Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
d. Lý thuyết các bên có liên quan (stakeholder theory)

d. Lý thuyết các bên có liên quan (stakeholder theory)

Tải bản đầy đủ - 0trang

21

hành vi mang tính chính trị từ tác động bên ngồi (như Nhà nước, nghiệp

đồn hay các nhóm cộng đồng). Lần đầu tiên lý thuyết chi phí chính trị được

Watts, Zimmerman (1978) giới thiệu cho kết quả đó là doanh nghiệp lớn có

chi phí chính trị cao hơn doanh nghiệp nhỏ, các công ty sẽ CBTT nhiều hơn

để giảm các chi phí chính trị này. Nghiên cứu trên lập luận rằng tầm quan

trọng của chi phí chính trị phụ thuộc nhiều vào quy mô doanh nghiệp. Quy

mô doanh nghiệp là một biến đại diện cho sự chú ý chính trị. Lý thuyết này

cho rằng các nhà quản lý nhà nước có thể ra các quyết định ảnh hưởng liên

quan đến lợi ích cơng ty ví dụ như chính sách thuế, hạn chế độc quyền,…dựa

trên các thông tin đã được doanh nghiệp công bố. Theo Lang và Lundholm

(1993) một mức độ CBTT cao hơn mong đợi sẽ ủng hộ cho một mức lợi

nhuận lớn hơn cho cơng ty vì vậy tránh đi trách nhiệm pháp lý và cũng như

một sự biện minh cho mức độ lợi nhuận của công ty Giner, B., (1997). Chi

phí chính trị và mơi trường cạnh tranh cũng ảnh hưởng đến mức độ quản trị

lợi nhuận trên BCTC. Mối quan hệ giữa chi phí chính trị và mức độ quản trị

lợi nhuận trong CBTT trên BCTC cũng được kiểm nghiệm thực nghiệm thông

qua các nghiên cứu của Cooke, T.E., (1989), Dumontier, P., và B. Raffournier

(1998), Inchausti, B. G (1997).

Bên cạnh đó, những chi phí chính trị ảnh hưởng đến lợi nhuận doanh

nghiệp, điều này dẫn đến khả năng NQL hạn chế chi phí chính trị bằng cách

quản trị lợi nhuận.

f. Lý thuyết tín hiệu (Signalling theory)

Vào năm 1973, Spence là người tiên phong cho ra đời lý thuyết tín hiệu.

Theo lý thuyết này khi có sự tồn tại của sự bất cân xứng thơng tin, lý thuyết

tín hiệu đưa ra một trạng thái cân bằng trong đó đối tượng có lợi thế về thơng

tin tốt hơn là nên cung cấp một số tín hiệu (thí dụ các thơng tin thích hợp) cho

các đối tượng khác. [18]



22

Khi áp dụng lý thuyết tín hiệu trong thị trường tài chính sự bất cân xứng

thơng tin có thể xuất hiện giữa nhà quản lý và các đối tượng khác như cổ

đông, chủ nợ, nhân viên…Khi đó theo lý thuyết tín hiệu nhà quản lý cần cung

cấp thơng tin (tín hiệu) cho thị trường để các đối tượng khác đánh giá đúng về

thực trạng kinh tế của DN. Theo đó nhà quản lý phải cung cấp một tín hiệu về

tình trạng của cơng ty cho chủ sở hữu. Tín hiệu có thể được thực hiện qua

CBTT của thơng tin kế tốn như BCTC. Thơng tin kế tốn được trình bày

trong BCTC là một trong những thơng tin chính mà các nhà đầu tư, các chủ

nợ, cổ đông cần được cung cấp để họ đánh giá được hiệu quả sử dụng vốn của

công ty. Tín hiệu mà Nhà quản trị tung ra thị trường càng tốt thì lợi ích đem

lại càng cao, càng thúc đẩy hành vi quản trị lợi nhuận nhiều hơn.

