Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
f) Dư nợ cho vay theo ngành nghề:

f) Dư nợ cho vay theo ngành nghề:

Tải bản đầy đủ - 0trang

55



2011

1. Nông lâm ngư nghiệp 14200

2. Tiểu thủ công nghiệp,

1330

chế biến

3. Vận tải, xây dựng

0

4. Thương mại và dịch

13560

vụ

5. Ngành khác

200

Tổng

29290



16480



2012/2011

+/%

930

6,5%



2013/2012

+/%

1350 8,9%



1430



1450



100



7,5%



20



1,4%



0



0



0



0,0%



0



0,0%



16130



14520



2570



19,0%



-1610 -10,0%



100

32790



270

-100 -50,0% 170

170,0%

32720 3500 11,9%

-70

-0,2%

(Nguồn: Phòng Kế hoạch – kinh doanh)



2012



2013



15130



Theo dõi bảng số liệu trên có thể thấy: Đối với dư nợ hộ kinh doanh

ngắn hạn, hộ kinh doanh nông lâm ngư nghiệp, thương mại & dịch vụ tiếp tục

là hai nhóm hộ kinh doanh có ảnh hưởng chủ yếu, cụ thể:

Năm 2011, dư nợ ngắn hạn đối với hộ kinh doanh nông lâm ngư nghiệp

là 14.200 triệu đồng, con số này tăng nhẹ với tỷ lệ 6,5% (tương ứng 930 triệu

đồng) lên mức 15.130 triệu đồng trong năm 2012 và tiếp tục tăng với tỷ lệ có

phần cao hơn là 8,9% (tương ứng 1.350 triệu đồng), kéo con số tuyệt đối lên

mốc 16.480 triệu đồng.

Dư nợ ngắn hạn hộ kinh doanh tiểu thủ công nghiệp, chế biến có giá trị

1.330 triệu đồng vào năm 2011, sau đó tăng 7,5% (tương ứng 100 triệu đồng)

lên mức 1.430 triệu đồng trong năm 2012 và giảm tốc độ xuống 1,4% trong

năm 2013, tương ứng tăng 20 triệu đồng, dịch nhẹ lên 1.450 triệu đồng.

Năm 2011, hộ kinh doanh thương mại và dịch vụ có dư nợ ngắn hạn là

13.560 triệu đồng, sau khi tăng 19% (tương ứng 2570 triệu đồng) lên mức

16.130 triệu đồng vào năm 2012, con số này đã bất ngờ đổi chiều, giảm 10%

(tương ứng 1.610 triệu đồng) xuống còn 14.520 triệu đồng trong năm 2013.

Các hộ kinh doanh trong lĩnh vực khác có dư nợ ngắn hạn thấp hơn

nhiều với 200 triệu đồng vào năm 2011, sau đó giảm 50% (tương ứng 100



56

triệu đồng) xuống 100 triệu đồng trong năm 2012 và tăng 170% (tương ứng

170 triệu đồng) trở lại mức 270 triệu đồng tính đến cuối năm 2013.

Bảng 2.13: Cơ cấu dư nợ hộ kinh doanh ngắn hạn



Hộ kinh doanh

Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

1. Nông lâm ngư nghiệp

48,5%

46,1%

50,4%

2. Tiểu thủ công nghiệp, chế biến

4,5%

4,4%

4,4%

3. Vận tải, xây dựng

0,0%

0,0%

0,0%

4. Thương mại và dịch vụ

46,3%

49,2%

44,4%

5. Ngành khác

0,7%

0,3%

0,8%

Tổng cộng

100,0%

100,0%

100,0%

Về cơ cấu dư nợ hộ kinh doanh ngắn hạn, các nhóm hộ kinh doanh trong

hai lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp và thương mại dịch vụ thay phiên nhau giữ

tỷ trọng cao nhất trong tổng dư nợ ngắn hạn đối với hộ kinh doanh, cụ thể:

Năm 2011, dư nợ ngắn hạn của hộ kinh doanh nông lâm ngư nghiệp

chiếm tỷ trọng lớn nhất với 48,5%, ngay theo sát là con số 46,3% - tỷ trọng

dư nợ ngắn hạn của hộ kinh doanh thương mại và dịch vụ, nhỏ hơn rất nhiều

là mức tỷ trọng dư nợ hộ kinh doanh tiểu thủ công nghiệp, chế biến với 4,5%

và dư nợ ngắn hạn lĩnh vực khác với 0,7%.

