Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

5



sự đa dạng, phong phú của văn hóa kinh doanh quốc tế và phác thảo đời sống

văn hóa kinh doanh Việt Nam.

[4] Nguyễn Văn Dung (2010), Văn hóa doanh nghiệp và lãnh đạo, NXB Giao

thông vận tải đề cập tới định nghĩa văn hóa doanh nghiệp, lãnh đạo liên quan



tới văn hóa doanh nghiệp như thế nào. Cuốn sách còn trình bày tổng lược hệ

thống về một số khía cạnh mơ tả văn hóa mà nhà nghiên cứu và lãnh đạo cần

quan tâm, mơ tả bí quyết để giải mã văn hóa cho người bên trong và bên

ngồi doanh nghiệp từ đó đề cập cách thức các nhà sáng lập và nhà lãnh đạo

tạo lập và phát triển văn hóa.

[7] Nguyễn Mạnh Quân (2007), Đạo đức kinh doanh và văn hoá kinh doanh,

NXB Đại học Kinh tế Quốc dân đề cập tới đạo đức kinh doanh, Văn hoá doanh



nghiệp, trách nhiệm xã hội. Đồng thời cố gắng giải thích nguồn gốc cơ bản

của những mâu thuẫn thông qua sáu triết lý đạo đức điển hình có ảnh hưởng

chi phối đến hành vi con người trong kinh doanh và sự khác nhau trong cách

tiếp cận khu thực thi những nghĩa vụ cơ bản của doanh nghiệp về kinh tế,

pháp lý, đạo đức, nhân văn. Tài liệu cũng cung cấp những công cụ phân tích

và hoạch định giải pháp cho các vấn đề đạo đức; các biểu trưng, các mơ hình

và các nhân tố ảnh hưởng đến văn hóa doanh nghiệp.

[8] Nguyễn Mạnh Quân (2012), Chuyên đề Văn hóa doanh nghiệp có nội



dung khái quát văn hóa doanh nghiệp và các đặc trưng của nó. Sau đó, trình

bày các phương pháp để phân tích văn hóa doanh nghiệp, các triết lý để theo

đuổi và các triết lý trong một số mơ hình văn hóa doanh nghiệp điển hình.

Cuối cùng, chun đề hướng dẫn cách xây dựng phong cách về văn hóa

doanh nghiệp.

[10] Trần Ngọc Thêm (2000), Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục, thành

phố Hồ Chí Minh đề cập tới những tri thức cơ bản cần thiết cho việc tìm hiểu



6



một nền văn hóa, giúp nắm được các đặc trưng cơ bản cùng các quy luật hình

thành và phát triển văn hóa Việt Nam.

[14] Võ Thị Thạch (2011), Luận văn thạc sĩ “Xây dựng văn hóa doanh

nghiệp cho Cơng ty cổ phần dược y tế Quảng Nam”, Đại học Kinh tế Đà

Nẵng. Nội dung của đề tài là văn hóa doanh nghiệp của Công ty Cổ phần

Dược – Vật tư Y tế Quảng Nam, từ đó rút ra thực trạng về văn hóa doanh

nghiệp của cơng ty. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm xây

dựng và thay đổi văn hóa doanh nghiệp tại Cơng ty Cổ phần Dược Vật tư Y tế

Quảng Nam trong thời gian tới. Phương pháp được tác giả sử dụng trong đề

tài này là phương pháp nghiên cứu duy vật lịch sử và duy vật biện chứng,

phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích.

[18] Schein, Edgar H (1989), Organizational Culture and Leadership,

San Francisco: Jossey-Bass đã định nghĩa về văn hóa và cung cấp các mơ

hình cho cách tư duy về văn hóa. Đồng thời cung cấp các yêu tố cốt lõi để

phân tích văn hóa và đánh giá một vài loại hình văn hóa nổi bật đã được áp

dụng từ đó mơ tả các động lực tác động đến sự hình thành, phát triển và thay

đổi của văn hóa.



