xuất hay dịch vụ.

Như vậy, phát triển là một quá trình vận động đi lên. Trong giáo trình

Kinh tế phát triển cho rằng “phát triển cũng được lý giải như một quá trình

thay đổi theo hướng hồn thiện về mọi mặt của nền kinh tế như: kinh tế, xã

hội, môi trường và thể chế trong một thời gian nhất định” [7, tr. 47]. Hiện tại,

khái niệm phát triển được gắn liền với kinh tế và người sử dụng nó gần như

đồng nhất với phát triển kinh tế. Trong Giáo trình phát triển Nông thôn lại cho

rằng “phát triển kinh tế trước hết là sự gia tăng nhiều hơn về số lượng và

chất lượng sản phẩm, sự đa dạng về chủng loại sản phẩm của nền kinh tế.

Đồng thời, phát triển còn là sự thay đổi theo chiều hướng tích cực trên tất cả

các khía cạnh của nền kinh tế, xã hội. Đó là sự thay đổi về cơ cấu kinh tế theo

hướng tỷ trọng ngành nông nghiệp ngày càng giảm, tỷ trọng các ngành công

nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng. Môi trường kinh tế và xã hội , các khía



13



cạnh tổ chức và kỹ thuật ngày càng thuận lợi cho các tác nhân tham gia.

Khơng những vậy phát triển còn đảm bảo tăng khả năng thích ứng với hồn

cảnh mới của quốc gia, các ngành, các doanh nghiệp và của mọi người dân.

Sự phát triển sẽ đảm bảo nâng cao phúc lợi của người dân về kinh tế, văn

hóa, giáo dục, xã hội và sự tự do bình đẳng, sự phát triển đồng điều giữa các

vùng, giữa các dân tộc, các tầng lớp cư dân và sự bình đẳng trong phát triển

giữa nam và nữ” [20].

Tóm lại, phát triển kinh tế được khái quát qua bốn nội dung: Thứ nhất,

gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế, mức gia tăng thu nhập bình quân

đầu người; đây là nội dung thể hiện quá trình biến đổi về lượng của nền kinh

tế, là điều kiện cần để nâng cao mức sống vật chất của mọi người dân trong

một quốc gia và thực hiện các nội dung khác của phát triển. Thứ hai, chuyển

dịch cơ cấu kinh tế - xã hội theo hướng tiến bộ; đây là chỉ tiêu phản ánh sự

biến đổi về chất của nền kinh tế của một quốc gia. Đó là q trình chuyển

dịch cơ cấu kinh tế theo hướng cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo cơ sở cho

việc đạt được tiến bộ xã hội một cách sâu rộng. Thứ ba, gia tăng năng lực nội

sinh của nền kinh tế; đó là q trình sử dụng và tái đầu tư hợp lý để duy trì qui

mơ và chất lượng các nguồn lực nhằm đảm bảo tăng trưởng kinh tế ổn định và

liên tục, đồng thời nền kinh tế đó đủ khả năng vượt qua biển động của khủng

hoảng kinh tế, thị trường cũng như tác động của thiên tai. Thứ tư, nâng cao

chất lượng cuộc sống từ kết quả tăng trưởng, đó là kết quả của nâng cao thu

nhập đầu người, phân phối thu nhập công bằng, xóa bỏ nghèo đói, nâng cao

phúc lợi cho mọi người dân,…

- Khái niệm về phát triển nông nghiệp

Từ những khái niệm có liên quan có thể đi đến khái niệm về phát triển

nông nghiệp như sau: Phát triển nông nghiệp là một tổng thế các biện pháp

nhằm tăng sản lượng sản phẩm nông nghiệp để đáp ưng tốt hơn yêu cầu của



14



thị trường trên cơ sở khai thác của các nguồn lực trong nơng nghiệp một cách

hợp lí và từng bước nâng cao hiệu quả sản xuất.

