Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
i. Khả năng thanh toán nhanh

i. Khả năng thanh toán nhanh

Tải bản đầy đủ - 0trang

59



3.1.2. Mơ hình nghiên cứu

Quan sát và nghiên cứu các tài liệu về các nhân tố ảnh hưởng đến vốn

lưu động ròng ở các bài nghiên cứu đi trước, tác giả sử dụng các biến bao

gồm biến phụ thuộc và biến độc lập (biến được giải thích và biến giải thích):





Biến phụ thuộc:

Để hỗ trợ cho mục đích chính của doanh nghiệp là làm tăng giá trị tài

sản của công ty, doanh nghiệp cần phải có mục đích phát triển bền vững, an

tồn, tài chính khơng bị mất cân bằng. Để đo lường tính an tồn tài chính của

doanh nghiệp, vốn lưu động ròng được sử dụng để đánh giá theo lý thuyết cân

bằng tài chính. Trong bài nghiên cứu này, tác giả sử dụng vốn lưu động ròng

như là biến phụ thuộc làm thước đo đánh giá trạng thái tài chính của doanh

nghiệp. Ký hiệu vốn lưu động ròng là NWC.

Chỉ số này được tính bằng cơng thức nguồn vốn dài hạn (nguồn vốn tài

trợ thường xuyên) trừ đi tài sản dài hạn







Biến độc lập:

Liên quan đến biến giải thích, tác giả sử dụng các biến: Tỷ số lợi

nhuận trên tài sản (ROA); Cấu trúc tài chính (LEV); Dòng tiền từ hoạt động

kinh doanh (OCF); Chu kì tiền mặt (CCC); Quy mơ doanh nghiệp (SIZE);

Khả năng thanh tốn nhanh (QR); Cấu trúc tài sản (TANG); Tỉ lệ vốn lưu

động năm trước đó (NWCT_1); Biến động doanh thu (REVVOL).







Mơ hình nghiên cứu đề nghị cho đề tài:

Tác giả thực hiện nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến cân bằng tài

chính dài của các cơng ty sản xuất hàng tiêu dùng được niêm yết trên thị

trường chứng khoán Việt Nam dựa trên một nghiên cứu đã thực hiện ở

Từ các nghiên cứu đi trước, tác giả xây dựng mơ hình nghiên cứu tác

động của các nhân tố đến cân bằng tài chính dài hạn như sau:



60



NWCit=β0+β1(ROAit)+β2(LEVit)+β3(OCFit)+β4(QRit)+β5(NWCT_1it-1)

+β6(CCCit)+β7(TANGit)+ β8(REVVOLit)+ β9(GDPit)+β10(Rit)+ β11(SIZEit)

Trong đó:

ROA: tỷ số lợi nhuận trên tài sản; LEV: Đòn bẩy tài chính; OCF:

Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh; QR: Tỉ số thanh tốn nhanh;

NWC: Vốn lưu động ròng; CCC: Chu k tiền mặt; TANG: Cơ cấu tài

sản công ty; REVVOL: Sự biến động tổng doanh thu công ty; SIZE:

Quy mơ doanh nghiệp; NWCT_1: Vốn lưu động năm trước đó.

3.2.



ĐO LƯỜNG CÁC BIẾN TRONG MƠ HÌNH

Theo lý thuyết về cân bằng tài chính dài hạn, một DN đạt trạng thái



cân bằng tài chính dài hạn khi vốn lưu động ròng qua các năm đạt dương. Vì

vậy, tác giả sử dụng biến phụ thuộc để nghiên cứu là vốn lưu động ròng. Chỉ

số này được tính tốn như sau:





Vốn lưu động ròng (NWC): Chỉ số này được tính bằng cách lấy nguồn vốn

thường xuyên trừ đi giá trị tổng tài sản dài hạn.

Trên cơ sở tính khách quan của nghiên cứu, 11 biến độc lập được lựa

chọn để giải thích cho các biến phụ thuộc là:



61



Bảng 3.1: Các chỉ tiêu đo lường nhân tố ảnh hưởng vốn lưu động ròng

Các biến độc lập

Hiệu quả hoạt động

kinh doanh (ROA)

Cấu trúc tài chính

(LEV)

Dòng tiền từ hoạt động

kinh doanh (OCF)

Tỉ số thanh toán nhanh

(QR)

Vốn lưu động ròng

(NWCT_1)

Chu kỳ tiền mặt (CCC)

Cơ cấu tài sản (TANG)

Sự biến động doanh thu

(REVVOL)

Quy mô công ty (SIZE)



3.3.



