Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 2: Cơ cấu FDI ở tỉnh Gia Lai theo đối tác đầu tư giai đoạn 2010 – 2014

Hình 2: Cơ cấu FDI ở tỉnh Gia Lai theo đối tác đầu tư giai đoạn 2010 – 2014

Tải bản đầy đủ - 0trang

58

thời gian tới như xuất nhập khẩu, du lịch, phát triển thương mại biên giới,

khoa học kỹ thuật v.v...

Bên cạnh đó Gia Lai còn có khí hậu có nền nhiệt độ cao, thuận lợi cho

phát triển mạnh các loại cây công nghiệp dài ngày như cao su, điều, tiêu, cà

phê, cây ăn quả..., chăn nuôi gia súc, gia cầm, cung cấp cho các thành phố,

các khu công nghiệp lớn và phát triển công nghiệp chế biến đáp ứng nhu cầu

tiêu dùng trong tỉnh và xuất khẩu. Vậy nên các dự án kêu gọi đầu tư mới của

tỉnh đa số tập trung vào xây dựng các nhà mấy chế biến nông sản, thức ăn gia

súc, súc sản...Thể hiện cụ thể qua bảng số liệu sau:

Bảng 2.10: Danh mục các dự án kêu gọi đầu tư mới ở tỉnh Gia Lai đến

năm 2020



STT



Tên DA



Địa điểm Hình thức ĐT



Nguồn

vốn

(tỷ

đồng)



1

Nhà máy sản

xuất săm lốp ôtô



KCN Trà

Đa



Nhà máy chế

biến hoa quả



KCN

Pleiku, An

khê, Đăk

Đoa



Nhà máy chế

biến bột ngơ



KCN Trà

Đa, CCN

Ia Grai,

CCN Chư





2



3



Điều kiện



100% vốn nước

2,625

ngồi



76.500 ha

cây cao

su;70.000

tấn mủ khơ



100% vốn nước

100

ngồi



10.000 ha

vùng

ngun liệu

trên tồn

tỉnh



100% vốn nước

86

ngồi



Diện tích

tồn tỉnh

55.360ha,

SL 19.4230

tấn



59

4



100% vốn nước

65

ngồi



76.400 ha

cà phê, SL

14.000

tấn/năm



Nhà máy chế

KCN

biến dầu thực vật Pleiku



100% vốn nước

65

ngoài



1.720 ha

lạc,

SL1.640

tấn



Nhà máy chế

biến thức ăn gia

súc



100% vốn nước

56

ngồi



Nguồn

ngun liệu

sẵn có



100% vốn nước

40

ngồi



Nguồn

ngun

liệu: đàn bò

336.300

con, lợn

353.600

con, trâu

12.360 con



100% vốn nước

38

ngoài



Phục vụ

cho nhu cầu

phát triển

vùng



Nhà máy chế

biến cà phê hòa

tan



KCN

Pleiku,

CCN Chư





5



6



KCN cửa

khẩu Lệ

Thanh,



7



Nhà máy chế

biến súc sản



8



Nhà máy sản

xuất thuốc bảo

vệ thực vật



KCN Trà

Đa



KCN Trà

Đa



Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư Gia Lai

2.2.4. Thực trạng hỗ trợ phát triển đội ngũ lao động cho các KCN,

CCN

Nguồn nhân lực là nhân tố quan trọng hàng đầu trong quá trình sản xuất

kinh doanh.Vì vậy, việc đảm bảo đủ số lượng và nâng cao chất lượng nguồn

nhân lực là việc làm rất quan trọng trong các KCN, CCN.

Trong những năm qua, các KCN, CCN đã có tác động hết sức tích cực

đối với vấn đề sử dụng, giải quyết việc làm, làm tăng phúc lợi cho người lao

động. Nhờ có sự mở rộng quy mơ của các KCN, CCN nên số lượng lao động



60

tại các KCN, CCN tăng dần qua các năm. Nếu năm 2010 tổng số lao động

làm việc trong các KCN, CCN là 4044 người ( lao động nữ chiếm 50,84%) thì

đến năm 2011 con số này đã là 4564 người ( tăng 12,9%) và qua các năm tỷ lệ

này lại tiếp tục tăng. Năm 2012 tổng số lao động là 5349 người (tăng 17,1%).