1.1.2. Đặc điểm của SXNN

Với vai trò đặc biệt quan trọng của ngành nơng nghiệp đối với nền kinh

tế quốc dân, trong quá trình nghiên cứu về phát triển nông nghiệp cần nắm

vững những đặc điểm cơ bản của nó, bao gồm cả các đặc điểm chung và các

đặc điểm riêng của nền nông nghiệp Việt Nam

a. Đặc điểm chung của SXNN

Các đặc điểm chung của nền SXNN có thể kể đến bốn đặc điểm cơ bản,

đó là:

- SXNN diễn ra trên diện rộng và có tính vùng. SXNN được tiến hành

trên địa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang

tính khu vực rõ rệt. Ở mỗi quốc gia, mỗi vùng có điều kiện khí hậu, thời tiết,

lịch sử hình thành các loại đất, quá trình khai phá, sử dụng khác nhau thì hoạt

động nơng nghiệp sẽ khác nhau.

- Ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được. Ruộng

đất bị giới hạn về mặt diện tích nên con người khơng thể tăng thêm do ý

muốn chủ quan nhưng sức sản xuất của ruộng đất hiện nay chưa bị giới hạn.

Chính vì thế, trong quá trình sử dụng phải biết quý trọng đất, sử dụng đất tiết

kiệm, cải tạo, bồi dưỡng đất làm cho ruộng đất ngày càng màu mỡ hơn, nhất

là hạn chế và xem xét thật kỹ càng khi chuyển từ đất nơng nghiệp sang các

loại đất khác. Chính vì vậy vấn đề thâm canh sản xuất là hết sức quan trọng

- Đối tượng của SXNN là cây trồng, vật nuôi. Các loại cây trồng vật nuôi

phát triển theo quy luật sinh học nhất định (sinh trưởng, phát triển và diệt

vong). Chúng rất nhạy cảm với yếu tố ngoại cảnh, mọi sự thay đổi về điều

kiện thời tiết, khí hậu đều tác động trực tiếp đến sự phát triển của cây trồng,

vật nuôi, đến kết quả thu hoạch sản phẩm cuối cùng. Để chất lượng giống cây



15



trồng và vật nuôi tốt hơn, đòi hỏi phải thường xun chọn lọc các giống hiện

có chất lượng tốt hơn, tiến hành lai tạo để tọa ra những giống mới có năng

suất cao, chất lượng tốt thích hợp với điều kiện từng vùng và từng địa

phương.

- SXNN mang tính thời vụ cao. Đó là nét đặc thù và điển hình nhất của

SXNN. Vì quá trình SXNN là quá trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian hoạt

động và thời gian sản xuất xen kẽ vào nhau, song lại khơng hồn tồn trùng

hợp nhau, sinh ra tình thời vụ cao trong nơng nghiệp. Tính thời vụ khơng thể

xóa bỏ được mà là chỉ hạn chế nó. Do đó người nơng dân phải khai thác tốt

quy luật này để giảm chi phí sản xuất cũng như có các giải pháp tổ chức sản

xuất hợp lý để hạn chế được những khó khăn.

b. Đặc điểm riêng của nơng nghiệp Việt Nam

Ngoài những đặc điểm chung của SXNN nêu trên, nền nơng nghiệp nước

ta còn có những đặc điểm riêng cần lưu ý, đó là:

- Nền nơng nghiêp nước ta từ tình trạng lạc hậu tiến lên xây dựng nền

nơng nghiệp sản xuất hàng hóa theo định hướng XHCN khơng qua thời gian

phát triển TBCN. Điều này cho thấy xuất phát điểm của nền nông nghiệp

nước ta khi chuyển lên xây dựng, phát triển nền nơng nghiệp sản xuất hàng

hóa là rất thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Để đưa nền

kinh tế nông nghiệp nước ta phát triển lên trình độ sản xuất hàng hóa cao, cần

thiết phải bổ sung và hồn thiện chiến lược phát triển nông nghiệp và nông

thôn; khẩn trương xây dụng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho nông nghiệp và hệ

thống kết cấu hạ tầng ở nông thôn phù hợp; bổ sung, hoàn thiện và đổi mới hệ

thống chính sách kinh tế nơng nghiệp, nhằm tiếp tục giải phóng sức sản xuất,

tạo động lực thúc đẩy sản xuất phát triển hàng hóa; tăng cường đào tạo và bồi

dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học – kỹ thuật, đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế và

quản trị kinh doan trong nông nghiệp và nông thôn.