Cách xác định

Lợi nhuận sau thuế/ Tổng tài sản

Tổng nợ dài hạn và ngắn hạn /

Tổng tài sản

Lợi nhuận trước thuế và lãi vay +

Khấu hao - Thuế

(Giá trị tài sản lưu động – Giá trị

hàng tồn kho)/ Giá trị nợ phải trả

ngắn hạn

Nguồn vốn thường xuyên – Giá trị

tài sản dài hạn

Số ngày phải thu + Số ngày tồn kho

- Số ngày phải trả

Tỷ lệ tài sản cố định/ Tổng tài sản

(Doanh thu năm nay – Doanh thu

năm trước)/Doanh thu năm trước

Logarit tổng tài sản



Ảnh hưởng kỳ vọng

đến biến phụ thuộc

+

+

+

+

+



CHỌN MẪU NGHIÊN CỨU

Các dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu này đều là dữ liệu thứ cấp



66 doanh nghiệp thuộc nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng được niêm yết

trên thị trường chứng khốn Việt Nam, trong đó, bài nghiên cứu chỉ tập trung

vào các công ty niêm yết trên sàn HOSE và HNX, có tình hình tài chính ổn

định, không bị thua lỗ dẫn đến hủy niêm yết do dẫn đến trạng thái kiệt quệ tài

chính. Các biến trong bài đều được tính tốn từ số liệu trên bảng cân đối kế

toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của các công ty được công khai

trên trang web. Tuy nhiên, vốn lưu động ròng tăng chưa chắc cân bằng tài

chính đã an tồn. Nếu vốn lưu động ròng dương và tăng qua nhiều năm thì

phải đánh giá xem doanh nghiệp đã tăng nguồn vốn nào hay là bán tài sản cố

định. Nếu tăng do bán tài sản cố định liên tục thì khơng thể kết luận đó là an



62



tồn về tài chính. Vì thế, ta xác định các doanh nghiệp chạy trong mơ hình

phải hoạt động liên tục, có cơ chế tài chính tốt, khơng suy thối, khơng thanh

lý tài sản tiên tục để loại trừ trường hợp trên.

Phương pháp chọn mẫu:

- Tổng thể nghiên cứu: Theo như chương 2, tác giả đã thống kê tổng

số các doanh nghiệp ngành sản xuất hàng tiêu dùng niêm yết trên thị

trường chứng khoán Việt Nam là 144 doanh nghiệp.

- Phạm vi chọn mẫu: Từ 144 doanh nghiệp, tác giả chọn ra 66 doanh

nghiệp làm mẫu nghiên cứu.

- Thời gian chọn mẫu: Từ năm 2011 đến năm 2014

- Cách thức chọn mẫu: Tác giả liệt kê và đánh số thứ tự 144 công ty

thuộc ngành sản xuất hàng tiêu dùng. Để đảm bảo tính đại diện, tác giả

đã chọn mẫu một cách ngẫu nhiên bằng cách dùng bảng số ngẫu nhiên,

tác giả chọn một điểm xuất phát trong bảng số ngẫn nhiên, sau đó chọn

một lộ trình hàng dọc. Theo lộ trình hàng dọc, tác giả so sánh với số

thứ tự các DN đã được liệt kê sẵn và đưa ra làm mẫu chọn khi số trong

bảng số ngẫu nhiên trùng với số thứ tự.

Sau khi chọn được 66 công ty, tác giả dừng lại công việc chọn mẫu

nghiên cứu. Theo tác giả thì con số 66 cơng ty này đã phù hợp với cỡ mẫu và

cũng đại diện được cho tổng thể nghiên cứu.



