Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÂN BẰNG TÀI CHÍNH DÀI HẠN CỦA DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT HÀNG TIÊU DÙNG TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÂN BẰNG TÀI CHÍNH DÀI HẠN CỦA DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT HÀNG TIÊU DÙNG TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 0trang

55



mà tác giả sử dụng để đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh là tỷ suất sinh

lời tài sản.

H1: Hiệu quả hoạt động kinh doanh của DN có quan hệ thuận chiều với

cân bằng tài chính dài hạn.

b. Cấu trúc tài chính

Cấu trúc tài chính chính là quyết định sử dụng nợ của nhà quản lý. Cấu

trúc tài chính được đo lường thông qua chỉ tiêu tỉ lệ nợ, được tính bằng tổng

nợ chia cho tổng tài sản của DN. Tỉ lệ này càng cao thì có nghĩa là DN sử

dụng nợ càng nhiều và ngược lại. Xem xét mối quan hệ của tỉ lệ nợ đến vốn

lưu động ròng, ta nhận thấy rằng, khi tỉ lệ nợ càng cao, doanh nghiệp sử dụng

nợ càng nhiều. Và xét trong điều kiện kinh tế Việt Nam, tính trung bình các

DN thuộc tất cả các nhóm ngành, tỉ lệ nợ ngắn hạn chiếm hơn 70% tỉ trọng

tổng nợ. Do đó, tỉ lệ nợ cao, thể hiện một tỉ lệ nợ ngắn hạn cao. Mặt khác, nợ

ngắn hạn có quan hệ tỉ lệ nghịch với vốn lưu động ròng bởi nợ ngắn hạn tăng

kéo theo nguy cơ DN sử dụng nợ ngắn hạn đầu tư cho tài sản dài hạn và cân

bằng tài chính của DN mất cân bằng. Do đó, tác giả cho rằng tỉ lệ nợ có mối

quan hệ tỉ lệ nghịch với vốn lưu động ròng. Quan điểm này cũng tương đồng

với quan điểm của Wasiuzzman (2013) [27]; Merton (1974) [19] cho rằng đòn

bẩy tài chính (tỉ lệ nợ) là một nhân tố quyết định đến vốn lưu động ròng và có

mối quan hệ nghịch chiều với vốn lưu động ròng. Giả thuyết đặt ra là:

H2: Cấu trúc tài chính có quan hệ nghịch chiều với cân bằng tài chính

dài hạn.

c. Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh

Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh có mối quan hệ đến nguồn vốn

ngắn hạn của DN. Khi doanh nghiệp có dòng tiền từ hoạt động lớn thì DN sẽ

sử dụng ngay dòng tiền đó vào việc đầu tư cho tài sản lưu động. Tuy nhiên,

điều này sẽ tạo ra rủi ro trong trường hợp dòng tiền từ hoạt động kinh doanh



56



của DN bất ngờ gặp sự cố và không tài trợ đủ cho tài sản lưu động của DN,

dẫn đến DN bước vào trạng thái bắt buộc phải huy động tức thời nguồn vốn

ngắn hạn để tiếp tục hoạt động của mình. Điều đó dẫn đến sự mất an tồn tài

chính của doanh nghiệp. Vì vậy, tác giả cho rằng dòng tiền từ hoạt động kinh

doanh có mối quan hệ nghịch chiều với vốn lưu động ròng.

Các nghiên cứu trên thế giới xuất hiện 2 quan điểm: Dòng tiền từ hoạt

động kinh doanh có mối quan hệ thuận chiều với vốn lưu động ròng và Dòng

tiền từ hoạt động kinh doanh có mối quan hệ nghịch chiều với vốn lưu động

ròng. Quan điểm của tác giả tương đồng với quan điểm của Bannos –

Caballeno (2010) [6].

H3: Đề tài giả thuyết dòng tiền từ hoạt động kinh doanh có quan hệ

nghịch chiều với cân bằng tài chính dài hạn.

d. Vốn lưu động ròng năm trước:

Vốn lưu động ròng năm trước thể hiện tình hình tài chính của DN năm

trước đó. Tác giả cho rằng, một DN có trạng thái tài chính cân bằng trong quá

khứ sẽ tạo điều kiện tiền đề cho DN đạt trạng thái cân bằng tài chính dài hạn.

Quan điểm của tác giả cũng tương đồng với quan điểm Suleiman, M.

Abbadi 1 & Rasha, T. Abbadi (2012) [25] trong nghiên cứu về các nhân tố

ảnh hưởng đến vốn lưu động ròng, chỉ ra rằng vốn lưu động ròng năm trước

có mối quan hệ tỉ lệ thuận đối với vốn lưu động ròng năm nay.

H4: Giả thuyết đặt ra vốn lưu động ròng năm trước có quan hệ thuận

chiều với cân bằng tài chính dài hạn.

e. Chu kì tiền mặt

Chu kì tiền mặt được định nghĩa là số ngày cần thiết để chuyển đổi chu

kì từ khi mua nguyên vật liệu đến khi sản xuất sản phẩm và bán sản phẩm thu

về tiền mặt. Chu kì tiền mặt càng ngắn thì hoạt động kinh doanh của DN càng

hiệu quả hơn. Khi chu kì tiền mặt ngắn, DN có khả năng huy động tiền mặt



57



nhanh hơn thanh toán cho các khoản vốn lưu động và từ đó, hạn chế vay ngắn

hạn. Khi vay ngắn hạn giảm bớt, DN sẽ có cân bằng tài chính dài hạn an tồn

hơn. Quan điểm của tác giả tương đồng với quan điểm của Suleiman, M.