16



- Nền nông nghiệp nước ta là nền nơng nghiêp nhiệt đới, có pha trộn

tính chất ơn đới. Đặc điểm này mang lại cho nông nghiệp nước ta nhiều thuận

lợi cơ bản, đồng thời cũng có những khó khăn rất lớn trong q tình phát triển

SXNN. Trong q trình đưa nơng nghiệp nước ta lên sản xuất hàng hóa,

chúng ta tìm kiếm mọi cách để phát huy những thuận lợi và hạn chế những

khó khăn nhằm đảm bảo cho nông nghiệp phát triển nhanh chóng và vững

chắc.

1.1.3. Ý nghĩa của phát triển nơng nghiệp trong nền kinh tế quốc dân

a. Phát triển nông nghiệp có ý nghĩa rất lớn, đó là đóng góp về thị

trường.

Nông nghiệp phát triển sẽ cung cấp sản phẩm cho thị trường trong và

ngoài nước, sản phẩm tiêu dùng cho các khu vực khác nhau. SXNN cung ứng

hàng hóa xuất khẩu. Đóng góp về nhân tố diễn ra khi có sự chuyển dịch các

nguồn lực (lao động, vốn…) từ nông nghiệp sang khu vực khác đặc biệt là

khu vực công nghiệp để giải quyết việc làm phát triển nông thôn

b. Phát triển nơng nghiệp góp phần tăng trưởng nền kinh tế ổn định.

Làm tăng thu nhập của người dân ở nông thôn, kéo theo tiêu dùng. Làm

phát triển ngành công nghiệp tiêu dùng và chế biến, thương mại và dịch vụ

phát triển, qua đó làm tăng thu nhập GDP đầu người.

c. Phát triển nơng nghiệp góp phần xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an

ninh lương thực.

Phát triển nông nghiệp giúp giảm nghèo nhanh chóng ở khu vực nơng

thơn và cả thành thị. Vì phát triển nơng nghiệp làm tăng sản lượng lương

thực, thực phẩm và tăng thu nhập của người dân giải quyết việc làm cho lao

động ở nông thôn, từ đó sẽ có tác dụng giảm ngheo tuyệt đối do có đủ lương

thực tự túc và giảm nghèo tương đối do thu nhập khu vực nông thôn tăng lên.



17



Ngành trồng trọt chăn nuôi phát triển kéo theo ngành dịch vụ cung ứng

giống, phân bón, thuốc trừ sâu, chế biến nông sản đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm.

Tạo công ăn việc làm cho người nông dân, tăng thu nhập cho hộ gia đình

An ninh lương thực có thể đặt ở cấp độ gia đình, địa phương, quốc gia

hoặc tồn cầu. Đối với một quốc gia, an ninh lương thực là sản xuất đủ lương

thực trong nước; nếu không, phải nhập khẩu để đảm bảo cung ứng đủ nhu cầu

lương thực. Tăng trưởng nơng nghiệp ở cấp độ gia đình đảm bảo ln có sẵn

lương thực và có thừa để bán ra thị trường; ở cấp độ quốc gia giúp ổn định

nguồn cung, giảm nhập khẩu lương thực. Khi SXNN đạt đến dư thừa cho xuất

khẩu sẽ góp phần đảm bảo an ninh lương thực tồn cầu.

d. Phát triển nơng nghiệp góp phần phát triển nơng thơn.

Phát triển nơng nghiệp và phát triển nơng thơn có quan hệ khăng khít và

hữu cơ với nhau. Phát triển nơng nghiệp có điều kiện tích lũy để đầu tư phát

triển hạ tầng nơng thơn và cải thiện cuộc sống của dân cư tại nông thôn. Khi

nông thôn phát triển sẽ tạo điều kiện sử dụng hiệu quả các nguồn lực thúc đẩy

SXNN tăng trưởng.

