Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP, CỤM CÔNG NGHIỆP

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP, CỤM CÔNG NGHIỆP

Tải bản đầy đủ - 0trang

8

cung cấp cơ sở hạ tầng, các tiện nghi, tiện tích cơng cộng hồn chỉnh và xử lý

chất thải, KCN còn bao gồm khu thương mại, dịch vụ ngân hàng, trường học,

bệnh viện, các khu vui chơi giải trí, nhà ở cho công nhân...Các KCN ở Indonesia

và Thái Lan thường gồm ba bộ phận chủ yếu: khu sản xuất hàng tiêu thụ nội địa,

khu sản xuất hàng xuất khẩu và khu thương mại và dịch vụ.

Tuy nhiên, cũng có những quan niệm cho rằng KCN là một khu vực

phụ , khơng nhất thiết phải có sự ngăn cách, biệt lập. Trên thực tế có nhiều tập

đồn và tổ hợp cơng nghiệp với một chuỗi đồ sộ các xí nghiệp, nhà máy liên

kết với nhau trên một khu vực rộng lớn. Việc bố trí mặt bằng các khu sản xuất

trên quy mơ lớn như vậy hình thành là một loại hình tổ chức mới của KCN

mà khơng nhất thiết phải có quy mơ đặc thù.

Những quan niệm trên mặc dù có những điểm khác nhau về KCN, CCN

nhưng về cơ bản chúng thống nhất ở những đặc trưng sau:

Thứ nhất: KCN, CCN là bộ phận không thể thiếu và không thể tách rời

của một quốc gia, thường là những khu vực địa lý riêng biệt thích hợp, có

hàng rào giới hạn với các vùng, lãnh thổ còn lại của nước sở tại và được chính

phủ nước đó cho phép hoặc rút phép xây dựng và phát triển.

Thứ hai: KCN, CCN là nơi hội tụ và thích ứng với nhau về mặt lợi ích

và mục tiêu xác định giữa chủ đầu tư và nước chủ nhà. KCN, CCN là nơi có

mơi trường kinh doanh đặc biệt phù hợp, được hưởng những quy chế tự do,

các chính sách ưu đãi kinh tế (đặc biệt là thuế quan) so với các vùng khác ở

nội địa. Chúng là nơi có vị trí thuận lợi cho việc phát triển sản xuất, thương

mại dịch vụ, đầu tư trên cơ sở các chính sách ưu đãi về cơ sở hạ tầng, cơ chế

pháp lý, thủ tục hải quan, thủ tục hành chính, chính sách tài chính- tiền tệ, môi

trường đầu tư...

Thứ ba: Là nơi thực hiện mục tiêu hàng đầu về ưu tiên chính sách hướng

ngoại, thu hút chủ yếu vốn đầu tư nước ngoài, phát triển các loại hình kinh

doanh, sản xuất, phục vụ xuất khẩu. Đây là mơ hình thu nhỏ về chính sách KT



9

- XH mở cửa của một đất nước.

Ở Việt Nam, khái niệm về KCN, CCN được quy định tại Nghị định

192/CP ngày 15/12/1994 của Chính Phủ về Quy chế KCN, các KCN được

định nghĩa là: Các khu vực công nghiệp tập trung, được thành lập do quyết

định của Chính phủ với các ranh giới được xác định, cung ứng các dịch vụ hỗ

trợ sản xuất và khơng có dân cư. Trong Điều 2 Nghị định 36/CP ngày

24/4/1997 của Chính phủ ban hành về “Quy chế hoạt động của các KCN,

KCX, KCNC” có đưa ra khái niệm đầy đủ hơn về KCN. Theo đó thì KCN là

khu tập trung các doanh nghiệp chun sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện

các dịch vụ sản xuất cơng nghiệp, có ranh giới địa lý xác định (có tường rào bao

quanh), khơng có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ Tướng Chính phủ

quyết định thành lập [38, tr.2]. Nghị định 36/ CP có giải thích một số thuật ngữ

sau đây:

- Khu cơng nghiệp: Là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp

chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất cơng

nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, khơng có dân cư sinh sống, do Chính phủ

hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập.

+ Doanh nghiệp chế xuất: Là doanh nghiệp chuyên sản xuất và chế biến

hàng xuất khẩu, được thành lập và hoạt động theo quy chế này.

+ Doanh nghiệp KCN: Là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động

trong KCN, gồm doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch vụ.

