Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b. Lý thuyết M&M trong trường hợp có thuế

b. Lý thuyết M&M trong trường hợp có thuế

Tải bản đầy đủ - 0trang

25



Giá trị cơng ty



VL

VL1

VU



D*t



VU

Giá trị nợ (D)



Hình 1.3: Minh họa mệnh đề M&M số 1 trong mơi trường có thuế





Mệnh đề số II – Chi phí sử dụng vốn trong trường hợp có



thuế: Trong trường hợp có thuế, lợi nhuận yêu cầu trên vốn cổ phần có

quan hệ cùng chiều với mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính hay tỷ số nợ

nhưng mối quan hệ này được diễn tả bởi công thức:

rE= rU + (rU – rD)(1-TC)

Công thức này có thể suy ra từ mệnh đề M&M số I. Trong trường hợp

có thuế, giá trị của cơng ty có vay nợ bằng giá trị công ty không vay nợ cộng

với lá chắn thuế.

Chi phí sử dụng vốn

rE



ru



26



rWACC

rD

Tỷ số D/E

Hình 1.4: Minh họa mệnh đề M&M số 2 trong môi trường có thuế



Như vậy, theo lý thuyết M&M thì giá trị của DN gia tăng khi sử dụng

nợ vay trong trường hợp có thuế. Để gia tăng giá trị DN trong trường hợp có

thuế, nhà quản lý DN thường sử dụng nợ vay. Tuy nhiên việc sử dụng nợ vay

cũng tạo ra áp lực thanh toán cho DN. Việc đưa ra quyết định sử dụng nợ vay

vừa có thể giúp DN tối đa hóa giá trị nhưng mặt khác cũng có thể khiến DN

rơi vào tình trạng mất khả năng thanh tốn nếu như sử dụng nguồn nợ vay

khơng hợp lý hoặc khơng thu hồi vốn kịp để thanh tốn cho khoản vay. Nhà

quản lý cần phải đưa ra quyết định sử dụng giá trị vay nợ là bao nhiêu, đồng

thời cũng đưa ra tỉ lệ sử dụng nợ vay dài hạn và vay ngắn hạn là bao nhiêu,

mỗi nguồn vay sẽ tài trợ cho tài sản nào mới có thể có sự điều hòa giữa nguồn

vốn và tài sản. Vì thế, khi cấu trúc vốn có nợ vay, DN càng phải đảm bảo việc

sử dụng nợ vay tài trợ hợp lý cho cấu trúc tài sản để có một cân bằng tài chính

dài hạn an tồn nhằm đảm bảo khả năng thanh toán khoản vay.

1.2.2. Lý thuyết đánh đối cấu trúc vốn

Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn là một lý thuyết trên lĩnh vực kinh tế

tài chính nói chung và trong lĩnh vực tài chính doanh nghiệp nói riêng. Lý

thuyết này dựa trên những lập luận của Myers (1984) nhằm mục đích giải

thích vì sao các doanh nghiệp thường được tài trợ một phần bằng nợ vay, một

phần bằng vốn cổ phần. Một lý do lớn khiến các doanh nghiệp khơng thể tài

trợ hồn tồn bằng nợ vay là vì, bên cạnh sự hiện hữu lợi ích tấm chắn thuế từ



27



nợ, việc sử dụng tài trợ bằng nợ cũng phát sinh nhiều chi phí, điển hình là chi

phí kiệt quệ tài chính bao gồm cả chi phí trực tiếp lẫn chi phí gián tiếp của

việc phá sản có nguyên nhân từ nợ. Theo lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn, việc