Sang đến năm 2012, dư nợ ngắn hạn đối với hộ kinh doanh thương mại

và dịch vụ sau khi bám sát hộ kinh doanh nơng lâm ngư nghiệp đã nhanh

chóng tăng tốc vượt lên dẫn trước với tỷ trọng 49,2% trong tổng dư nợ ngắn

hạn đối với hộ kinh doanh, đẩy dư nợ hộ kinh doanh nông lâm ngư nghiệp

xuống 46,1%, cuộc đua về tỷ trọng này dường như là của riêng hai nhóm hộ

kinh doanh này khi mà các nhóm hộ kinh doanh tiểu thủ công nghiệp, chế

biến và ngành khác vẫn chậm chạp di chuyển xung quanh mức tỷ trọng lần

lượt là 4,4% và 0,3%.

Sau khi bị vượt mặt vào năm 2012, tỷ trọng dư nợ ngắn hạn hộ kinh

doanh nơng lâm ngư nghiệp đã nhanh chóng lấy lại vị trí của mình vào năm

2013 ngay sau đó với mức tỷ trọng lúc này đã vượt mốc 50% mà cụ thể là



57

50,4%, lớn hơn con số 44,4% - là mức tỷ trọng trong năm này của dư nợ ngắn

hạn hộ kinh doanh thương mại và dịch vụ.

f.2) Dư nợ hộ kinh doanh theo ngành nghề trong trung hạn:

Bảng 2.14: Dư nợ HKD trung hạn



(Đơn vị: triệu đồng)

Năm Năm Năm



Hộ kinh doanh



2011 2012 2013



1. Nông lâm ngư nghiệp

2. Tiểu thủ công nghiệp,



Chênh lệch

2012/2011

2013/2012

+/%

+/%

0

0,0%

0

0,0%



0

0,0%

0

0,0%

0

705

50

0

-655 0,0% -50

0,0%

0

0

0,0%

0

0,0%

0

0

0

0,0%

0

0,0%

705

50

0

-655 -92,9% -50 -100,0%

(Nguồn: Phòng Kế hoạch – kinh doanh)

Khác với sự đa dạng và sôi nổi trong cuộc chạy đua của các khoản dư nợ



chế biến

3. Vận tải, xây dựng

4. Thương mại và dịch vụ

5. Ngành khác

Tổng cộng



ngắn hạn, đường đua về dư nợ trung hạn đối với các hộ kinh doanh



chỉ có



duy nhất một thành viên là nhóm hộ kinh doanh vận tải, xây dựng. Tuy nhiên

sau hai năm xuất hiện với 705 triệu đồng vào năm 2011 và giảm mạnh về mức

50 triệu đồng trong năm 2012, dư nợ trung hạn hộ kinh doanh vận tải, xây

dựng cũng biến mất hoàn toàn khỏi cuộc đua tẻ nhạt, không đối thủ này.

2.2.6. Về tăng thu nhập

Bảng 2.15: Cơ cấu thu nhập tại chi nhánh



(Đơn vị: triệu đồng)

Chỉ tiêu

Lợi nhuận trước thuế

Thu dịch vụ ròng

(Khơng bao gồm KDNT

& PS)



Chênh lệch

2012/2011

2011 2012 2013 +/%

11323 8905 13202 -2418 -21,35

Năm



Năm



Năm



111



222



212



111



100,00



2013/2012

+/- %

4297

48,25

-10



-4,50



58

Thu ròng từ kinh doanh

ngoại tệ

Thu từ hoạt động tín

dụng

Thu từ hoạt động cho

vay HKD



24



13



22



-11



35323 38489 43990 3166

1321



1019



992



-302



-45,83



9



69,23



8,96



5501



14,29



-22,86



-27



-2,65



(Nguồn: Phòng Kế tốn – Ngân quỹ)

Theo dõi bảng số liệu có thể thấy:

Lợi nhuận trước thuế của ngân hàng năm 2011 là 11.323 triệu đồng, con

số này giảm khá mạnh trong năm 2012 với tỷ lệ 21,35% (tương ứng 2.418

triệu đồng) xuống 8.905 triệu đồng nhưng sang đến năm 2013 thì chỉ tiêu này

lập tức đổi chiều tăng tới 48,25% (tương ứng 4.297 triệu đồng) chạm mức

13.202 triệu đồng.