1.2. CÁC MƠ HÌNH NHẬN DIỆN HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN

CỦA NHÀ QUẢN TRỊ

1.2.1. Nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận

Để nhận diện hành động điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị có thể có

nhiều phương pháp khác nhau, cụ thể là trực tiếp kiểm tra đối chiếu giữa báo

cáo tài chính với các chứng từ sổ sách liên quan của những doanh nghiệp nghi

ngờ có khả năng điều chỉnh lợi nhuận. Tuy nhiên, phương pháp này khó có

thể thực hiện vì người sử dụng thơng tin khó tiếp cận sổ sách kế tốn của

doanh nghiệp. Thơng thường thì phương pháp này chỉ có thể được thực hiện

bởi cơ quan có thẩm quyền như thanh tra, kiểm tốn, ... Hơn nữa, khi có sự

kiểm tra của thanh tra, kiểm tốn cũng khó phát hiện vì như đã nói ở trên,

điều chỉnh lợi nhuận được thực hiện trong khuôn khổ các nguyên tắc kế toán.

Từ những vấn đề ở trên, các nhà nghiên cứu đã đưa ra các mô hình để

nhận diện việc điều chỉnh lợi nhuận. Cụ thể, dựa vào cơ sở kế toán được vận

dụng để lập báo cáo tài chính cụ thể là báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

và báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Báo cáo kết quả kinh doanh được lập dựa trên



23

cơ sở dồn tích. Theo cơ sở này, mọi giao dịch liên quan đến tài sản, nguồn

vốn, nợ phải trả, doanh thu, chi phí được ghi nhận tại thời điểm phát sinh giao

dịch, không quan tâm đến thời điểm thực tế thu hoặc chi tiền. Lợi nhuận được

xác định trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là phần chênh lệch giữa

doanh thu và chi phí phát sinh trong kỳ. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập

dựa trên cơ sở tiền. Theo cơ sở này, các nhà quản trị chỉ được ghi nhận khi có

số tiền thực thu và thực chi. Vì thế khơng thể điều chỉnh thời điểm ghi nhận

các giao dịch. Từ đó, chênh lệch giữa lợi nhuận trong báo cáo kết quả hoạt

động kinh doanh và dòng tiền trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ tạo ra những

biến kế toán mà các nhà nghiên cứu thường gọi là accruals. Hay nói cách khác

accruals là phần lợi nhuận kế tốn khơng bằng tiền được trình bày trong báo

cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Do dòng tiền từ hoạt động kinh doanh

không thể điều chỉnh, để điều chỉnh lợi nhuận các nhà quản trị phải nhận diện

được các biến kế tốn dồn tích và điều chỉnh các biến này. Theo các nhà

nghiên cứu, tổng biến kế tốn dồn tích (TA – total accruals) bao gồm 2 phần:

một phần gọi là accruals không thể điều chỉnh (NDA-nondiscretionary

accruals), phần còn lại gọi là accruals được điều chỉnh từ hành động điều

chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị (DA- discretionary accruals).

Trong đó: DA là lợi nhuận có được thơng qua vận dụng các chính sách

kế tốn. Vì DA khơng thể quan sát trực tiếp nên để đo lường các nhà nghiên

cứu xác định phần NDA. Do đó mơ hình nghiên cứu hành vi quản trị lợi

nhuận thực chất là mơ hình xác định NDA.

1.2.2. Các mơ hình nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận

Để xác định NDA, các nhà nghiên cứu chủ yếu sử dụng 4 mơ hình sau:

a. Mơ hình của Healy (1985)

Theo quan điểm của Healy, NDA chính là trung bình của tổng biến dồn

tích của các năm trước:



24

NDAit = ∑t (TAit / A it-1 )/n → DAit = TAit / A it-1 - NDAit

Trong đó:

n: số năm trong kỳ ước tính

t: năm nghiên cứu

i: cơng ty i cần nghiên cứu

Trong mơ hình Healy, khi khơng có hành động quản trị lợi nhuận thì DA

= 0 và TA ~ NDA. NDA chính là trung bình của TA. Hay khi đó NDA khơng

thay đổi qua các năm.