tài trợ từ nợ có ưu điểm là được hưởng lợi ích từ tấm chắn thuế. Ở mức nợ

trung bình, xác suất kiệt quệ tài chính khơng đáng kể và hiện giá của chi phí

kiệt quệ tài chính cũng nhỏ nên việc vay nợ sẽ là một lợi thế cho doanh

nghiệp do được hưởng lợi ích từ tấm chắn thuế. Tuy nhiên, khi DN vay nợ

càng tăng thì rủi ro phá sản của DN sẽ ngày càng cao và sẽ làm sụt giảm giá

trị DN; đến một lúc nào đó, hiện giá của tấm chắn thuế bằng với hiện giá của

chi phí kiệt quệ tài chính, lúc này, DN sẽ mất đi lợi ích từ tấm chắn thuế. Với

mỗi phần trăm tỉ lệ nợ tăng thêm, trong khi lợi ích tấm chắn thuế gia tăng thì

chi phí kiệt quệ tài chính cũng gia tăng. Như vậy, việc vay nợ đến một lúc nào

đó, khi mà với mỗi tỷ lệ nợ tăng thêm, hiện giá lợi ích từ tấm chắn thuế khơng

cao hơn hiện giá DN. Chính vì điều này, các cơng ty ln tìm mọi cách để tối

ưu hóa tổng giá trị DN dựa trên nguyên tắc cân bằng này để xác định nên lựa

chọn bao nhiều nợ và bao nhiêu vốn cổ phần trong cấu trúc vốn của mình.

Điểm xác định cấu trúc vốn tối ưu là tại đó với mỗi lượng nợ tăng thêm thì

PV (tấm chắn thuế) = PV (chi phí kiệt quệ tài chính). Nhà quản lý trong việc

xác định tỉ lệ nợ bao nhiêu là hợp lý, đồng thời cũng dựa trên sự hợp lý với

cấu trúc vốn của DN mình, bởi mỗi quyết định của nhà quản lý về cấu trúc

vốn sẽ hình thành một tình hình tài chính cân bằng hay khơng trong dài hạn.

Lý thuyết đánh đổi giải thích được các khác biệt trong cấu trúc vốn

giữa nhiều ngành. Ví dụ như các công ty tăng trưởng công nghệ cao, có tài

sản rủi ro và hầu hết là vơ hình thường sử dụng VCSH nhiều hơn, trong khi

các ngành tăng trưởng ổn định lại có tỷ lệ vốn vay cao hơn. Chính vì vậy, mỗi

ngành khác nhau có sự khác biệt về cấu trúc vốn, nhà quản lý cần phải đưa



28



quyết định sử dụng nợ phù hợp đối với ngành của DN, và phù hợp với cấu

trúc tài sản của DN.

Giá trị doanh nghiệp = Giá trị được hoàn toàn tài trợ bằng vốn cổ phần

+ PV (tấm chắn thuế) – PV (chi phí kiêt quệ tài chính)

Chi phí kiệt quệ tài chính phụ thuộc vào xác suất kiệt quệ và độ lớn

của chi phí gánh chịu nếu kiệt quệ tài chính xảy ra. Các DN nên chọn tỷ lệ nợ

tối ưu nào mà tối đa hóa được giá trị DN. Đánh đổi giữa lợi ích thuế và chi

phí kiệt quệ ấn định cấu trúc vốn tối ưu. Hiện giá của tấm chắn thuế của DN

ban đầu tăng khi vay thêm nợ. Ở mức nợ trung bình, xác suất kiệt quệ tài

chính khơng đáng kể và hiện giá của chi phí kiệt quệ tài chính cũng nhỏ và lợi

thế thuế vượt trội. Nhưng đến một điểm nào đó, xác suất kiệt quệ tài chính

cũng tăng nhanh với việc vay thêm nợ, chi phí kiệt quệ tài chính cũng tăng

nhanh và chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị DN. Nếu tiếp tục tăng tỷ lệ đòn bẩy,

giá trị lợi thể thuế sẽ biến mất. Cấu trúc vốn tối ưu đạt được khi hiện giá của

khoản tiết kiệm thuế do vay thêm nợ vừa đủ bù trừ cho gia tăng trong gia tăng

hiện giá của chi phí kiệt quệ.