Phát triển nông nghiệp được xem là nội lực để phát triển nơng thơn; vì phát

triển nơng nghiệp là tăng thu nhập, tăng tích lũy, nhờ đó tăng đầu tư cho xây

dựng và phát triển nơng thơn, q trình này sẽ cải thiện đời sống người dân, sống

bằng nông nghiệp giúp khai thác hiệu quả hơn các nguồn lực vốn có.

Phát triển nông thôn là chiến lược và các hoạt động nhằm cải thiện đời

sống kinh tế, xã hội, văn hóa của dân cư nông thôn. Phát triển nông thôn hỗ

trợ cho nông nghiệp phát triển, chất lượng đời sống của người dân nông thôn

ngày càng được nâng cao.



18



1.2. NỘI DUNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP

1.2.1. Gia tăng số lượng các cơ sở SXNN

Các cơ sở SXNN là những nơi kết hợp các yếu tố nguồn lực, trực tiếp

tham gia SXNN và dịch vụ nông nghiệp.

Gia tăng số lượng các cơ sở SXNN nghĩa là tăng số lượng và quy mô

của các hộ gia đình, các cá thể kinh doanh trang trại, tổ hợp tác, các HTX

nông nghiệp, doanh nghiệp kinh doanh nơng nghiệp... Nói cách khác là làm

tăng số lượng tuyệt đối các cơ sở SXNN; nhân rộng số lượng các cơ sở hiện

tại; làm cho các cơ sở SXNN phát triển lan tỏa sang những khu vực khác có

thể thơng qua đó mà phát triển thêm số cơ sở.

Nhờ phát triển số lượng các cơ sở SXNN sẽ làm cho ngành nông nghiệp

và các ngành kinh tế phát triển

a. Các cơ sở trong SXNN

Kinh tế nơng hộ là hình thức tổ chức phù hợp với nền nông nghiệp qui

mô nhỏ về đất đai, vốn và sử dụng lao động trong gia đình. Hình thức này gắn

người nơng dân với đất đai và phát huy tính tự chủ của họ trong SXNN; nhờ

vậy năng suất ruộng đất và năng suất lao động phải phát huy tối đa trong

SXNN. Khi nông nghiệp phát triển thì năng lực kinh tế nơng hộ và thu nhập

cao lên, khả năng tích lũy vốn lớn hơn… Nền nông nghiệp chuyển từ tự túc

sang sản xuất hàng hóa và phát triển cao hơn nữa thì mơ hình kinh tế nơng hộ

sẽ bộc lộ nhiều khuyết điểm đó là năng suất lao động thấp, chưa đáp ứng

những yêu cầu của những đơn hàng lớn, hiệu quả kinh tế khơng cao… từ đó

nơng nghiệp phải hình thành các cơ sở sản xuất như kinh tế trang trại, HTX,

doanh nghiệp nông nghiệp với số lượng lớn hơn để đáp ứng yêu cầu phát triển

Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất cở sở trong nông, lâm, thủy sản

với mục đích sản xuất chủ yếu là sản xuất hàng hóa, có qui mơ ruộng đất và

các yếu tố sản xuất đủ lớn, có trình độ kỹ thuật cao, tổ chức và quản lý tiên



19



tiến [26, tr.63]. Nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa phát triển,số lượng các

trang trại tăng lên (các trang trại trồng trọt, chăn nuôi, nông lâm kết hợp…).

Số lượng trang trại phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với thị trường

và qui mơ sử dụng đất đai, lao động, vốn ngày càng lớn, tỷ suất hàng hóa

nơng nghiệp ngày càng cao. Kinh tế trang trại được hình thành từ kinh tế nơng

hộ đủ năng lực sản xuất hàng hóa và trở thành hộ sản xuất giỏi, có khả năng

tích lũy về vốn để phát triển kinh tế thành trang trại. Ngồi ra, nơng nghiệp

thu hút các nguồn vốn từ các hộ dân cư khác ngoài khu vực nơng nghiệp có

khả năng kinh tế th đất hoặc tự mua đất thành lập các trang trại cao nhiều

hơn. Cùng với sự phát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn, sức cạnh tranh

cao, yêu cầu cung ứng các yếu tố đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra đòi hỏi

hoạt động sản xuất kinh doanh trang trại phải vươn tới thị trường trong nước

và ngoài nước.