+ Doanh nghiệp sản xuất KCN: Là doanh nghiệp sản xuất hàng công

nghiệp được thành lập và hoạt động trong KCN.

+ Doanh nghiệp dịch vụ KCN: Là doanh nghiệp được thành lập và hoạt

động trong KCN, thực hiện dịch vụ và các cơng trình kết cấu hạ tầng KCN,

dịch vụ sản xuất công nghiệp.

- Cụm công nghiệp : Là sự tập trung về vị trí địa lý của các ngành

công nghiệp nhằm tận dụng các cơ hội qua liên kết địa lý. Các nhà máy trong



10

cụm quan hệ với nhau về mặt hợp tác xây dựng và sử dụng chung các cơng

trình phụ trợ kỹ thuật, các cơng trình và mạng lưới kỹ thuật hạ tầng, nhằm

nâng cao hiệu quả vốn đầu tư và giảm các chi phí quản lý khai thác.

Tuy nhiên, có thể coi khái niệm KCN mà chúng ta sử dụng là khái niệm

hẹp bởi chúng ta chỉ quan tâm chủ yếu đến phần diện tích dành cho việc xây

dựng cơ sở hạ tầng để cho th, còn việc xây dựng các cơng trình phúc lợi xã

hội khơng nằm trong phạm vi quy định. Quan niệm này dẫn đến một thực tế

là khi xây dựng KCN, người ta khơng quan tâm đến tính đồng bộ của nó theo

nghĩa rộng, dẫn đến yếu tố bất cập, ảnh hưởng lớn tới hiệu quả KT - XH của

KCN. Cho nên, việc quy hoạch phát triển sản xuất nhất thiết phải đi kèm quy

hoạch phát triển hạ tầng xã hội, hai vấn đề này phải được đồng thời triển khai

thực hiện.

b. Phân loại

* Khu công nghiệp: Tuỳ theo góc độ tiếp cận, KCN có thể phân loại theo

nhiều cách khác nhau:

- Theo tính chất ngành nghề, KCN được chia thành các loại sau: KCN

chuyên ngành, KCN đa ngành, KCN sinh thái, KCN đô thị, KCN đô thị công

nghệ cao.

- Dựa vào đặc điểm của KCN, người ta chia KCN thành: KCN tập trung,

KCN chế xuất, Khu công nghệ cao, Cụm công nghiệp.

- Theo đặc điểm và cấp quản lý: KCN do chính phủ quyết định thành

lập, KCN do UBND tỉnh, thành phố quyết định thành lập, KCN do UBND

huyện, thị quyết định thành lập.

* Cụm công nghiệp:

- Nhóm 1: CCN chủ yếu gồm các doanh nghiệp nhỏ và vừa, sản xuất các

sản phẩm giống nhau hoặc có liên quan đến nhau trong một khu vực địa lý

nhất định.



11

- Nhóm 2: CCN gồm có một hoặc một số doanh nghiệp lớn (doanh

nghiệp mỏ neo) và các doanh nghiệp là thầu phụ, nhà cung cấp cho một hoặc

một số doanh nghiệp lớn đó.

- Nhóm 3: CCN có mối liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp - tổ chức

nghiên cứu, giáo dục - chính phủ.

1.1.2. Đặc điểm KCN, CCN

- Là khu vực tập trung tương đối nhiều nhà máy, xí nghiệp trong một khu

vực có ranh giới rõ ràng, sử dụng chung kết cấu hạ tầng sản xuất, sản xuất ra

các sản phẩm công nghiệp khác nhau, đồng thời cũng sử dụng lượng lớn

nguyên, nhiên liệu, năng lượng và thải ra lượng chất thải khổng lồ.

- Việc thành lập KCN, CCN đòi hỏi phải có diện tích đất khá lớn, tập

trung tại một địa điểm, địa hình tương đối bằng phẳng. Thường được xây

dựng ở những nơi có vị trí địa lý thuận lợi.

- Nguồn vốn xây dựng cơ sở hạ tầng chủ yếu là thu hút từ nước ngoài

hay các tổ chức cá nhân trong nước.

- Các xí nghiệp trong KCN, CCN thường được hưởng một quy chế riêng

của nhà nước và địa phương sở tại. Các quy chế này thể hiện sự quan tâm, ưu

đãi, tạo điều kiện thuận lợi cho các xí nghiệp này phát triển.