Hạn chế: Ưu điểm của mơ hình này là đơn giản, dễ tính tốn. Tuy nhiên

mơ hình này có một hạn chế khi cho rằng, NDA không thay đổi theo thời

gian. Thực tế thì NDA liên quan đến mức hoạt động của doanh nghiệp, khi

mức hoạt động thay đổi như tăng trưởng về hoạt động, thay đổi tình trạng

kinh tế sẽ dẫn đến NDA thay đổi. Việc khơng kiểm sốt được các biến này

làm cho phần NDA khơng chính xác và từ đó, đo lường phần DA bị sai lệch.

b. Mơ hình của DeAngelo (1986)

Mơ hình của DeAngelo giả định rằng các thành phần NDA sinh ra là

ngẫu nhiên và bằng với TA của thời kỳ t-1 hay nói cách khác NDA khơng

thay đổi qua hai năm, do đó sự thay đổi trong TA giữa thời kỳ t và t-1 được

giả đỉnh là do việc thực hiện các điều chỉnh kế toán. Cụ thể như sau:

NDAit = TAit-1 / A it-2; Trong đó phần có thể điều chỉnh DA it = TAit / A it-1 NDAit

Hạn chế: mơ hình của DeAngelo khơng thật sự chính xác nếu các cơng

ty này có xu hướng phát triển. Nếu yếu tố tăng trưởng bị bỏ qua, sự thay đổi

trong tổng số biến kế toán dồn tích (TA) ở thời kỳ t có thể được xác định

khơng chính xác, do những thay đổi trong biến kế tốn khơng thể điều chỉnh

(NDA) phụ thuộc vào sự tăng trưởng. Từ đó làm cho việc xác định biến kế

tốn có thể điều chỉnh (DA) khơng còn chính xác. Điều này có thể dẫn đến



25

kết luận khơng đúng về việc thực hiện các điều chỉnh kế toán để lập báo cáo

tài chính của nhà quản trị.

c. Mơ hình của Jones (1991)

Mơ hình Jones (1991) xây dựng trên cơ sở phần NDA phụ thuộc vào

doanh thu và quy mô của ngun giá TSCĐ. Do đó, mơ hình Jones sử dụng

mức biến động về doanh thu thuần và nguyên giá TSCĐ để tính tốn NDA.

Cụ thể như sau:

NDAit / Ait-1 = α1 / Ait-1 + α 2 ΔREVit / Ait-1 + α 3 PPEit / Ait-1

Trong đó:

ΔREV: doanh thu thuần kỳ t – doanh thu thuần kỳ t-1

PPEt: Nguyên giá TSCĐ hữu hình + ngun giá TSCĐ th tài chính +

ngun giá BĐS đầu tư + chi phí xây dựng cơ bản dở dang cuối kỳ t

Ait-1: Tổng tài sản cuối kỳ t-1

α1, α 2, α 3: các tham số của từng cơng ty được tính bằng ước lượng bình

phương nhỏ nhất OLS (ordinary least square) của a1, a2, a3 trong mơ hình sau:

TAit/Ait-1 = a1/Ait-1 + a2 ΔREVit / Ait-1 + a3 PPEit / Ait-1 + ε

Mơ hình Jones do Dechow, Sloan và Sweeney (1995) cải tiến bằng cách

bổ sung thêm sự thay đổi của phải thu khách hàng (ΔREC). Mơ hình

Modified Jones (1995):

NDAit / Ait-1 = α1 / Ait-1 + α 2 (ΔREVit - ΔRECit)/ Ait-1 + α 3 PPEit / Ait-1

Trong đó:

ΔREC = phải thu khách hàng kỳ t – phải thu khách hàng kỳ t-1

Hạn chế: Mô hình Jones ngầm ẩn cho rằng, doanh thu là phần không thể

điều chỉnh. Tuy nhiên trong thực tế, nhà quản trị có thể điều chỉnh lợi nhuận

thơng qua doanh thu bằng cách đẩy nhanh hoặc chậm lại việc ghi nhận các

giao dịch kinh tế để ghi nhận doanh thu vào một kỳ nào đó. Để khắc phục hạn

chế này, Dechow và các cộng sự (1995) đã đề xuất một phiên bản sửa đổi của



26

mơ hình Jones bằng việc thay thế biến biến động doanh thu bằng biến biến

động doanh thu bằng tiền. Biến biến động doanh thu bằng tiền là phần chênh

lệch giữa biến động doanh thu thuần bán hàng và biến động của khoản phải

thu khách hàng. Do đó, phiên bản sửa đổi của mơ hình Jones (Modified Jones

Model) đã khắc phục được hạn chế trên khi sử dụng biến biến động doanh thu

bằng tiền để kiểm soát NDA thay vì dùng biến biến động doanh thu. Bên cạnh

những ưu điểm, mơ hình Jones cũng có hạn chế về mặt số liệu tính tốn vì để

tính tốn được bằng mơ hình Jones phải thu thập một cơ sở số liệu rất lớn.

d. Mơ hình ngành của Dechow và Sloan (1991)

Mơ hình ngành của Dechow và Sloan cho rằng NDA là chung cho các

doanh nghiệp trong cùng ngành. Từ đó, NDA được tính tốn thơng qua

nghiên cứu thực tế ngành. Cụ thể như sau:

NDAit = β1 + β2 medianl TAit/Ait-1

Trong đó:

β1, β2: được tính bằng ước lượng OLS trong kỳ nghiên cứu

 Sau khi xác định biến kế toán dồn tích khơng thể điều chỉnh NDA,

các nhà nghiên cứu sẽ xác định biến kế tốn dồn có thể điều chỉnh DA dựa

trên kết quả tính tốn và đưa ra kết luận:

Trường hợp:

DAit > 0 → Điều chỉnh tăng lợi nhuận

DAit < 0 → Điều chỉnh giảm lợi nhuận

DAit = 0 → Không điều chỉnh lợi nhuận

Hạn chế: Về sau Dechow và Sloan đã phát hiện những hạn chế trong mơ

hình của mình. Theo Dechow và các cộng sự (1995), mơ hình ngành loại bỏ

những biến động đến từ những tình trạng cụ thể của mỗi doanh nghiệp. Mặt

khác, mơ hình này chỉ hợp lý nếu biến kế tốn dồn tích và mục tiêu quản trị

lợi nhuận của các doanh nghiệp trong cùng ngành phải có sự tương quan rất



27

chặt chẽ sau khi kiểm soát các biến tiềm tàng khác (Dechow và các cộng sự,

1995). Nếu biến động của các biến động của các yếu tố quyết định đến biến

kế toán khơng thể điều chỉnh NDA có sự khác biệt giữa các cơng ty trong

cùng ngành thì mơ hình này có sai số, việc đo lường NDA khơng còn chính

xác nữa.

1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI

NHUẬN

1.3.1. Nhân tố về nhóm ngành ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi

nhuận

Việt Nam với dân số đông thứ ba ở khu vực Đông Nam Á, gần 70% dân

số thuộc độ tuổi lao động (16- 60 tuổi), là thị trường lớn của ngành sản xuất

hàng tiêu dùng. Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày một sâu rộng, thu

nhập bình quân đầu người ngày càng được cải thiện, là động lực thúc đẩy

ngành sản xuất hàng tiêu dùng phát triển mạnh mẽ. Chính vì lẽ đó, mà hàng

loạt các DN ra đời với nhiều mẫu mã, sản phẩm đa dạng để phục vụ cho nhu

cầu tiêu dùng của người dân, dẫn đến cạnh tranh rất quyết liệt.

Tùy thuộc vào đặc tính riêng của mỗi nhóm ngành, mà phương cách sản

xuất, kinh doanh, marketing,…cũng như các chính sách hạch toán kế toán

cũng sẽ khác nhau. Tận dụng được khe hở đó, mà các nhà quản trị có thể dễ

dàng vận dụng các chính sách kế tốn để điều chỉnh lợi nhuận trên báo cáo tài

chính, nhằm mục đích có lợi có DN.

Trên thế giới hiện nay, có một số nghiên cứu nổi bật về mối quan hệ giữa

hành vi quản trị lợi nhuận theo nhóm ngành như : Raghuveer Kaur (2014),

Detecting Earnings Management in India: A sector-wise study, trên tạp chí

European Journal of Business and Management nghiên cứu về 6 lĩnh vực

ngành lớn tại Ấn Độ.