Thu dịch vụ ròng (khơng bao gồm KDNT & PS) năm 2011 là 111 triệu

đồng, con số này tăng gấp đôi trong năm 2012 lên 222 triệu đồng nhưng sau

đó lại giảm nhẹ 4,5% (tương ứng 10 triệu đồng) trong năm 2013 về mức 212

triệu đồng.

Thu ròng từ kinh doanh ngoại tệ năm 2011 là 24 triệu đồng, giảm

45,83% (tương ứng 11 triệu đồng) trong năm 2012 về mức 13 triệu đồng,

sang đến năm 2013 thì lại tăng trở lại với tỷ lệ 69,23 triệu đồng lên con số 22

triệu đồng.

Thu từ hoạt động tín dụng có giá trị lớn nhất với 35.323 triệu đồng vào

năm 2011, con số này tăng 8,96% (tương ứng 3.166 triệu đồng) lên 38.489

triệu đồng vào năm 2012 và tiếp tục tăng 14,29% (tương ứng 5.501 triệu

đồng) chạm mốc 43.990 triệu đồng vào cuối năm 2013.

Thu từ hoạt động cho vay lớn thứ hai, tuy nhiên lại giảm qua các năm,

cụ thể năm 2012 giảm 22,86% (tương ứng 302 triệu đồng) từ mức 1.321 triệu



59

đồng của năm 2011 xuống 1.019 triệu đồng và tiếp tục giảm nhẹ trong năm

2013 với tỷ lệ 2,65% (tương ứng 27 triệu đồng) về mức 992 triệu đồng.

2.2.7. Về kiểm soát rủi ro

Bảng 2.16: Tình hình nợ xấu HKD của Chi nhánh



(Đơn vị: triệu đồng)

Chênh lệch

Năm Năm Năm

Đối tượng

2012/2011

2013/2012

2011 2012 2013 +/%

+/%

Hộ kinh doanh 0

0

410 0

410

Đối tượng khác 493

408 1005 -85 -17,24 597

146,32

Tổng

493

408 1415 -85 -17,24 1007 246,81

(Nguồn: Phòng Kế hoạch – Kinh doanh)

Qua bảng số liệu trên có thể thấy, trong hai năm 2011 và 2012, nợ xấu

của ngân hàng được cố gắng duy trì theo hướng giảm xuống, từ 493 triệu

đồng xuống 408 triệu đồng, trong đó khơng hề có khoản nợ xấu nào đến từ

các hộ kinh doanh. Tuy nhiên, sang đến năm 2013, nợ xấu của ngân hàng tăng

vọt với tỷ lệ vô cùng mạnh là 246,82%, tương ứng với đó là 1.007 triệu đồng

lên mức 1.415 triệu đồng, trong 1.007 triệu đồng nợ xấu tăng lên đó thì có tới

40,71%- tương ứng 410 triệu đồng là có liên quan đến các hộ kinh doanh, con

số này chiếm tới 29,00% tổng nợ xấu của ngân hàng. Sự tăng lên bất ngờ là

một lời cảnh tỉnh cho công tác quản trị rủi ro tín dụng nói chung của chi

nhánh và quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay đối với hộ kinh doanh nói

riêng.

Biểu đồ 2.6: Biểu đồ nợ xấu cho vay HKD so với tổng nợ xấu của Agribank chi

nhánh Krông Năng – Buôn Hồ giai đoạn 2011 - 2013



60



2.3. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH CHO VAY ĐỐI VỚI HKD TẠI NHNo&

PTNT – CHI NHÁNH KRÔNG NĂNG – BUÔN HỒ

2.3.1.



Kết quả đạt được



Đội ngũ cán bộ của Ngân hàng, đặc biệt là CBTD chăm chỉ, có tinh thần

trách nhiệm cao. Trong quá trình cho vay, CBTD tuân thủ nghiêm túc quy

trình nghiệp vụ, chịu khó đi xuống cơ sở để kiểm tra việc sử dụng vốn vay

của khách hàng, đôn đốc khách hàng trả nợ đúng hạn. Đội ngũ CBTD chính là

nhân tố góp phần quan trọng vào việc hạn chế nợ quá hạn của Ngân hàng.