- KCN, CCN có Ban quản lý chung thống nhất, thực hiện quy chế quản

lý thích hợp, tạo điều kiện thuận lợi và hiệu suất tối đa cho các xí nghiệp cơng

nghiệp và các doanh nghiệp hoạt động.

- Sử dụng lượng lao động lớn.

- Hoạt động chính trong KCN, CCN là hoạt động sản xuất cơng nghiệp.

1.1.3. Vai trò của KCN, CCN đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

a. Nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN trên địa bàn và phát triển

các ngành CN phụ trợ



12

Trong quá trình hình thành và phát triển của các KCN, CCN không thể

thiếu sự hiện diện của khu vực đầu tư nước ngồi. Ngồi các vai trò quan

trọng như tăng nguồn vốn cho DN, chuyển giao công nghệ, tham gia vào quá

trình đào tạo nguồn nhân lực sự hiện diện của khu vực đầu tư nước ngồi còn

là một tác nhân thúc đẩy cạnh tranh; nhiều trường hợp có thể dẫn đến tình

trạng giảm sút sản lượng, thậm chí có thể buộc doanh nghiệp rời khỏi thị

trường hoặc có thể sống sót nếu vượt qua được giai đoạn điều chỉnh cơ cấu

để thích nghi với mơi trường cạnh tranh mới. Tuy nhiên, nếu biết tận dụng

quá trình sản xuất của mình, bằng việc sản xuất các hàng hóa trung gian và

các yếu tố khác của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp trong

nước có khả năng bứt phá để sau đó trực tiếp tiến hành xuất khẩu. Đó dường

như là một cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam để có thể nâng cao năng

lực cạnh tranh và tiềm lực phát triển.

Bên cạnh đó mối quan hệ giữa khu vực có vốn đầu tư nước ngồi và cơng

nghiệp phụ trợ trong nước có tính tương hỗ hai chiều và chỉ có thể phát triển

bền vững trên ngun tắc "đơi bên cùng có lợi". Các doanh nghiệp đầu tư

nước ngồi, dù đặt cơ sở sản xuất ở đâu, cũng đều cần một lượng lớn các yếu

tố đầu vào. Rõ ràng là, nếu có thể sử dụng các yếu tố này ở ngay nền kinh tế

nước sở tại, thì họ sẽ giảm được đáng kể chi phí sản xuất.

b. Tạo việc làm và thu nhập cho người lao động

Trong những năm vừa qua, sự ra đời và hình thành các KCN, CCN đã

tạo công ăn việc làm cho hàng chục ngàn lao động, giải quyết được phần nào

tình trạng thất nghiệp của nền kinh tế.Việc thu hút nhiều lao động làm việc tại

các KCN, CCN cho thấy hiệu quả xã hội đem lại từ các KCN, CCN là rất lớn.

Không những vậy các KCN, CCN còn đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao thu

nhập, đời sống và trình độ của người lao động thơng qua q trình hoạt động

và phát triển của mình. KCN, CCN là mơi trường tốt nhất để đào tạo nguồn



13

nhân lực phục vụ lâu dài cho sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa. Do áp

lực phải sản xuất ra các mặt hàng đủ tiêu chuẩn xuất khẩu, các nhà đầu tư

buộc phải quan tâm đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ lao động, đội ngũ

cán bộ quản lý. Vì thế, người lao động sẽ có cơ hội để tiếp thu tốt nhất công

nghệ sản xuất hiện đại, cơng nghệquản trị tiên tiến, ở đó, người lao động biết

cần phải tự giác tham gia vào quá trình đào tạo, tự đào tạo lại để ln thích

ứng với yêu cầu phát triển của mỗi doanh nghiệp. Vì vậy, đây là địa điểm

thuận lợi để đào tạo nguồn nhân lực mới có chất lượng cao, là tác động cơ

bản, động lực mạnh mẽ, góp phần thực hiện thắng lợi cơng nghiệp hóa, hiện

đại hóa. Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của các KCN, CCN, các doanh

nghiệp KCN, CCN và quy định lộ trình tăng lương tối thiểu của Chính phủ, thu

nhập của người lao động trong các KCN, CCN dần được nâng cao, từ đó nâng

cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động, đồng thời giảm hệ số

chênh lệch giàu nghèo, tăng chỉ số phát triển con người.