Thể hiện cụ thể qua bảng số liệu sau:

Bảng 2.11: Số lượng lao động giai đoạn 2010 – 2014

STT



Năm



Số lao động (người)



Lao động nữ

(người)



Tỷ lệ (%)



1



2010



4044



2056



50,84



2



2011



4564



2568



56,26



3



2012



5349



3004



56,16



4



2013



6554



3807



58,08



5



2014



7032



4232



60,18



Nguồn: Ban quản lý KKT Gia Lai

Trong năm 2014 các KCN, CCN đã tạo ra một số lượng việc làm đáng

kể, đã thu hút được 7032 lao động vào làm việc, trong đó lao động nữ là 4232

người, chiếm 60,18%, so với năm 2010 thì số lao động đã tăng 2988 người

( tăng 14,83%) đây là tác động khá tích cực trong việc giải quyết việc làm cho

người lao động, đặc biệt là lao động nữ.

Tiền lương, tiền công của người lao động đã được các doanh nghiệp

quan tâm và chi trả kịp thời với mức lương bình quân là: 4.000.000

đồng/người/tháng, phần nào giúp người lao động trang trải cuộc sống trong

khi giá cả luôn biến động như hiện nay.

Việc thực hiện chế độ BHXH, BHTNg cho người lao động chưa được

các chủ doanh nghiệp thật sự chú trọng. Chế độ BHXH, BHTNg chủ yếu

được áp dụng đối với các nhân viên quản lý, kế toán, thủ quỹ. Phần lớn số lao

động trực tiếp tại KCN, CCN chỉ được ký hợp đồng ngắn hạn, thời vụ, do đó



61

người lao động khơng gắn bó lâu dài với doanh nghiệp. Đồng thời do các

doanh nghiệp chưa nhận thức đúng nghĩa vụ của mình và người lao động

chưa hiểu biết đầy đủ về quyền lợi của việc đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm

thất nghiệp nên khơng nhiệt tình tham gia. Một số doanh nghiệp thực hiện

tương đối tốt chế độ chính sách đối với người lao động, thực hiện tham gia

BHXH, BHTNg cho người lao động với tỷ lệ tương đối đạt đó là: CN Cơng ty

cổ phần kinh doanh khí hóa lỏng Miền Nam, Cơng ty TNHH Quốc Duy Gia

Lai, CN Công ty TNHH Olam Gia Lai (điều), Công ty TNHH Louis Dreyfus,

CN Công ty TNHH Olam tại Gia Lai (tiêu), CN Công ty TNHH TP Atlantic

VN tại GL, Công ty TNHH NLTT For – Gia Lai, Đức Minh, Công ty CP Bê

tông và Xây lắp điện….

Một số DN chưa quan tâm thỏa đáng đến chế độ chính sách cho người

lao động, tỷ lệ tham gia BHXH, BHTNg còn thấp như: DNTN Năm Hoa, Hải

Phong, Anh Khoa, Chí Thành, Mai Xuân Dung, Granite Hồng, Hiệp Lợi,

Nguyên Liệu Xanh, Cường Thịnh Phát, Xuân Tuyến, ga Hải Lưu, Công ty Cổ

phần giấy Gia Lai,…

Lực lượng lao động trong các KCN, CCN chủ yếu là lao động trẻ có độ

tuổi trung bình từ 18 đến 25, phần lớn là lao động địa phương. Thống kê cho

thấy số lao động đã qua đào tạo từ cao đẳng trở lên chỉ chiếm 6,22%, nếu tính

số lao động có trình độ trung cấp nghề trở lên chiếm 28,76%. Phần lớn lao

động các doanh nghiệp tuyển chọn là lao động phổ thông chiếm khoảng

65,02% do doanh nghiệp thâm dụng lao động, công nghệ chưa tiên tiến. Mặt

khác, một số ngành nghề nhất là thủ công mỹ nghệ, người lao động được

truyền nghề, tay nghề giỏi nhưng học vấn thấp, bằng cấp khơng có chưa được

thống kê đầy đủ để bóc tách ra khỏi số lao động phổ thông. Thể hiện cụ thể

qua bảng số liệu sau:

Bảng 2.12: Trình độ học vấn của người lao động trong các KCN, CCN



62



Trình độ học vấn



Tính đến tháng 12/2014

Số người



Tỷ lệ (%)



Lao động phổ thông



4572



65,02



Trung cấp chuyên nghiệp,

công nhân kỹ thuật



2022



28,76



Cao đẳng, đại học trở lên



438



6,22



Cộng



7032



100



Nguồn: Ban quản lý KKT Gia Lai

Như vậy, đa phần lao động tuyển dụng vào các KCN, CCN là lao động

phổ thông chưa qua đào tạo, đây là một điều bất lợi đối với các doanh nghiệp.