Mặc dù nguồn vốn huy động năm 2013 có giảm đi đơi chút so với năm

2012, nhưng nhìn chung nguồn vốn huy động của chi nhánh liên tục ổn định

và duy trì ở mức cao, có thể xem đây là một thế mạnh của Chi Nhánh. Trong

thời gian tiếp theo chi nhánh vẫn cần phải chú trọng công tác tăng trưởng vốn

huy động. Với khả năng đó Chi Nhánh đáp ứng được đầy đủ nhu cầu vay của

mọi khách hàng cá nhân, hộ gia đình, đặc biệt là đầu tư phát triển vào lĩnh vực

hoạt động cho vay hộ kinh doanh vốn còn mới mẽ với chi nhánh.

Cho vay nhiều HKD góp phần cải thiện đời sống kinh tế của địa phương.

Ngân hàng chủ trương cấp vốn kịp thời cho các hộ gia đình và cá nhân có nhu

cầu vay vốn để phục vụ kinh doanh. Về các chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng

về số lượng khách hàng, dư nợ cho vay hộ kinh doanh có chiều hướng tăng.



61

Dư nợ cho vay đối với các hộ kinh doanh trong lĩnh vực nông lâm ngư

nghiệp, thương mại và dịch vụ luôn chiếm tỷ trọng cao.

Thời gian xét duyệt thẩm định cho vay hộ kinh doanh đã rút ngắn xuống

còn 2 - 5 ngày tùy theo giá trị và mục đích món vay. Việc rút ngắn thời gian

như vậy giúp cho chi nhánh tăng được lợi thế cạnh tranh so với các Ngân

Hàng khác, và khách hàng cảm thấy hài lòng hơn về các dịch vụ của Chi

nhánh.

Chất lượng cho vay hộ kinh doanh của Chi Nhánh nhìn chung tốt do

Ngân Hàng ban hành các thể lệ và điều kiện cho vay chặt chẽ. Tỷ lệ nợ xấu

Chi nhánh liên tục được kiểm soát ở tỷ lệ dưới 1%, thấp nhất trong toàn hệ

thống Agribank Bn Hồ.

Bên cạnh đó Chi nhánh cũng thực hiện trích lập dự phòng rủi ro tín dụng

đầy đủ, đồng thời tích cực thu nợ các khoản đã hạch tốn ngoại bảng, tăng

thêm nguồn thu cho ngân hàng.

Tóm lại tình hình hoạt động cho vay của Chi Nhánh nói chung và của

ngành cho vay hộ kinh doanh nói riêng nhìn chung là có nhiều triển vọng phát

triển. Chi nhánh đang từng bước gắn mình với sự phát triển của kinh tế hộ gia

đình trên địa bàn. Thơng qua hoạt động cho vay, có quan hệ mật thiết hơn với

các hộ kinh doanh thường xuyên có mối liên hệ với Ngân hàng, vừa gửi tiền

lại vừa vay vốn của Ngân hàng. Trong thời kỳ mà nhu cầu kinh doanh của các

hộ gia đình ngày càng tăng mạnh, nhu cầu vay vốn càng nhiều thì Chi Nhánh

đã hồn thành tương đối tốt, thỏa mãn được nhu cầu khách hàng. Dù vậy do

đây là sản phẩm còn mới nên vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế cần phải được giải

quyết nhằm tiến tới một hoạt động cho vay hoàn hảo hơn, đem lại nhiều kết

qủa tốt hơn cho Chi Nhánh.



62

2.3.2.

a)



Hạn chế và nguyên nhân



Hạn chế



Tỷ trọng dư nợ cho vay HKD thuộc diện nhỏ rất nhiều so với tổng dư nợ

cho vay. Tốc độ tăng trưởng khách hàng và dư nợ cho vay HKD tăng chậm

hơn nhiều so với toàn chi nhánh, thậm chí còn giảm nhẹ.