63



Bảng 3.2: Bảng phân bổ danh sách cơng ty chọn mẫu theo nhóm ngành nhỏ:

Nhóm ngành



Số cơng ty chọn mẫu



Tỷ lệ trên tổng thể nhóm



Nước, giải khát, bia rượu



7



58%



Ơ tơ, linh kiện, lốp xe



2



20%



Nơng thủy sản, thực phẩm



19



50%



Gia dụng, nội thất



7



50%



Quần áo, sản phẩm cá nhân



31



47%



Nguồn: Tác giả tự tổng hợp



Như vậy, các doanh nghiệp được chọn làm mẫu nghiên cứu được

phân bổ đều vào tất cả các nhóm ngành nhỏ của ngành sản xuất hàng tiêu

dùng. Do đó, mẫu được chọn phản ánh tương đối chính xác những đặc

trưng của tổng thể nghiên cứu. Vì thế, đối tượng nghiên cứu của để tài là

66 doanh nghiệp nhưng kết quả nghiên cứu có thể sử dụng một cách hữu

ích trong việc phân tích cân bằng tài chính dài hạn của các doanh nghiệp

niêm yết trên thị trường chứng khốn Việt Nam.

3.4.



PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU



3.4.1. Mơ tả thống kê

Phân tích mơ tả là bước đầu tiên của bài nghiên cứu này, phân tích này

giúp mơ tả các khía cạnh liên quan đến vốn lưu động ròng và ngân quỹ ròng.

Từ đó, cung cấp thơng tin chi tiết về mỗi biến có liên quan. Thơng tin đó bao

gồm trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị lớn nhất và giá trị nhỏ nhất. Qua đó, ta

có cái nhìn sơ bộ về các biến có trong mơ hình. Nghiên cứu được tiến hành

trong mẫu đã chọn với các thông tin về biến có sẵn.

Bài nghiên cứu sử dụng phần mềm EVIEW để chạy mơ hình phân tích

các biến trong nghiên cứu này.



64



Kết quả mô tả thống kê cho chúng ta biết những thông tin ban đầu về

các biến được sử dụng trong nghiên cứu như kích cỡ mẫu, giá trị trung bình,

độ lệch chuẩn, giá trị lớn nhất và nhỏ nhất.

3.4.2. Phân tích tương quan và đa cộng tuyến

Phân tích tương quan để đo lường mức độ liên kết tuyến tính giữa các

biến với nhau, giữa các biến độc lập với nhau và giữa biến độc lập và biến

phụ thuộc trong mơ hình. Bước này tạo ra cái nhìn tổng quan về những mối

quan hệ cần nghiên cứu: độ lớn, chiều, ý nghĩa thống kê, từ đó có thể xây

dựng mơ hình hồi quy và có các bước phân tích chuẩn xác hơn.

Hệ số tương quan (r) là một chỉ số thống kê đo lường mối liên hệ

tương quan giữa hai biến số X và Y.

Cho hai biến số x và y từ n mẫu, hệ số tương quan Pearson được ước

lượng tính bằng cơng thức sau đây:

r=

Trong đó: x, y là giá trị của biến x, y

là giá trị trung bình mẫu của biến x, y

Hệ số tương quan (r) có giá trị từ -1 đến 1. Hệ số tương quan (r) bằng 0

(hay gần 0) có nghĩa là hai biến số khơng có liên hệ gì với nhau. Ngược lại,

nếu hệ số tương quan bằng -1 hay 1 có nghĩa là hai biến số đó có một mối

quan hệ tuyệt đối. Nếu giá trị tương quan là âm (r < 0) có nghĩa là khi x tăng

cao thì y lại giảm (và ngược lại khi x giảm và y tăng). Nếu giá trị tương quan

âm (r >0) thì có nghĩa là x và y có mối quan hệ tỉ lệ thuận.

>0.8: x và y tương quan mạnh, tồn tại đa cộng tuyến.

từ 0.4 đến 0.8: x và y tương quan trung bình.

<0.4: x và y tương quan yếu.

Dựa vào hệ số tương quan r, ta có thể thấy được mối quan hệ giữa các

biến, nếu các hệ số tương quan giữa các biến độc lập là cao, thì có khả năng



65



xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến. Đa cộng tuyến có nghĩa là sự tồn tại mối

quan hệ tuyến tính “hồn hảo” hoặc chính xác giữa một số hoặc tất cả các

biến độc lập trong một mô hình hồi quy.

Trong trường hợp mơ hình bị đa cộng tuyến, ta có một số biện pháp

khắc phục như sau:

Loại bỏ biến: Vì đặc tính của đa cộng tuyến là do những mối quan hệ

chặt chẽ của các biến độc lập, vì thế, cách chắc chắn nhất để loại bỏ hoặc

giảm bớt các tác động của tính đa cộng tuyến là bỏ một hoặc nhiều biến độc

lập ra khỏi mô hình.