Tuy nhiên, đây lại là cơ hội cho người lao động có việc làm và được học

nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp.

Hiện nay, trong cả nước có xu hướng thiếu lao động có trình độ cao,

thiếu các cơ sở đào tạo nghề, đặc biệt tỉnh Gia Lai thiếu nghiêm trọng các cơ

sở đào tạo nghề. Điều này đặt ra vấn đề đào tạo nghề cơ bản và kỹ thuật cao

trong thời gian tới hết sức cấp bách. Tuy nhiên Gia Lai cũng đã xây dựng

được một số các trung tâm đào tạo nghề để cung cấp lao động kỹ thuật cho

các doanh nghiệp KCN, CCN hoặc mở các lớp đào tạo ngắn hạn cho người

lao động, đã cung cấp cho doanh nghiệp KCN, CCN một lượng lao động

không nhỏ. Bên cạnh đó nhiều doanh nghiệp lại đào tạo theo hình thức tuyển

cơng nhân chưa qua đào tạo, sau đó tổ chức đào tạo một số ngày ngay tại dây

chuyền sản xuất theo kiểu “cầm tay chỉ việc” và tiếp tục vừa làm vừa học tại

dây chuyền sản xuất. Đa số lao động có chun mơn kỹ thuật khi được tuyển

dụng đều được các doanh nghiệp đào tạo lại, bổ sung kỹ năng mới.

2.2.5. Thực trạng hỗ trợ nâng cao trình độ cơng nghệ của các DN

trong KCN, CCN

Bất kỳ một doanh nghiệp nào nếu khơng có những hoạt động nhằm đổi



63

mới cơng nghệ thì chắc chắn hệ thống cơng nghệ, dây chuyền sản xuất, máy

móc, trang thiết bị… sẽ trở nên lạc hậu, hiệu quả kinh tế thấp, dẫn đến bị đào

thải, làm cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp bị đe doạ. Đổi mới

công nghệ sẽ giúp DN, nhà sản xuất cải thiện, nâng cao chất lượng sản phẩm,

củng cố, duy trì và mở rộng thị phần của sản phẩm; đa dạng hoá mẫu mã sản

phẩm, giảm tiêu hao nguyên, nhiên liệu; cải thiện điều kiện làm việc, nâng

cao mức độ an toàn sản xuất cho người và thiết bị, giảm tác động xấu đến mơi

trường. Đặc biệt, về mặt lợi ích thương mại, nhờ đổi mới công nghệ, chất

lượng sản phẩm được nâng lên đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sẽ tạo được

ưu thế vững vàng trên thị trường cạnh tranh.

Cùng với việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, việc tiếp thu công nghệ

hiện đại và các phương pháp (kinh nghiệm) quản lý tiên tiến của các nhà đầu

tư được thực hiện khá tốt thơng qua các KCN, CCN nhằm góp phần nâng cao

trình độ cơng nghệ, khả năng hấp thụ các công nghệ mới, nâng cao năng lực

quản lý. Để tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới và thị

trường nội địa, các nhà đầu tư nước ngồi thường đưa vào KCN, CCN các

cơng nghệ tương đối hiện đại. Mặc dù, ở các KCN, đầu tư nước ngoài chủ yếu

thực hiện các hoạt động sản xuất, tiêu dùng, dệt may, gia công giày da, lắp ráp

điện tử... sau đó là sản xuất cơ khí, linh kiện điện tử... song q trình chuyển

giao cơng nghệ vẫn diễn ra thơng qua nhiều hình thức như: đào tạo cơng nhân

để sử dụng máy móc, thiết bị, cơng nghệ sản xuất, đưa máy móc hiện đại sang

để tiến hành sản xuất nhằm mục đích tạo năng suất lao động cao... Các công

ty ở các KCN đã chuyển giao một số các công nghệ mới vào giúp đỡ kỹ thuật

cho các nhà cung cấp tại Gia Lai hoặc các công ty sản xuất các chi tiết sản

phẩm của KCN...