Lý thuyết đánh đổi của cấu trúc vốn thừa nhận các tỷ lệ nợ mục tiêu có

thể khác nhau giữa các DN. Các cơng ty có tài sản hữu hình an tồn và nhiều

thu nhập chịu thuế để được khấu trừ nên có tỉ lệ nợ mục tiêu cao. Các công ty

không sinh lợi có các tài sản vơ hình nhiều rủi ro nên dựa chủ yếu vào tài trợ

vốn cổ phần. Nếu việc điều chỉnh vấu trúc vốn khơng phát sinh chi phí, DN

nên luôn nhắm vào tỉ lệ nợ mục tiêu của mình. Tuy nhiên, do có các chi phí

này, vì vậy cũng có khác biệt ngẫu nhiên trong tỉ lệ nợ thực tế giữa các DN có

cùng tỉ lệ nợ mục tiêu.

Theo lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn, DN nên sử dụng nợ vay ở một

mức hợp lý nhằm tăng giá trị DN đồng thời để chi phí kiệt quệ tài chính ở một

mức hợp lý. Ngay chính nội dung này cũng đã thể hiện nội dung nền tảng của



29



cấu trúc vốn đến cân bằng tài chính dài hạn. Với mỗi ngành khác nhau, nhà

quản lý cũng đưa ra tỷ lệ nợ mục tiêu khác nhau để có thể tận dụng các khoản

khấu trừ, tối đa hóa giá trị DN cũng như khống chế chi phí kiệt quệ tài chính

ở mức thấp. Và với mức độ sử dụng nợ như thế nào đi nữa, nhà quản lý cũng

cần xem xét việc sử dụng nợ trong cấu trúc vốn cần phải tương ứng với cấu

trúc tài sản của DN. Việc sử dụng nợ vay khiến cho DN phải đảm bảo có khả

năng thanh toán tốt. Nhà quản lý cần phải xem xét sử dụng nợ trong cấu trúc

vốn phù hợp với cấu trúc tài sản để có quyết định đúng đắn bởi mỗi quyết

định của nhà quản lý về sự thay đổi trong cấu trúc vốn sẽ xác lập một tình

hình tài chính an tồn hay rủi ro cho DN.

1.2.3. Lý thuyết chi phí đại diện

Lý thuyết chi phí đại diện cho rằng, hoạt động tài chính của doanh

nghiệp liên quan đến các giới hữu quan khác nhau. Trong đó chủ yếu là cổ

đông, nhà quản lý và các trung gian tài chính. Giữa họ có sự khác nhau về lợi

ích và cách tiếp cận nợ. Vì thế, có thể xuất hiện các mâu thuẫn và để giải

quyết các mâu thuẫn này sẽ xuất hiện chi phí đại diện.

Jenshen và Meckling (1967) cho rằng có hai dạng mâu thuẫn vềchi phí

đại diện đó là mâu thuẫn giữa người chủ sở hữu và nhà quản lý doanh nghiệp

và mâu thuẫn giữa người chủ sở hữu với chủ nợ.

Đối với mâu thuẫn giữa người chủ sở hữu và người quản lý doanh

nghiệp, vấn đề đại diện phát sinh khi người quản lý sở hữu ít hơn 100% phần

vốn chủ sở hữu, Người chủ sở hữu khơng dành được tồn bộ lợi nhuận từ các

hoạt động kinh doanh, nhưng họ phải gánh chịu toàn bộ các khoản chi phí cho

những hoạt động này. Còn đối với những nhà quản lý doanh nghiệp – là

những người được thuê để quản lý và điều hành DN, họ ln tìm cách tối đa

hóa lợi ích của bản thân trước rồi sau đó mới tính đến lợi ích của cổ đơng. Do

đó, để giải quyết mâu thuẫn này, người chủ sở hữu phải chi các chi phí đại



30



diện để kiểm soát hoạt động của nhà quản lý như chi phí cho hệ thống kiểm

sốt, kiểm tra, kiểm tốn… Ngồi ra, theo M.Jensen thì vay nợ cũng được

xem như là một giải pháp để giải quyết mâu thuẫn này do khi tỷ suất nợ cao

doanh nghiệp phải đối mặt với nguy cơ phá sản càng cao và nhà quản lý DN

phải đối mặt với nguy cơ mất việc làm và danh dự. Do đó, họ phải nỗ lực

nâng cao năng lực quản lý của mình. Từ đó, giảm được các chi phí đại diện.