Hay nghiên cứu của Jose’ Elias Feres de Almeida & Alexsandro Broedel



28

Lopes (2014), Earnings Management and Industry Classification in Brazil: an

Exploratory Investigation: A sector-wise study trên Fucape Producao

Cientifica Brazil. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu vẫn chưa tìm ra được sự khác

biệt giữa mức độ hành vi quản trị lợi nhuận theo ngành.

Theo phạm vi tìm hiểu của tác giả, tại Việt Nam hiện nay chưa có một

nghiên cứu chuyên sâu nào đề cập đến vấn đề sự khác biệt giữa các nhóm

ngành dẫn có ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận.

Chính vì vậy, đây cũng vừa là thách thức vừa là động lực giúp tác giả đi

sâu tìm hiểu, nghiên cứu về vấn đề này.

1.3.2. Nhân tố về quy mô của doanh nghiệp ảnh hưởng đến hành vi

quản trị lợi nhuận

Lợi nhuận là mục tiêu cơ bản nhất của mỗi doanh nghiệp, bởi nó giúp

DN tồn tại và phát triển bền vững. Do đó, lợi nhuận ln là mối quan tâm

hàng đầu của các nghiên cứu, kể cả lý thuyết và thực nghiệm. Nghiên cứu đã

chỉ ra rằng lợi nhuận của DN chịu ảnh hưởng của yếu tố vi mô (ở cấp độ DN)

cũng như yếu tố vĩ mơ. Trong đó mối quan hệ đa dạng giữa quy mô và lợi

nhuận của DN ln gây ra nhiều tranh cãi, chính sự tác động đó mà các nhà

quản trị đã tận dụng yếu tố quy mô để điều chỉnh lợi nhuận, làm sai lệch đi

các thông tin trên BCTC, thúc đẩy sự ra đời của nhiều nghiên cứu ở các nước

trên thế giới về chủ đề này.

Theo phát biểu của Lê Khương Ninh (2012) dựa trên các nghiên cứu trên

thế giới của FitzRoy (1989) cho rằng quy mơ có ảnh hưởng tích cực đến lợi

nhuận nhờ tính kinh tế của quy mơ nhưng Goddard và cộng sự (2005) khẳng

định điều ngược lại. Các nghiên cứu khác như Amato & Amato (2004),

Amato & Burson (2007), Aggrey & các tác giả (2010), Becker-Blease & các

tác giả (2010) đã chứng minh quy mô ảnh hưởng cả tích cực lẫn tiêu cực đến

lợi nhuận của DN. [7]



29

Tuy nhiên các kết luận trên có phù hợp với đặc thù của từng quốc gia,

từng vùng, từng địa phương hay không lại là vấn đề cần được kiểm chứng

bằng thực nghiệm để từ đó có chính sách hỗ trợ DN khắc phục một cách hiệu

quả nhất các hạn chết bắt nguồn từ sự thay đổi của quy mô.

1.3.3. Nhân tố về sàn niêm yết ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi

nhuận

Căn cứ theo Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20/7/2012 (Bảng 2.3)

Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán

và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán quy định về công

bố thông tin trên hai sàn HoSE và HNX. Tác giả nhận thấy có sự khác biệt rõ

rệt về quy định niêm yết giữa hai sàn Hồ Chí Minh và Hà Nội.

Chính sự khác biệt đó có tác động đến mức độ chính xác của thơng tin

cơng bố trên BCTC của các DN. Sàn niêm yết có quy định càng chặt chẽ, cụ

thể, thì mức độ chuẩn xác của thông tin càng cao, khả năng các nhà quản trị

vận dụng các chính sách kế tốn để điều chỉnh lợi nhuận, làm “méo mó”

thơng tin trên BCTC càng thấp.