Hợp tác xã nông nghiệp là dịch vụ đầu vào của sản xuất và đầu ra của

tiêu thụ nông sản. Đây là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình,

pháp nhân có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra nhằm

cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Trong tương lai, HTX trong nông nghiệp chỉ phù hợp với mơ hình làm đầu

mối cung ứng đầu vào về vật tư, dịch vụ kỹ thuật, bảo hiểm và tín dụng…

Doanh nghiệp nơng nghiệp gồm các doanh nghiệp nông nghiệp hoạt

động trên cơ sở liên kết từ khâu sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản.

Doanh nghiệp có thể th cơng nhân nơng nghiệp hoặc giao khoán đất đai,

cung cấp giống, kỹ thuật canh tác, chăn nuôi đến hộ nông dân và thu mua sản

phẩm từ các nông hộ theo giá thỏa thuận.

Cơ sở cung ứng dịch vụ kỹ thuật nông nghiệp là yếu tố rất quan trọng và

không thể thiếu trong SXNN. Đặc biệt là trong SXNN hiện nay, nông dân cần

nhiều các yếu tố như vốn, lao động, kỹ thuật, vật tư… để phục vụ sản xuất.



20



Bên cạnh đó nơng dân thường là những người có trình độ học vấn thấp, ít

được tiếp cận với khoa học kỹ thuật hiện đại, tiếp cận với thông tin thị trường

kém, ngại đổi mới trong phương thức làm ăn. Với nguồn vốn hạn chế, người

dân không đủ năng lực để cải tiến những phương thức sản xuất truyền thống

của mình. Do vậy việc hình thành các cơ sở cung cấp các yếu tố đầu vào cũng

như hỗ trợ các hoạt động sản xuất cho nông dân một cách đầy đủ, hợp lý và

kịp thời là rất cần thiết và là kết quả tất yếu.

Để gia tăng số lượng các cơ sở SXNN, các cơ quan quản lý nhà nước cần

khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư, các doanh nghiệp

tham gia đầu tư xây dựng các cơ sở SXNN, làm cho các cơ sở SXNN mới

được thành lập sớm đi vào hoạt động,

b. Tiêu chí về gia tăng số lượng cơ sở SXNN

- Số lượng các cơ sở sản xuất tăng lên qua các năm (tổng số và từng loại).

- Tốc độ tăng của các cơ sở SXNN qua các năm (tổng số và từng loại).

1.2.2. Chuyển dịch cơ cấu SXNN theo hướng hợp lý

Cơ cấu SXNN là thành phần tỷ trọng và mối quan hệ giữa các ngành và

tiểu ngành trong nội bộ ngành nông nghiệp.

Cơ cấu SXNN hợp lý là cơ cấu giữa các ngành của nông nghiệp mà các

thành phần của nó có tác dụng phát huy tốt các tiềm năng của sản xuất và đáp

ứng yêu cầu thị trường, xã hội.

Cơ cấu SXNN hợp lý còn thể hiện khả năng tận dụng nguồn lực hiện có,

tái sản xuất mở rộng, đạt được hiệu quả kinh tế cao. Tăng tỷ trọng chăn nuôi,

dịch vụ nông nghiệp, giảm tỷ trọng ngành trồng trọt. Đối với ngành trồng trọt

xu hướng chuyển dịch là giảm dần diện tích cây lương thực, tăng diện tích

cây ăn quả, cây rau, cây cơng nghiệp. Đối với ngành chăn nuôi, cơ cấu được

chuyển dịch theo hướng sử dụng các giống mới có năng suất, chất lượng;



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×