Đối với mâu thuẫn giữa chủ sở hữu DN và chủ nợ, mâu thuẫn này xuất

hiện trong các hợp đồng vay nợ, khi cân nhắc mức vay nợ cho các dự án đầu

tư. Cụ thể, nếu một khoản đẩu tư có thu nhập cao hơn giá trị của các khoản

nợ, người chủ sở hữu sẽ hưởng lợi toàn bộ khoản thu nhập này sau khi đã trừ

nợ vay và tiền lãi vay phải trả. Tuy nhiên, nếu khoản đầu tư đó khơng thành

cơng, người chủ sở hữu DN sẽ gánh chịu thua lỗ ở một mức độ nhất định do

trách nhiệm hữu hạn của khoản đầu tư. Do đó, đối với những dự án có rủi ro

cao, các chủ nợ thường đưa ra cơ chế tự bảo vệ mình thơng qua xây dựng các

điều khoản hạn chế trong các hợp đồng vay. Những điều khoản này cản trở

hoạt động của DN ở một vài khía cạnh nào đó, các DN còn bị giám sát để

đảm bảo rằng các điều khoản phải được tuân thủ, chủ nợ có thể yêu cầu đươc

trực tiếp tham gia giám sát tiến trình thực hiện của dự án. Đây được xem là

những chi phí đại diện mà người chủ sở hữu phải trả để được sử dụng các

khoản vay của chủ nợ.

Những nghiên cứu về chi phí đại diện cho thấy, tương tự như trường

hợp chi phí khánh kiệt tài chính, chi phí đại diện làm giảm lợi ích do sử dụng

nợ để tài trợ. Trong mơ hình này, Jensjen và Meckling cho rằng một cấu trúc

vốn tối ưu có thể đạt được bằng việc cân đối giữa chi phí đại diện với lợi ích

do sử dụng nợ. Khi xem xét cân đối giữa chi phí đại diện với lợi ích do sử

dụng nợ sẽ giúp nhà quản lý đưa ra một cấu trúc vốn hợp lý, và cấu trúc vốn

đó tài trợ cho cấu trúc tài sản sẽ tạo ra một cân bằng tài chính dài hạn cho DN.



31



Chính vì vậy, nhà quản lý cũng nên xem xét cấu trúc vốn trong mối quan hệ

với cấu trúc tài sản để có thể đạt được trạng thái cân bằng tài chính trong dài

hạn. Lý thuyết chi phí đại diện là một quan tâm đối với DN nhỏ vì chi phí đại

diện phát sinh lớn hơn từ những mâu thuẫn cơ bản về lợi ích giữa chủ sở hữu

và các chủ nợ.