Hiện nay, trên thế giới có các nghiên cứu liên quan đến hành vi quản trị

lợi nhuận với mức độ bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư. Sở dĩ, tác giả đề cập đến

mức độ bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư là bởi vì trong nền kinh tế hiện nay, các

nhà quản lý thường quan tâm đến lợi ích của mình như việc hồn thành chỉ

tiêu kế hoạch, hay thăng tiến trong cơng việc, đó là động lực thúc đẩy các nhà

quản lý có hành vi quản trị lợi nhuận để đạt được lợi ích. Và để đảm bảo cho

lợi ích của các nhà đầu tư trong việc sử dụng các thơng tin trên báo cáo tài

chính được chuẩn xác thì các đơn vị có liên quan phải hoàn thiện, nâng cao

các quy định, quy chế về tiêu chuẩn niêm yết trên sàn, giảm thiểu được mức

độ quản trị lợi nhuận.

Các sàn niêm yết thiết lập ra các quy định về cơng bố thơng tin mục đích



30

cũng chính là bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư. Mà các quy định về công bố

thông tin ở các sàn niêm yết khác nhau sẽ dẫn đến mức độ bảo vệ lợi ích của

nhà đầu tư khác nhau.

Theo nghiên cứu của Christian Leuz (2002), Investor Protection and

Earnings Management: An International Comparison, The Wharton School of

the University of Pennsylvania, Philadelphia lập luận rằng những người quản

lý, nhằm mục đích bảo vệ lợi ích kiểm sốt riêng của họ, đã quản trị lợi nhuận

để che giấu hoạt động của công ty với bên ngoài. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ

ra được mức độ bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư có tác động mạnh mẽ đến hành

vi quản trị lợi nhuận trong các doanh nghiệp. [12]

Tuy nhiên, tại thị trường Việt Nam, chưa có nghiên cứu nào chuyên sâu

về mối quan hệ giữa mức độ quản trị lợi nhuận và mức độ bảo vệ lợi ích nhà

đầu tư thơng qua các quy định, quy chế trên sàn niêm yết. Đây là động lực

cho tác giả nghiên cứu giả thuyết về sự khác biệt về mức độ hành vi quản trị

lợi nhuận theo 2 sàn niêm yết lớn tại Việt Nam hiện nay là HoSE và HNX.



31

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về hành vi điều chỉnh lợi nhuận, tuy

nhiên, chúng ta có thể hiểu đó là việc làm sai lệch, “méo mó” thơng tin qua

việc điều chỉnh doanh thu, chi phí. Các cơng ty muốn để mở rộng thêm quy

mô, nâng cao năng lực cạnh tranh trước rất nhiều tập đồn cơng nghiệp sản

xuất hàng tiêu dùng lớn của thế giới, họ cần phải huy động được nhiều vốn

hơn từ các nhà đầu tư. Và để thu hút được vốn và nâng cao uy tín trên thị

trường, các cơng ty cần có một BCTC đẹp, thể hiện kết quả kinh doanh tốt

nên một loạt công ty niêm yết công bố kết quả kinh doanh thay đổi trước và

sau kiểm toán đã gây nhiều lo lắng cho các nhà đầu tư.

Lợi nhuận được điều chỉnh thông qua việc vận dụng tổng hợp, khéo léo,

linh hoạt và có cân nhắc trong giới hạn cho phép của các chuẩn mực kế toán

và một số kĩ thuật khác nhàm tác động đến doanh thu, chi phí. Từ đó làm ảnh

hưởng đến lợi nhuận của kì báo cáo. Điều này về lâu dài vừa khơng có lợi cho

nhà đầu tư cũng như chính các cơng ty niêm yết đó.

Xét trên phạm vi tồn xã hội, hậu quả còn nặng nề hơn, vì sai lệch tài

chính của một cơng ty khơng chỉ ảnh hưởng riêng đến cơng ty đó mà còn bào

mòn lòng tin của nhà đầu tư khi muốn đầu tư vào các Doanh nghiệp.

Và để biết được việc điều chỉnh lợi nhuận thông qua báo cáo KQHĐKD

được lập trên cơ sở dồn tích, báo cáo LCTT được lập trên cơ sở tiền các nhà

nghiên cứu đã đưa ra một số mơ hình nghiên cứu để nhận diện hành động

điều chỉnh lợi nhuận



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

d. Lý thuyết các bên có liên quan (stakeholder theory)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×