Đối tượng cho vay HKD bị hạn chế ngành nghề. Chi nhánh chỉ tập trung

vào các khách hàng vay thuộc lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp, thương mại và

dịch vụ. Lĩnh vực kinh doanh tiểu thủ công nghiệp, chế biến, vận tải, xây

dựng và ngành khác vẫn chưa được quan tâm, chú trọng hỗ trợ nhiều. Mặc dù

phương châm hoạt động là đáp ứng mọi nhu cầu khách hàng nhưng lại không

đáp ứng được hết.

Ngân hàng chủ yếu cho vay HKD với những kỳ hạn ngắn, các HKD

chưa có nhiều cơ hội để được tiếp cận với các khoản vay trung và dài hạn.

Nợ xấu đối với các khoản cho vay HKD tăng lên đột biến vào năm 2013,

với con số 410 triệu đồng, chiếm tới 29,00% tổng nợ xấu của chi nhánh. Chất

lượng tín dụng chưa đồng đều giữa các nhóm khách hàng và nợ quá hạn có xu

hướng rơi vào một số hộ kinh doanh.

Hoạt động Marketing của Chi Nhánh còn nhiều yếu kém và mang tính

thụ động dẫn dến đối tượng vay khơng mở rộng nhiều. Khách hàng chủ yếu là

khách hàng truyền thống, lĩnh vực còn đơn điệu.

Lãi suất cho vay HKD là 11 %/ năm và bằng mức lãi suất tối đa mà

Agribank quy định. Như vậy có thể nói chi nhánh có mức lãi suất khơng cạnh

tranh so với các Ngân Hàng khác. Ngồi ra trong thời kì kinh tế khủng hoảng,

đồng tiền mất giá hiện nay thì với mức lãi suất như vậy là cao và không thu

hút được khách hàng.

b) Nguyên nhân



- Nguyên nhân chủ quan



63

Chi nhánh chỉ mới đưa ra sản phẩm cho vay hộ kinh doanh từ năm 2009,

nếu so với các sản phẩm cho vay truyền thống khác được triển khai từ khi

thành lập chi nhánh như cho vay hộ sản xuất thì sản phẩm cho vay HKD là

sản phẩm mới. Do đó chi nhánh vẫn chưa ở trạng thái mạnh dạn, chưa dám

đầu tư nhiều cả về nhân lực, nguồn lực vào sản phẩm nhằm chú trọng phát

triển mạnh mẽ sản phẩm này. Chi nhánh còn mang tâm lý ngại các khoản vay

nhỏ có rủi ro cao, khi nhận thấy một vài rủi ro là chi nhánh khơng dám đưa ra

quyết định cho vay vì không thể dành nhiều thời gian và nguồn lực cho việc

phân tích các rủi ro đó. Dẫn đến hoạt động cho vay HKD vẫn ở mức nhận

thấy đảm bảo độ chắc chắn và đảm bảo chất lượng vay tuyệt đối mới quyết

định cho vay. Điều này gây khó khăn cho việc tăng trưởng số lượng khách

hàng và dư nợ.

Số lượng cán bộ của phòng kế hoạch – kinh doanh quá ít, chỉ có 05 cán

bộ tín dụng tại phòng kế hoạch – kinh doanh. Tức là ngồi cơng tác báo cáo

tổng hợp hàng tháng, quý, huy động vốn, phát triển sản phẩm, dịch vụ… hiện

nay mỗi cán bộ tín dụng phụ trách tới 60 tỷ đồng tiền dư nợ cho vay của khách

hàng ( Do các món vay nhỏ nên số dư nợ này tương ứng với hơn 500 khách hàng

trên một cán bộ tín dụng). Như vậy tạo nên sức nặng và khó khăn với nhân viên

tín dụng. Dẫn đến hoạt động cho vay HKD của Chi Nhánh khó có thể phát triển

thêm đối tượng cho vay và ngành nghề cho vay được. Chi nhánh chưa đủ khả

năng, năng lực để phát triển kinh doanh đa dạng và đáp ứng tất cả các nhu cầu

khách hàng. Mặt khác số lượng nhân viên ít cũng ảnh hưởng đến thời gian xử lý

thủ tục cho khách hàng bị chậm lại.