Nhìn chung các DN ở Gia Lai chủ yếu là DN vừa và nhỏ do yếu về

năng lực tài chính nên sử dụng cơng nghệ lạc hậu; máy móc, thiết bị, dây



64

chuyền cơng nghệ cũ, mang tính chắp vá, khơng đồng bộ cộng với tay nghề

công nhân; số DN tạo ra sản phẩm xuất khẩu trên địa bàn còn chiếm tỷ lệ

thấp. Nhiều DN chưa thấy được vai trò của đổi mới và cải tiến công nghệ đối

với sản xuất. Mặt khác, lực lượng lao động trong doanh nghiệp có trình độ

cơng nghệ còn ở mức trung bình, phần lớn là lao động phổ thơng. Có những

ơng chủ doanh nghiệp chưa được đào tạo có hệ thống về những kiến thức

quản lý kinh tế, tin học; trình độ tay nghề của cơng nhân lao động còn ở mức

thấp. Đó là ngun nhân khiến hiệu suất lao động của rất nhiều doanh nghiệp

tuy có tăng trưởng nhưng còn thấp. Như là một “đòn bẩy” giúp doanh nghiệp

vượt qua khó khăn, thời gian qua, UBND tỉnh Gia Lai đã có nhiều chính sách,

chương trình hỗ trợ việc thực hiện đổi mới công nghệ. Cùng với việc ưu tiên

bố trí ngân sách, tỉnh đã chỉ đạo các cấp, các ngành tạo điều kiện để các DN

từng bước đổi mới, nâng cao trình độ; khơng ngừng du nhập những cơng nghệ

tiên tiến trong và ngồi nước áp dụng vào sản xuất. Nhờ thực hiện chính sách

này, ngành KHCN đã hỗ trợ các doanh nghiệp chuyển giao, đổi mới có hiệu

quả một số cơng nghệ như: sản xuất hạt nhựa đa chủng loại, công nghệ sản

xuất phôi thép đen, lưới B40 và dây thép gai, công nghệ composite sản xuất

các vật liệu mới, công nghệ sản xuất gạch bằng lò đứng liên tục...Bên cạnh

đó, trong khn khổ chương trình hợp tác KH&CN, nhiều cơng nghệ mới

được du nhập như: công nghệ sản xuất ống betong, sản xuất gạch khơng

nung… Mặc dù số doanh nghiệp có khả năng đầu tư cải tiến, đổi mới cơng

nghệ còn hạn chế nhưng có thể coi đây là những tín hiệu tích cực của các DN

trong q trình tìm đến những cơng nghệ mới, tiên tiến, nhằm đáp ứng nhu

cầu sản xuất. Và cũng là hướng đi cần thiết để các DN của tỉnh có thể vươn

tới sự bền vững.

Bên cạnh đó trong những năm gần đây, cơ cấu ngành nghề trong các

KCN, CNN ở Gia Lai đã có những chuyển biến tương đối rõ rệt, chuyển từ



65

các ngành sử dụng lao động nhiều, cơng nghệ trung bình, vốn ít, hiệu quả

kinh tế khơng cao chuyển dần qua các ngành có hàm lượng công nghệ tiên

tiến, hiệu quả kinh tế cao. Đặc biệt là thông qua các dự án đầu tư FDI, đã có

sự chuyển giao cơng nghệ. Tuy hàm lượng cơng nghệ cao, hàm lượng chất

xám trong các sản phẩm công nghiệp chiếm tỉ lệ còn ít nhưng đó cũng là

những bước đầu khả quan trong quá trình hội nhập và nâng cao trình độ cơng

nghệ của các DN của tỉnh.