1.2.4. Lý thuyết trật tự phân hạng

Lý thuyết trật tự phân hạng khởi đầu từ những cơng trình nghiên cứu

của Myers và Majluf vào năm 1984. Các ơng cho rằng có một trật tự ưu tiên

khi tài trợ các khoản đầu tư: đầu tiên là việc sử dụng các nguồn vốn hiện có

bên trong DN, tiếp sau đó là các khoản vay nợ, cuối cùng là huy động VCSH

mới. Do thông tin bất cân xứng giữ người bên trong và bên ngồi, các DN sẽ

thích tài trợ bởi các nguồn bên trong hơn là nguồn vốn bên ngoài để tránh bán

các chứng khoán dưới mệnh giá. Nếu các khoản tài trợ bên ngồi là khơng thể

tránh khỏi thì các khoản nợ ít rủi ro sẽ được ưu tiên sử dụng và cuối cùng, là

khoản tăng vốn góp thơng qua việc huy động từ các cổ đông mới. Theo quan

điểm của nhà đầu tư bên ngoài, vốn cổ phần và nợ đều có rủi ro, tuy nhiên

mưc đơ rủi ro của vốn cổ phần cao hơn. Vì thế, các nhà đầu tư luôn yêu cầu

một tỷ suất sinh lợi trên vốn cố phần cao hơn trên nợ. Trật tự phân hạng trên

phản ánh chi phí tương đối của các nguồn lực tài trợ là có sự khác nhau. Do

vậy, Myers và Majluf cho rằng sẽ khơng có một cấu trúc tài chính tối ưu đối

với các DN. Lý thuyết này về sau được mở rộng bởi nhiều nhà nghiên cứu

khác như Krasher (1986), Brennan và Kraus (1987), Noe (1989).







Tóm lại, lý thuyết trật tự phân hạng như sau:

Các DN thích tài trợ nội bộ hơn tài trợ bên ngoài.

Các DN điều chỉnh tương ứng các tỷ lệ chi trả cổ tức mục tiêu theo các







cơ hội đầu tư, trong khi tránh các thay đổi xung đột trong cổ tức.

Các chính sách cổ tức cứng nhắc, cộng với các dao động không thể dự

đoán trong khả năng sinh lợi và các cơ hội đầu tư, nghĩa là dòng tiền



32



phát sinh nội bộ đơi khi lớn hơn các chi tiêu vốn và đôi khi lại nhỏ

hơn. Nếu lớn hơn, DN sẽ thanh toán hết nợ hoặc đầu tư vào chứng

khoán. Nếu nhỏ hơn, DN rút số dư tiền mặt của mình trước hoặc bán





các chứng khoán thị trường

Nếu cần đến tài trợ từ bên ngồi, các DN phát hành chứng khốn an

tồn nhất trước. Nghĩa là bắt đầu với nợ, rồi đến các chứng khoán

ghép như trái phiếu chuyển đổi, sau cùng cổ phần thường là giải pháp







cuối cùng.

Khơng có hỗn hợp nợ - vốn cổ phần thường mục tiêu được xác định

rõ, bởi vì có 2 loại vốn cổ phần thường, nội bộ và từ bên ngoài, một ở







đầu, một ở cuối của trật tự phân hạng.

Mỗi tỷ lệ nợ quan sát được của mỗi DN phản ánh các nhu cầu tích lũy

của DN đối với tài trợ từ bên ngoài.

Lý thuyết trật tự phân hạng giải thích tại sao các DN có khả năng sinh



lợi nhất thường vay ít hơn, khơng phải vì họ có tỷ lệ đòn bẩy mục tiêu thấp

mà vì họ khơng cần nguồn tài trợ từ bên ngồi. Còn các DN có khả năng sinh

lợi ít hơn thì phát hành nợ vì họ khơng có nguồn vốn nội bộ đủ cho đầu tư vốn

và vì tài trợ nợ đứng đầu trong trật tự phân hạng nguồn tài trợ bên ngồi.

Ngồi ra, lý thuyết này cũng giải thích mối tương quan nghịch trong ngành

giữa khả năng sinh lợi và đòn bẩy tài chính. Các DN trong ngành có các điều

kiện tương đồng nhau và do đó, các tỷ lệ đầu tư sẽ tương tự nhau. Các DN

sinh lợi ít nhất sẽ có ít nguồn vốn nội bộ hơn và sẽ phải vay mượn thêm.