7



CHƯƠNG 1



LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XÂY DỰNG VĂN HÓA

DOANH NGHIỆP

1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.1.1. Khái niệm về văn hóa

Văn hóa là một thuật ngữ đa nghĩa. Đó là do bản thân các vấn đề văn hóa

rất phức tạp, đa dạng, do vậy, các nhà nghiên cứu có những cách tiếp cận khác

nhau dẫn đến nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm văn hóa.

- Tiếp cận về ngơn ngữ: Thuật ngữ văn hóa bắt nguồn từ châu Âu, tiếng

Pháp và tiếng Anh gọi là Culture, tiếng Đức gọi là Kultur. Các tiếng này lại

xuất phát từ tiếng La tinh là Cultus. Cultus có nghĩa là trồng trọt theo hai

nghĩa: Agriculture là trồng trọt cây ăn trái và cultus animis là trồng trọt tinh

thần. Vậy từ Cultus – văn hóa hàm chứa hai khía cạnh: trồng trọt cây ăn trái

tức là thích ứng với tự nhiên, khai thác tự nhiên và giáo dục, đào tạo con

người hoặc một cộng đồng để họ trở nên tốt đẹp hơn. Ở Phương Đông, trong

tiếng Hán cổ, từ văn hóa bao gồm văn là vẻ đẹp của nhân tính, cái đẹp của tri

thức, trí tuệ con người có thể đạt được bàng sự tu dưỡng của bản thân và cách

thức cai trị đúng đắn của nhà cầm quyền. Còn chữ hóa trong văn hóa là việc

đem cái văn (cái đẹp, cái tốt, cái đúng) để cảm hóa giáo dục và hiện thực hóa

đời sống trong thực tiễn. Như vậy, văn hóa trong từ nguyên của cả Phương

Đơng và Phương Tây đều có một nghĩa chung căn bản là sự giáo hóa, vun

trồng nhân cách của con người. [3, 8]

- Tiếp cận về quan niệm và cách hiểu: Khái niệm văn hóa được dùng

theo nhiều nghĩa, nhưng có thể quy về hai cách hiểu chính:

+ Hiểu theo nghĩa hẹp: văn hóa được giới hạn theo bề sâu hoặc bề rộng,

theo không gian, thời gian hoặc chủ thể. Giới hạn theo bề sâu, văn hóa được

hiểu là những giá trị tinh hoa, mang tính chất tinh thần (nếp sống văn hóa, văn



8



hóa nghệ thuật…). Giới hạn theo bề rộng, văn hóa được dùng để chỉ những

giá trị trong từng lĩnh vực (văn hóa ẩm thực, văn hóa kinh doanh) hoặc kiến

thức (trình độ văn hóa, học văn hóa), ứng xử (nếp sống văn hóa). Giới hạn

theo khơng gian, văn hóa được dùng để chỉ những giá trị đặc thù theo từng

vùng (văn hóa Nam Bộ, văn hóa Phương Đơng…). Giới hạn theo thời gian,

văn hóa được dùng để chỉ những giá trị của từng dân tộc, từng nhóm xã hội…

(văn hóa Việt Nam, văn hóa đại chúng, Văn hoá doanh nghiệp…). [3, 9]

+ Hiểu theo nghĩa rộng: Theo nghĩa này, định nghĩa văn hóa cũng có rất

nhiều

Năm 1874, trong cơng trình Văn hóa ngun thủy (xuất bản năm 1871), nhà

nhân chủng học người Anh Edward Burnett Tylor (1832-1917) đưa ra định nghĩa:

“Văn hóa là một tổng thể phức tạp gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức,

luật lệ, phong tục và tất cả nhũng khả năng, thói quen, tập quán mà con người đạt

được với tư cách là thành viên trong một xã hội”. [10, 4]

Vào năm 1943, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình bày một quan niệm về

văn hố: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, lồi người mới

sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn

giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn,

ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là

văn hố. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu

hiện của nó mà lồi người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời

sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. [2, 431]

Tháng 12 năm 1986, UNESCO phát triển thêm định nghĩa về văn hóa:

“Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của các cá nhân và các

cộng đồng trong quá khứ, hiện tại qua các thể kỷ hoạt đồng sáng tạo đã hình

thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và cách thể hiện, đó là những

yếu tố xác định tính cách riêng của mỗi dân tộc”. [3, 11]



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×