c. Góp phần nâng cao trình độ cơng nghệ và quản lý kinh doanh

Khu cơng nghiệp, cụm công nghiệp với hạt nhân là doanh nghiệp có

vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi và tác động đổi mới công nghệ đối với

doanh nghiệp trong nước: Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi

(FDI) ở các KCN, CCN là nhân tố tác động mạnh mẽ đến đổi mới công nghệ

đối với doanh nghiệp trong nước. Thực tế cho thấy, việc áp dụng mơ hình

kinh tế các KCN, CCN đã thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ phát

triển nhanh, cả về phạm vi và tốc độ. Chuyển giao công nghệ của khu vực

đầu tư nước ngồi tới doanh nghiệp trong nước có ảnh hưởng lâu dài, đóng

góp tích cực vào việc tăng năng suất trong ngành cơng nghiệp của nước sở

tại. Có thể thấy, tác động lan tỏa công nghệ của khu vực FDI được thực hiện

thông qua mối liên kết sản xuất giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp

trong nước, qua đó tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tiếp cận hoạt



14

động chuyển giao công nghệ. Thông qua mối quan hệ với doanh nghiệp FDI,

doanh nghiệp trong nước ứng dụng công nghệ sản xuất tương tự để sản xuất

sản phẩm, dịch vụ thay thế và sản phẩm, dịch vụ khác để tránh cạnh

tranh.Đồng thời có tác động tạo ra các ngành sản xuất, dịch vụ khác trong

nước để hỗ trợ cho hoạt động của các doanh nghiệp FDI, đặc biệt là ngành

công nghiệp hỗ trợ. Nhìn chung, một số ngành đã thực hiện tốt chuyển giao

cơng nghệ là dầu khí, điện tử, viễn thơng, tin học, cơ khí chế tạo, ơ tơ, xe

máy và dệt may, giày dép, trong đó viễn thơng, dầu khí được đánh giá có

hiệu quả nhất. Thêm vào đó, những ảnh hưởng gián tiếp có thể còn quan

trọng hơn. Các liên kết có thể trở thành những kênh có sức mạnh cho việc

nhân rộng tri thức và kỹ năng giữa các cơng ty; đồng thời có thể kích thích

hiệu quả, tăng năng suất, năng lực công nghệ và quản lý, đa dạng hoá thị

trường cho nhà cung ứng.

d. Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, hình

thành và phát triển các khu đơ thị mới

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá,

hiện đại hoá (CNH-HĐH) đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là con

đường tất yếu để Việt Nam nhanh thốt khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát

triển để trở thành một quốc gia văn minh, hiện đại. Sự hoạt động của các

KCN, CCN làm tăng đóng góp ngày cho ngân sách nhà nước, thúc đẩy cơ

cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỉ trọng các ngành công nghiệp, tiểu thủ

cơng nghiệp, dịch vụ thương mại có xu hướng tăng, tỉ trọng ngành nông

nghiệp giảm xuống so với cơ cấu chung nhưng giá trị sản xuất, đóng góp vào

GDP và các chỉ số tăng trưởng kinh tế đều tăng. Từng bước thay đổi chuyển

dịch từ thuần nông sang sản xuất hàng hóa có sự thay đổi về tỷ trọng nội bộ

ngành nông nghiệp nông thôn, các ngành dịch vụ thương mại, công nghiệp

và tiểu thủ công nghiệp ngày càng phát triển nhanh, mạnh, chiếm tỷ trọng



15

tăng lên dần so với ngành nông nghiệp, cơ cấu theo vùng lãnh thổ dần dần

hình thành các vùng tập chung, chun mơn hóa và đa dạng hóa sản phẩm,

đời sống nhân dân nông thôn trong tỉnh được nâng lên, bộ mặt xã hội nơng

thơn thay đổi. Bên cạnh đó còn góp phần làm chuyển dịch cơ cấu thành phần

kinh tế. Các DN có vốn đầu tư nước ngồi, các DNTN tại các KCN, CCN

với sự tăng trưởng mạnh, năng động, hiệu quả đã tạo nên sức cạnh tranh

mạnh mẽ, tạo tiền đề cho sự mở rộng thị trường, tạo thế và lực mới cho nền

kinh tế,... Góp phần quan trọng vào cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa nơng

thơn, với kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đồng bộ, các KCN, CCN

thường có khả năng chuyển nhanh các khu vực thuần nông, trở thành một

thành phố công nghiệp với kết cấu hạ tầng phát triển nhanh và ổn định.

e. Thúc đẩy q trình hiện đại hố hệ thống cơ sở hạ tầng

Qua quá trình xây dựng và phát triển, ngoài các tác động như thúc đẩy

chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ; tăng trưởng kinh tế nhanh, các

KCN, CCN còn đã thúc đẩy liên kết hạ tầng kỹ thuật, góp phần tạo lập và

phân bố khơng gian kinh tế-xã hội của tỉnh, tạo sự phát triển đồng đều.