Tăng kích thước mẫu: Giải pháp này thích hợp cho hiện tượng đa cộng

tuyến do cỡ mẫu nhỏ, vì tăng cỡ mẫu sẽ làm cải thiện độ chính xác của một

ước lượng và do đó, giảm thiểu được những yếu tố phản tác dụng của tính đa

cộng tuyến. Đơi khi chỉ cần tăng thêm một số quan sát là khắc phục được hiện

tượng đa cộng tuyến. Tuy nhiên, việc tăng dữ liệu đơi khi đồng nghĩa với việc

tăng chi phí, nhất là nguồn dữ liệu sơ cấp.

Hạn chế của mô hình tương quan là khơng xác định được sự tương tác

giữa các biến theo chiều nào, nghĩa là không biết được đâu là nguyên nhân và

đâu là kết quả. Do đó, cần phải sử dụng thêm phân tích hồi quy để hiểu chi

tiết hơn về các mối quan hệ này.

3.4.3. Phân tích hồi qui

Phân tích hồi quy dùng để kiểm định lại mối quan hệ giữa các biến có

trong mơ hình. Tác giả sử dụng phân tích hồi qui để ước lượng mối quan hệ

nhân quả giữa biến ngân quỹ ròng với các biến độc lập khác.

Để ước lượng mơ hình hồi qui theo dữ liệu bảng, hiện nay có 3 cách

tiếp cận phổ biến: Ước lượng theo Pooled OLS (Pooled Ordinary Least

Square), ước lượng theo mơ hình các ảnh hưởng cố định Fixed Effects Model)



66



và ước lượng mơ hình theo các ảnh hưởng ngẫu nhiên (Random Effects

Model).

Ước lượng theo mơ hình Pooled OLS: Là mơ hình hồi qui, trong đó,

tất cả các hệ số đều khơng đổi theo thời gian và theo các cá nhân. Bỏ qua bình

diện khơng gian và thời gian của dữ liệu kết hợp và chỉ ước lượng OLS thơng

thường. Đây là mơ hình đơn giản nhất khi không xem xét sự khác biệt giữa

các doanh nghiệp được nghiên cứu. Tuy nhiên, mơ hình tồn tại hạn chế chính

là hệ số Durbin – Watson thường khá nhỏ (nhỏ hơn 1), vì vậy thường xuất

hiện hiện tượng tự tương quan dương. Vì thế, hai phương pháp cơng dụng

khắc phục một hoặc nhiều vấn đề này chính là mơ hình các ảnh hưởng cố

định (FEM) và mơ hình các ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM).

Ước lượng theo mơ hình ảnh hưởng cố định ( Fix Effects Model –

FEM): Giả định rằng, mỗi thực thể đều có những điểm riêng biệt để có thể

ảnh hưởng đến biến giải thích, FEM phân tích tương quan giữa phần dương

của mỗi thực thể với các biến độc lập, thơng qua đó kiểm soát và tách ảnh

hưởng của các đặc điểm riêng biệt ( không đổi qua thời gian) ra khỏi các biến

độc lập để ước lượng những ảnh hưởng thực (net effects) của biến độc lập lên

biến phụ thuộc. Cụ thể như sau:

Mơ hình các ảnh hưởng cố định thể hiện qua phương trình:

Yit = Ci + β1 X1it + … + βnXnit + uit



(3.1.4.1)



Trong đó: Yit :Biến phụ thuộc với I là doanh nghiệp, t là thời gian (năm)

Xit: Biến độc lập

Ci: Hệ số chặn cho từng doanh nghiệp và (I = 1,2,3,… n)

β: Hệ số góc đối với nhân tố X

uit : Phần dư

Mơ hình trên đã thêm vào chỉ số i cho hệ số chặn C để phân biệt hệ số

chặn của từng doanh nghiệp khác nhau có thể khác nhau. Sự khác nhau này



67



có thể do đặc điểm của từng doanh nghiệp hoặc có thể là do sự khác nhau bởi

chính sách quản lý, hoạt động của mỗi doanh nghiệp riêng biệt.

Ước lượng theo mơ hình ảnh hưởng ngẫu nhiên (Random Effects

Model – REM): Mơ hình này dựa trên giả thuyết, sự khác biệt của các doanh

nghiệp được chưa trong phần sai số ngẫu nhiên và không tương quan với biến

độc lập.