Các cán bộ, công nhân viên trong chi nhánh thuộc lĩnh vực này chưa nhiều

kỹ năng do phần lớn đều là các nhân viên tốt nghiệp hệ cao đẳng, tại chức. Thời

gian tích lũy kinh nghiệm thực tế cho hoạt động cho vay này chưa cao.



64

Ngân hàng chỉ cho vay đối với những hộ có quan hệ trước, những người lần

đầu tiên đến vay phải đợi một thời gian dài cho cán bộ tín dụng thẩm định mới

được vay làm mất thời gian, công đi lại của người dân và hiệu quả của phương án

kinh doanh mà họ dự định tiến hành sẽ giảm đi, ngân hàng chưa tập trung khai

thác lượng khách hàng tiềm năng này. Quản lý Chi Nhánh cũng chưa có các đề

xuất hay dự án nhằm khuyến khích nhân viên chủ động tìm đến khách hàng giúp

tăng tính cạnh tranh của Ngân hàng và tăng thêm lượng khách hàng vay.

- Nguyên nhân khách quan

Do địa bàn kinh doanh rộng, khách hàng chủ yếu là hộ sản xuất, hộ kinh

doanh chiếm tỷ lệ thấp, ở vùng nông thôn cho vay vốn món nhỏ, trong khi đó hình

thức vay trực tiếp là chủ yếu, nên đã có biểu hiện quá tải về cơng việc đối với

CBTD.

Thủ tục cho vay còn rườm rà, mất nhiều thời gian cho khách hàng và cán bộ

tín dụng. Bởi người nơng dân có thu nhập đầu người chưa cao, trình độ dân trí

thấp, tâm lý rụt rè trong kinh doanh, khi tới ngân hàng vay vốn phải làm nhiều thủ

tục rắc rối đôi khi khiến họ ngại trong giao dịch, vì thế họ thường vay bên ngồi,

tuy lãi suất cao nhưng nhanh chóng đảm bảo được kế hoạch của họ và không làm

nhiều giấy tờ. Điều này làm giảm hiệu quả cho hoạt động tín dụng của ngân hàng.

Tình hình kinh doanh dịch vụ trên địa bàn huyện Krơng Năng quy mơ hoạt

động nhỏ, trình độ quản lý kinh doanh yếu kém, chưa có nhiều kinh nghiệm và

hiểu biết đầy đủ trong lĩnh vực kinh doanh và thị trường ,sử dụng vốn vay chưa

được tốt, hiệu quả kinh tế còn thấp, chứa đựng nhiều rủi ro, tỷ lệ thu hồi vốn thấp.

Mặt khác Ngân Hàng sẽ khó thu hồi nếu hộ kinh doanh gặp rủi ro và lâm vào phá

sản.

Sự cạnh tranh giữa các Ngân Hàng với nhau ngày càng gay gắt. Làm cho

việc phát triển hoạt động cho vay HKD của Ngân hàng càng gặp nhiều khó khăn.

Và khó khăn hơn khi các Ngân Hàng khác đã hình thành sản phẩm này từ lâu và



65

đang trên con đường phát triển bền vững, ổn định, còn chi nhánh lại mới cho ra

đời sản phẩm này và đang trên con đường xây dựng, hoàn thiện.

Các thủ tục hành chính tại Việt Nam còn phức tạp, khó khăn nên ảnh hưởng

đến thời gian làm thủ tục, giấy tờ của Chi Nhánh. Như thẩm định, kiểm tra tài sản

bảo đảm, chứng nhận,...Vì vậy dẫn đến thủ tục cho vay mất nhiều thời gian và

công sức.

KẾT LUẬN CHƯƠNG II

Như vậy, trên cơ sở lý luận đã trình bày ở chương 1, sau khi xem xét kết quả

hoạt động kinh doanh trong giai đoạn 2011 – 2013, chương 2 của luận văn tập

trung phân tích, đánh giá tình hình cho vay HKD tại chi nhánh.

Luận văn đã dựa trên các tiêu chí đánh giá tình hình cho vay HKD đã đề xuất

ở chương 1, dựa vào các dữ liệu thực tế để đánh giá những kết quả đạt được,

những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó. Và đây chính là những

mục tiêu cần được khắc phục bởi các giải pháp ở chương 3 sau đây.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

f) Dư nợ cho vay theo ngành nghề:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×