Các KCN, CCN trong quá trình quy hoạch đã cơ bản đảm bảo được sự gắn

kết hệ thống hạ tầng kỹ thuật và xã hội trong và ngoài hàng rào KCN, CCN.

Chính hạt nhân từ các KCN, CCN đã hình thành các khu đơ thị mới, cùng các

cơng trình hạ tầng xã hội đã đưa mạng lưới đô thị các tỉnh ngày càng mở rộng

và phát triển. Các khu đô thị, dịch vụ sau khi triển khai đầu tư sẽ có cơng trình

văn hóa, cơ sở phúc lợi xã hội và các cơng trình hạ tầng xã hội khác đáp ứng

cho người lao động tại KCN, CCN và dân cư địa phương.

Theo đó, hệ thống các tuyến đường giao thông ở các Tỉnh lộ được quy

hoạch đầu tư xây dựng nối các KCN, CCN, khu đô thị thành mạng lưới giao

thơng khép kín, liên hồn; quy hoạch mạng lưới điện của tỉnh thường xuyên

được điều chỉnh, bổ sung; mạng lưới cung cấp nước sạch cho các KCN, CCN



16

và khu đô thị được chú trọng đầu tư, nhiều nhà máy cấp nước sạch được xây

dựng. Hệ thống hạ tầng viễn thông được đầu tư đồng bộ, hiện đại nhằm cung

cấp các dịch vụ tốt nhất cho khách hàng cũng được kéo theo cùng với việc

xây dựng hạ tầng các KCN, CCN. Thúc đẩy hạ tầng xã hội như trường học,

bệnh viện, nhà ở, nhu cầu về dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, văn hoá, thể

thao…đảm bảo cuộc sống của người lao động, ổn định an sinh xã hội.

f. Tạo điều kiện thuận lợi cho việc xử lý ô nhiễm môi trường, bảo vệ

môi trường sinh thái cho phát triển bền vững

Bảo vệ môi trường là nội dung cơ bản của phát triển bền vững. Các nước

đang phát triển thực hiện CNH, HĐH cần chú ý sự phát triển cân bằng cả kinh

tế, xã hội và môi trường. Vấn đề môi trường là một yếu tố quan trọng mà bất

cứ một DN sản xuất nào đều phải giải quyết và xử lý. Với mục tiêu chỉnh

trang các đô thị theo hướng hiện đại, văn minh và bảo vệ môi trường, phải di

dời nhà máy, xí nghiệp sản xuất cơng nghiệp trong các đô thị ra các vùng

ngoại thành. Nếu các DN phân bố phân tán, mặt khác việc xử lý chất thải do

từng doanh nghiệp thực hiện riêng rẽ sẽ rất tốn kém và không đồng bộ. Việc

tập trung nhiều doanh nghiệp trên cùng một địa bàn sẽ cho phép xây dựng các

trung tâm xử lý chất thải với chi phí bớt tốn kém hơn. KCN, CCN là nơi tập

trung các DN cơng nghiệp, do đó có điều kiện tập trung các chất thải để xử lý,

góp phần khắc phục tình trạng khó kiểm sốt chất thải của các doanh nghiệp

do phân tán về địa điểm sản xuất. Nhờ có sự hình thành các KCN, CCN

mà việc đầu tư cho mơi trường được quan tâm hơn, các bãi rác tập trung vốn

đã chật hẹp, hết cơng suất và chưa có bãi chôn lấp xử lý chất thải rắn, độc hại

nay đã được các Khu xử lý rác thải hiện đại, Nhà máy xử lý rác thải công suất

xử lý. Việc xử lý rác thải ngay tại KCN, CCN, nơi phát sinh nguồn thải theo

mơ hình 3R (giảm thiểu (Reduce), tái chế (Recycle) và tái sử dụng (Reuse))

đang là một trong những giải pháp hữu hiệu nhằm kiểm sốt được ơ nhiễm



17

mơi trường, tránh gian lận thương mại, tăng nguồn thu cho ngân sách, góp

phần xây dựng khu cơng nghiệp xanh, thân thiện mơi trường.