Đối với mỗi DN khác nhau mà có cấu trúc vốn khác nhau. Theo lý

thuyết trật tự phân hạng, các DN có khả năng sinh lời nhất thường vay ít hơn,

họ có xu hướng sử dụng nguồn vốn nội tại hơn là nguồn vốn vay. Và đối với

những DN này, tình hình tài chính của hồn toàn hơn, cân bằng hơn. Ngược

lại, đối với những DN có khả năng sinh lời ít thường sử dụng nợ nhiều hơn vì

nguồn vốn nội tại hạn hẹp. Một khi các DN này sử dụng nợ, đòi hỏi nhà quản



33



lý cần xem xét cẩn trọng trong mối tương quan tài trợ cho cấu trúc tài sản bởi

mỗi quyết định về thay đổi cấu trúc vốn của nhà quản lý có ảnh hưởng đến

cân bằng tài chính của DN trong dài hạn. Tóm lại, DN ln ưu tiên các nguồn

vốn nội tại trước tiên, và khi có nguồn vốn nội tại lớn đủ để tài trợ cho TSDH

và tài sản lưu động thì tình hình tài chính của DN sẽ an tồn hơn, ít rủi ro hơn.

1.3.



NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÂN BẰNG TÀI CHÍNH

DÀI HẠN CỦA DOANH NGHIỆP

Về thực nghiệm, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành để xác định các



nhân tố ảnh hưởng đến vốn lưu động ròng của doanh nghiệp, bao gồm: lợi

nhuận, tăng trưởng của doanh nghiệp, rủi ro kinh doanh, qui mô của doanh

nghiệp… Tuy nhiên, chiều hướng tác động của các nhân tố này vốn lưu động

là khơng hồn tồn giống nhau trong các nghiên cứu này.

Qua khảo cứu nghiên cứu học thuật của các tác giả đi trước và từ đặc

điểm của ngành sản xuất tiêu dùng của Việt Nam, ta có thể tổng quát được

những nhân tố có tác động tới vốn lưu động ròng của các doanh nghiệp gồm:

1.3.1. Hiệu quả hoạt động kinh doanh

Hiệu quả kinh doanh đo lường khả năng sinh lời từ hoạt động kinh

doanh của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu như khả năng sinh lời tài sản

khả năng sinh lời trên doanh thu (tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu). Theo quan

điểm của Myers và Majluf trong lý thuyết trật tự phân hạng thì các doanh

nghiệp có tỉ suất lợi nhuận cao hơn thường ưu tiên sử dụng nguồn vốn nội tại

nhiều hơn. Ngoài ra, các tác giả trên thế giới cũng nghiên cứu về mối quan hệ

của tỉ suất sinh lời (ROA) và vốn lưu động ròng. Trong nghiên cứu của mình,

Mian Sajid Nazin và Talat Afija (2012) [20] đã kết luận rằng: mối quan hệ

giữa ROA với vốn lưu động ròng là mối tương quan tỉ lệ thuận. Điều này



34



cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của Nazir (2009) [20], Suleiman M

(2009) [25] và Kavel Azinfa (2009) [16].

Vì vậy, hiệu quả kinh doanh ảnh hưởng đến quyết định sử dụng nợ bao

nhiêu, bao nhiêu là nợ dài hạn, bao nhiêu là nợ ngắn hạn trong cơ cấu vốn của

mình, trực tiếp ảnh hưởng đến cân bằng tài chính của doanh nghiệp.