Chính vì vậy nếu sự khác biệt giữa các thực thể có ảnh hưởng đến biến

phụ thuộc thì REM vẫn phù hợp hơn so với FEM. Trong đó, phần dư của mỗi

thực thể (khơng tương quan với biến độc lập) được coi là biến độc lập mới.

Ý tưởng cơ bản của mơ hình ảnh hưởng ngẫu nhiên bắt nguồn từ mơ hình ảnh

hưởng cố định (3.1.4.1). Thay vì mơ hình (3.1.4.1), mơ hình ảnh hưởng ngẫu

nhiên giả định rằng nó là một biến ngẫu nhiên với trung bình là C 1 và hệ số

chặn được mơ tả như sau:

Ci = C1 + εi (i= 1, 2,…, n)

Trong đó, εi là sai số ngẫu nhiên có trung bình bằng 0 và phương sai là σ 2 ta

có:

Yit = Ci + β1 X1it + … + βnXnit + uit + εit

Hay



Yit = Ci + β1 X1it + … + βnXnit + wit (3.1.4.2)



Với: wit = uit + εit

εit: Sai số thành phần của các đối tượng khác nhau (Đặc điểm riêng khác nhau

của từng doanh nghiệp).

uit: Sai số thành phần kết hợp của cả đặc điểm riêng theo từng đối tượng và

theo thời gian.

Điểm khác biệt giữa mơ hình ảnh hưởng ngẫu nhiên và mơ hình ảnh

hưởng cố định là sự biến động giữa các thực thể. Nếu trong mơ hình ảnh

hưởng cố định giả định sự biến động của các thực thể tương quan với biến

độc lập thì trong mơ hình ảnh hưởng ngẫu nhiên, sự biến động giữa các thực



68



thể lại không tương quan với biến độc lập. FEM sử dụng biến giả nên có thể

làm giảm đáng kể bậc tự do, trong khi đó mơ hình REM thì khơng. Do vậy

REM được ưa thích hơn.

Tuy nhiên, trong trường hợp các biến có sự tương quan thì giả đinh

của REM lại khơng thỏa mãn, khi đó, mơ hình sẽ ra ước lượng bị chệch. Vậy

mơ hình FEM hay mơ hình REM phù hợp hơn cho nghiên cứu, điều đó phụ

thuộc vào giả định có hay khơng sự tương quan giữa εi và biến giải thích X.

Để lựa chọn giữa hai mơ hình FEM và REM ta sử dụng kiểm định Hausman

với giả thuyết:

H0: Cov (εi, Xit) = 0 (REM phù hợp hơn)

H1: Cov (εi, Xit) ≠ 0 (REM phù hợp hơn)

Giá trị tính tốn là:

W = (βFE - βRE)’[ Var(βFE) - Var(βRE)]-1(βFE - βRE)

Trong đó: βFE: Vector các hệ số từ ước lượng FEM.

βRE: Vector các hệ số từ ước lượng REM



69



KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

Trong chương 3, tác giả đã tập trung xây dựng thiết kế nghiên cứu các

nhân tố ảnh hưởng đến cân bằng tài chính dài hạn của các doanh nghiệp sản

xuất hàng tiêu dùng. Trên nền tảng thông tin thu thập được của chương 2, tác

giả đã đưa ra thiết kế nghiên cứu gồm 4 nội dung sau:





Xây dựng các giả thuyết, kết hợp với các dẫn chứng khoa học của các

nghiên cứu đi trước cùng với thực tế các DN Việt Nam hiện tại để có

thể đưa ra giả thuyết phù hợp. Từ giả thuyết, tác giả đã xây dựng mơ

hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến cân bằng tài chính dài hạn







của các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng.

Việc xây dựng mơ hình sẽ hình thành lên các biến độc lập và biến phụ

thuộc. Tác giả đã chỉ rõ cách xác định và đo lường các biến độc lập







cũng như biến phụ thuộc.

Q trình chạy mơ hình cần phải có dữ liệu, tác giả thực hiện chọn mẫu

66 cơng ty từ tổng thể 144 công ty. Cách thức chọn mẫu được tác giả







miêu tả chi tiết cụ thể.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả trình bày rõ trong chương, đưa ra

cách xử lý số liệu cũng như phương pháp chạy mơ hình hồi qui.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

i. Khả năng thanh toán nhanh

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×