Tuy nhiên, trong q trình đẩy nhanh sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện

đại hóa, phát triển các KCN, CCN ô nhiễm môi trường sẽ ngày càng trầm

trọng, nếu khơng được kiểm sốt một cách chặt chẽ. Vì vậy bảo vệ môi

trường ở các KCN, CCN vừa là điều kiện vừa là mục tiêu phát triển sản xuất,

kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh tế và khả năng cạnh tranh, đem lại hiệu

quả kinh tế cao, bảo đảm cho sự thắng lợi của cơng cuộc cơng nghiệp hóa,

hiện đại hóa đất nước.

1.2. NỘI DUNG VÀ TIÊU CHÍ PHÁT TRIỂN KCN, CCN

1.2.1. Xây dựng và quản lý quy hoạch phát triển các KCN, CCN

Xây dựng quy hoạch KCN, CCN là xác định phạm vi ranh giới, diện tích

khu vực để xây dựng, xác định danh mục các cơng trình cần đầu tư xây dựng,

xác định các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật chủ yếu về sử dụng đất, hạ tầng xã hội

và hạ tầng kỹ thuật; các yêu cầu về không gian, kiến trúc, thiết kế đô thị và

những yêu cầu khác.Việc phân bố và hình thành các KCN, CCN phải đạt hiệu

quả cao và bền vững xét trên cả phương diện kinh tế, xã hội, tự nhiên và mơi

trường.

- Các tiêu chí đánh giá:

+ Quy hoạch sử dụng đất đai, gồm : xác lập cơ cấu sử dụng đất, phân

khu chức năng và tiển hành chia lô đất xây dựng.

+ Quy hoạch hệ thống cây xanh và kiến trúc cảnh quan.

+ Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng, gồm : Quy hoạch hệ thống giao

thông, cấp nước, cấp điện, thông tin liên lạc, chuẩn bị kỹ thuật đất đai, thoát

nước mưa, nước bẩn và xử lý các chất thải độc hại; tổng hợp đường dây,

đường ống kỹ thuật.



18

+ Quy hoạch chỉ giới xây dựng, chỉ giới đường đỏ và các quy định kiểm

soát phát triển đến từng lô đất xây dựng.

+ Quy hoạch mặt bằng cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phải

bảo đảm mối quan hệ với các khu chức năng khác của điểm dân cư trong cơ

cấu quy hoạch chung thống nhất.

+ Tổ chức tốt môi trường lao động và bảo vệ môi trường xung quanh.

Bố trí dải cách ly vệ sinh giữa các cơng trình cơng nghiệp và khu dân cư.

Trong dải cách ly vệ sinh, tối thiểu 50% diện tích đất phải được trồng cây

xanh và khơng q 40% diện tích đất có thể được sử dụng để bố trí bãi đỗ xe,

trạm bơm, trạm xử lý nước thải, trạm trung chuyển chất thải rắn.

+ Mức độ phù hợp với quy hoạch, kế hoạch và tình hình phát triển kinh

tế - xã hội, yêu cầu quốc phòng - an ninh ; quy hoạch sử dụng đất của từng

địa phương; quy hoạch xây dựng vùng và đô thị; quy hoạch kết cấu hạ tầng kỹ thuật; quy hoạch sử dụng khoáng sản và các nguồn tài nguyên khác.

+ Quy mô KCN, CCN phải phù hợp với điều kiện kết cấu hạ tầng, khả

năng thu hút đầu tư, có cự ly vận tải thích hợp cả nguyên liệu và sản phẩm.

+ Có các điều kiện thuận lợi để xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ

thuật và hạ tầng xã hội, triển khai đồng bộ và kết hợp chặt chẽ giữa quy hoạch

phát triển KCN, CCN với quy hoạch phát triển đô thị, phân bố dân cư, nhà ở

và các cơng trình xã hội phục vụ lao động trong KCN, CCN.

+ Có quỹ đất dự trữ để phát triển và có điều kiện liên kết thành các cụm

đối với KCN.

1.2.2. Xây dựng cơ sở hạ tầng các KCN, CCN

Xây dựng cơ sở hạ tầng các KCN, CCN bao gồm hạ tầng kỹ thuật và hạ

tầng xã hội. Hạ tầng kỹ thuật bao gồm các cơng trình phục vụ cho hoạt động

KCN, CCN như: đường xá, hệ thống thốt nước mưa, bó vỉa, vỉa hè đường

quy hoạch , hệ thống thoát nước thải, hệ thống điện chiếu sáng, hệ thống cấp



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP, CỤM CÔNG NGHIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×