1.3.2. Cấu trúc tài chính

Nhân tố này được đo lường qua chỉ tiêu đòn bẩy, được tính bằng tổng

nợ chia cho tổng tài sản, ký hiệu là LEV. Chiou et al. (2006) [9] tranh luận

dựa trên lý thuyết trật tự, một doanh nghiệp cố gắng sử dụng ưu tiên nguồn

vốn đầu tư dài hạn kết hợp với nguồn tài trợ từ nội lực doanh nghiệp sẽ làm

giảm việc quản trị của cổ đơng và cũng giảm chi phí phát hành cổ phiếu. Hơn

nữa, một công ty sử dụng nợ nhiều hơn cũng có nghĩa là cơng ty đó có ít

nguồn vốn từ nội bộ cơng ty và do đó, nguồn vốn thường xun sử dụng cho

tài sản lưu động ròng là ít hơn. Nó có thể tạo ra một sự cảnh báo nhằm giảm

các vấn đề thiếu hụt vốn, từ đó đẩy mạnh việc sử dụng các nguồn hợp lý hơn

cho vốn lưu động, đạt về trạng thái tài chính an tồn hơn. Điều đó có nghĩa là

một cơng ty có tỷ lệ nợ cao sẽ chiu áp lực chi phí và chịu rủi ro lớn từ hoạt

động vay nợ. Đó chính là doanh nghiệp có nguy cơ đối diện với mất khả năng

thanh tốn và cân bằng tài chính có thể mất cân bằng. Do đó mà Wasiuzzaman

(2007) [27] cho rằng: Có mối quan hệ tỉ lệ nghiệp giữa vốn lưu động ròng và

đòn bẩy tài chính (Được đo lường bằng tổng nợ ngắn hạn và nợ dài hạn của

một doanh nghiệp trên tổng tài sản). Đồng thời, theo nghiên cứu của Merton

(1974) [19] nhấn mạnh tầm quan trọng của đòn bẩy tài chính như là một nhân

tố quyết định đến cấu trúc tài chính của doanh nghiệp và thực nghiệm cho

thấy rằng đòn bẩy có tác động ngược chiều đến vốn lưu động ròng của DN.



35



1.3.3. Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh

Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh (OCF) là lượng tiền mặt mà cơng

ty có được từ hoạt động kinh doanh của mình. Dòng tiền từ hoạt động kinh

doanh góp phần cho cơng ty tích cực tài trợ cho vốn lưu động, cho phép một

chiến lược về vốn lưu động mang tính thận trọng hơn, qua đó tạo điều kiện

tăng trưởng doanh thu bán hàng trong tương lai.

Chiou et al (2006) [9] lập luận rằng tồn tại hai hình thái quan hệ giữa

OCF với vốn lưu động ròng. Vốn lưu động ròng có thể chịu ảnh hưởng tiêu

cực bởi OCF vì sự tăng lên trong việc nắm giữ tiền mặt và đầu tư ngắn hạn sẽ

tạo điều kiện cho DN giảm nợ vay ngắn hạn, từ đó vốn lưu động ròng tăng

lên. Tuy nhiên, ở một phương diện khác, Banos- Caballero et Al (2010) [6]

dẫn chứng nghiên cứu của Fazzari và Petersen (1993) đưa ra kết luận rằng

OCF tăng lên có nghĩa là dòng tiền nội bộ của DN tăng lên, do đó mà tài sản

lưu động có khả năng được tài trợ bởi các nguồn vốn có chi phí thấp (nguồn

vốn ngắn hạn) chứ khơng phải nguồn vốn dài hạn (Hay nói cách khác vốn lưu

động ròng có thể bé hơn 0). Quan điểm này cũng tương đồng với quan điểm

của Appuhami (2008). Vì vậy, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh ảnh hưởng

theo hai chiều: tỉ lệ thuận và tỉ lệ nghịch đến vốn lưu động ròng.

OCF =

1.3.4. Tỉ lệ vốn lưu động năm trước

Vốn lưu động năm trước đó là chỉ số thể hiện giá trị của vốn lưu động

ròng năm trước. Theo các nghiên cứu đi trước thì vốn lưu động ròng năm

trước có ảnh hưởng đến cân bằng tài chính dài hạn thơng qua chỉ tiêu vốn lưu

động ròng. Theo Suleiman (2012) [25] “ Vốn lưu động trên tổng tài sản có

ảnh hưởng đến vốn lưu động ròng năm hiện tại”. [25, tr67]



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b. Lý thuyết M&M trong trường hợp có thuế

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×