2.2.6. Kết quả và đóng góp của KCN, CCN đối với kinh tế, xã hội địa

phương

a. Kết quả sản xuất kinh doanh

Tổng doanh thu trong 6 tháng đầu năm 2014, ước tính đến thời điểm

30/6/2014 toàn KCN, CCN ước đạt 4.257,557 tỷ đồng, tăng 33,9 % so với

cùng kỳ năm trước. Các doanh nghiệp trong KCN, CCN hầu hết là các doanh

nghiệp vừa và nhỏ. Có thể nói trong quý 6 tháng đầu năm 2014 đa số các

doanh nghiệp vẫn còn gặp nhiều khó khăn về thị trường tiêu thụ sản phẩm, tài

chính, hàng tồn kho nhiều. Tuy vậy nhưng các doanh nghiệp vẫn duy trì hoạt

động sản xuất kinh doanh và đang từng bước khắc phục những khó khăn để

nâng cao kết quả sản xuất kinh doanh. Cụ thể qua bảng số liệu sau:

Bảng 2.13: Kết quả sản xuất kinh doanh 6 tháng đầu năm 2014 của các

KCN, CCN

STT



Sản phẩm



Doanh thu (tỷ đồng)



1



Chế biến cà phê



3.496,952



2



Chế biến hạt điều



230,032



3



Chế biến nông sản



8,958



4



Sản xuất đá granite, đá xây dựng các loại



134,936



5



Trụ điện, cột bê tông đúc sẵn



12,668



6



Gỗ tinh chế



33,274



66

7



Các sản phẩm khác



340,737



Tổng



4.257,557

Nguồn: Ban quản lý KKT Gia Lai



Trong 6 tháng đầu năm, doanh thu ngành chế biến cà phê đạt mức cao

nhất (3.496,952 tỷ đồng). Vì Gia Lai là một trong những tỉnh Tây Ngun có

khí hậu thuận lợi, đất đỏ bazan... phù hợp cho việc trồng các cây công nghiệp

lâu năm, đặc biệt là cà phê vì vậy doanh thu từ ngành này khá cao. Bên cạnh

đó là chế biến hạt điều (230,032 tỷ đồng) và các loại nông sản khác (8,958 tỷ

đồng). Sản xuất đá granite, đá xây dựng các loại (134,936 tỷ đồng) cũng đang

được các DN hết sức chú trọng sản xuất vì nhu cầu sử dụng các mặt hàng này

có xu hướng gia tăng, dẫn đến doanh thu cũng có chiều hướng tăng. Doanh

thu của ngành gỗ tinh chế (33,274 tỷ đồng) lại có xu hướng thấp hơn các năm

trước, một phần do nguồn gỗ để sản xuất hiện nay đang khan hiếm, mặt khác,

sản phẩm của ngành hiện đang gặp khó khăn vì khả năng cạnh tranh khá thấp

so với các tỉnh khác.

Trong tình hình kinh tế hiện nay, các DN còn gặp khá nhiều khó khăn về

nguồn vốn, khả năng cạnh tranh của sản phẩm, khả năng nắm bắt thị trường,

sự biến động của giá cả trong nước so với thế giới... Điều này đòi hỏi tỉnh Gia

Lai cần có những chính sách hỗ trợ các DN vượt qua khó khăn, để thu được

kết quả kinh doanh tốt nhất.

b. Đóng góp của các KCN, CCN





Đóng góp vào giá trị sản xuất của tỉnh



Trong những năm vừa qua, Gia Lai đã sản xuất nhiều sản phẩm, phục vụ

nhu cầu trong và ngồi nước. Trong đó chủ yếu các sản phẩm của ngành nông

sản, sản xuất đá granite, đá xây dựng, gỗ tinh chế... Đóng góp của các KCN,

CCN vào giá trị sản xuất của tỉnh ngày càng tăng qua các năm. Năm 2010

GTSX trong KCN, CCN đạt 4.565,378 tỷ đồng, chiếm 48,69 % GTSX cơng



67

nghiệp tồn tỉnh. Đến năm 2014 thì GTSX trong KCN, CCN đã đạt 7.852,482

tỷ đồng chiếm 50,58% GTSX cơng nghiệp tồn tỉnh. Điều này càng chứng tỏ

các KCN, CCN thực sự có những đóng góp rất quan trọng trong tốc độ tăng

trưởng kinh tế của tỉnh nói riêng và nước ta nói chung. Cụ thể qua bảng số

liệu sau:

Bảng 2.14: GTSX của các KCN, CCN trên địa bàn tỉnh Gia Lai từ 2010

đến 2014 (tính theo giá so sánh 2010)

Năm



2010



2011



2012



2013



2014



GTSXCN tồn 9.375,52 10.670,71 12.580,80 14.098,28 15.522,75

tỉnh (tỷ đồng)

5

0

7

0

7

GTSX trong

4.565,37

KCN, CCN (tỷ

5.376,477 5.565,347 6.411,752 7.852,482

8

đồng)

Tỷ trọng so

với tổng

48,69

50,38

44,23

45,47

50,58

GTSXCN toàn

tỉnh (%)

Tỷ trọng

GTSX KCN,

23,5

26,6

31,7

35,04

35,4

CCN so với

GDP(%)

Nguồn: Niên giám thồng kê tỉnh Gia Lai

Tỷ trọng GTSX của các KCN, CCN so với GTSXCN tồn tỉnh có xu

hướng tăng qua các năm, năm 2010, tỷ trọng này là 48,69% thì đến năm 2014,

tỷ trọng này đã đạt 50, 58% (tăng 1,68%), tương ứng với đó, tỷ trọng GTSX

KCN, CCN so với GDP cũng tăng từ 23,5% năm 2010 lên 35,4% năm 2014.

Điều này hoàn toàn phù hợp với định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế hiện

nay, tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng các ngành

nông nghiệp.





Tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động



68

Nhờ có sự ra đời và phát triển cuả các KCN, CCN, đã tạo việc làm cho

một lực lượng lớn lao động của địa phương, đặc biệt là lao động nữ. Riêng năm

2014 con số này là 7032 người, trong đó lực lượng lao động nữ chiếm 60,18%.

Đây là một đóng góp đáng kể của các KCN, CCN khi mà hiện nay tình trạng

thất nghiệp ngày càng gia tăng.

Tiền lương, tiền công của người lao động đã được các doanh nghiệp quan

tâm và chi trả kịp thời với mức lương bình quân là: 4.000.000 đồng/người/tháng,

phần nào giúp người lao động trang trải cuộc sống trong khi giá cả luôn biến

động như hiện nay. Tuy nhiên việc thực hiện chế độ BHXH, BHTNg cho người

lao động chưa được các chủ doanh nghiệp thật sự chú trọng.





Đóng góp vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh



Trong thời gian gần đây các dự án đầu tư tập trung chủ yếu vào lĩnh vực

như: sản xuất chế biến nơng sản, lâm sản, nhóm ngành cơng nghiệp vật liệu xây

dựng, nhóm ngành chế tạo, lắp ráp cơ khí điện tử, may mặc... Việc thu hút được

nhiều dự án trong và ngồi nước đầu tư vào trong KCN đã có tác động mạnh mẽ

đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Gia Lai. Trong giai đoạn 2001-2010,

tốc độ tăng trưởng GDP Gia Lai đạt 12,3%/năm, tỷ trọng trong cơ cấu GDP của

nhóm ngành nơng-lâm-thủy sản đã giảm từ 57,8%/năm 2000 xuống 48,8%/năm

2005 và 44,2%/năm 2011. Ngược lại tỷ trọng của nhóm ngành cơng nghiệp - xây

dựng đã tăng từ 17,9 %/năm 2000 lên 23,7%/năm 2005 và 30,1%/năm 2011.

Và trong giai đoạn 2012 – 2014 cùng với sự đóng góp mạnh mẽ của các

KCN, CCN cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch theo hướng CNH-HĐH, giảm dần tỷ

trọng ngành nông - lâm nghiệp - thủy sản, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và

dịch vụ. Năm 2012 tổng GDP của tồn tỉnh Gia Lai đạt 29.834 tỷ đồng, trong đó

nhóm ngành công nghiệp – xây dựng chiếm 31,01 %. Năm 2013 tỷ trọng của

nhóm ngành này đạt 32,12% ( tăng 1,11%). Đến năm 2014 tỷ lệ đóng góp của



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 2: Cơ cấu FDI ở tỉnh Gia Lai theo đối tác đầu tư giai đoạn 2010 – 2014

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×