Abbadi 1 & Rasha, T. Abbadi (2012) [25] bởi 2 nhà nghiên cứu này cũng cho

rằng chu kì tiền mặt có mối quan hệ nghịch chiều với vốn lưu động ròng.

H5: Giả thuyết đặt ra là chu kì tiền mặt có quan hệ nghịch chiều với

cân bằng tài chính dài hạn.

f. Qui mô của doanh nghiệp

Qui mô của doanh nghiệp ảnh hưởng đến sự đánh giá từ bên ngoài đối

với doanh nghiệp. Những doanh nghiệp có quy mơ càng lớn thì cơ hội huy

động nguồn vốn từ bên ngoài càng nhiều hơn. Và thực tế cho thấy rằng, các

DN niêm yết trên thị trường chứng khốn Việt Nam có qui mơ càng lớn thì số

vốn huy động được càng nhiều. Vốn huy động được lớn sẽ góp phần tạo trạng

thái an tồn cho cân bằng tài chính. Đồng thời, theo các nghiên cứu khác trên

thế giới, Suleiman (2006) [2012]; Mossawi et al (2006) [18] cũng đưa ra kết

luận rằng qui mô doanh nghiệp có mối quan hệ thuận chiều với vốn lưu động

ròng. Do đó, tác giả cũng cho rằng qui mơ doanh nghiệp và vốn lưu động

ròng có mối tương quan tỉ lệ thuận. Tác giả sử dụng công thức logarit tổng tài

sản đại diện cho chỉ tiêu qui mô doanh nghiệp. Giả thuyết đặt ra là:

H6: Qui mô doanh nghiệp có quan hệ tỉ lệ thuận với cân bằng tài chính

dài hạn.

g. Cấu trúc tài sản

Cấu trúc tài sản có ảnh hưởng đến quyết định tài trợ của doanh nghiệp.

Khi tỉ lệ tài sản cố định càng lớn mà nguồn vốn thường xuyên tài trợ cho tài

sản dài hạn khơng đổi thì cân bằng tài chính dài hạn của DN có nguy cơ mất

an tồn. Cấu trúc tài sản được đo lường thông qua chỉ tiêu tỉ lệ tài sản cố định

trên tổng tài sản. Khi tài sản dài hạn chiếm tỉ trọng lớn, nguồn vốn dài hạn



58



không thể huy động một cách nhanh chóng để có thể tài trợ cho tài sản dài

hạn, nguy cơ DN đối mặt với trường hợp vốn lưu động ròng âm là rất cao.

Các nghiên cứu của Suleiman (2012) [25]; Bannos – Cabalebo (2010) [6]

cũng có chung quan điểm về mối quan hệ tỉ lệ nghịch của cấu trúc tài sản với

vốn lưu động ròng. Dựa trên nhưng thơng tin đó, tác giả đặt ra giả thuyết:

H7: Cấu trúc tài sản có mối quan hệ tỉ lệ nghịch với cân bằng tài chính

dài hạn.

h. Biến động doanh thu

Sự biến động tổng doanh thu có ảnh hưởng đến tài sản lưu động của

doanh nghiệp. Với mức doanh thu biến động lớn đòi hỏi DN phải có những

dự trữ về hàng tồn kho, tiền mặt… Khi tài sản lưu động có xu hướng tăng lên

dẫn đến nguy cơ lượng tài sản lưu động đó khơng được tài trợ đủ bởi nguồn

vốn dài hạn, nghĩa là vốn lưu động ròng có nguy cơ âm. Trong nghiên cứu

của Hill et al.(2010) [14] cũng đưa ra nhận định rằng sự biến động doanh thu

có mối quan hệ tỉ lệ nghịch với vốn lưu động ròng. Do đó, giả thuyết của tác

giả đặt ra:

H8: Biến động doanh thu có mối quan hệ tỉ lệ nghịch với cân bằng tài

chính dài hạn.

i. Khả năng thanh toán nhanh

Khả năng thanh toán nhanh là hệ số thể hiện khả năng trả nợ của DN.

Nếu hệ số này thấp thì thể hiện khả năng trả nợ của DN kém và là dấu hiệu

báo trước DN có nguy cơ gặp khó khăn tài chính trong việc trả nợ. Nghĩa là

khả năng thanh toán nhanh càng cao thì cân bằng tài chính dài hạn càng an

tồn và ngược lại.

Khả năng thanh tốn nhanh =

H9: Giả thuyết đặt ra là khả năng thanh tốn nhanh có mối quan hệ

thuận chiều với cân bằng tài chính dài hạn



59



3.1.2. Mơ hình nghiên cứu

Quan sát và nghiên cứu các tài liệu về các nhân tố ảnh hưởng đến vốn

lưu động ròng ở các bài nghiên cứu đi trước, tác giả sử dụng các biến bao

gồm biến phụ thuộc và biến độc lập (biến được giải thích và biến giải thích):





Biến phụ thuộc:

Để hỗ trợ cho mục đích chính của doanh nghiệp là làm tăng giá trị tài

sản của công ty, doanh nghiệp cần phải có mục đích phát triển bền vững, an

tồn, tài chính khơng bị mất cân bằng. Để đo lường tính an tồn tài chính của

doanh nghiệp, vốn lưu động ròng được sử dụng để đánh giá theo lý thuyết cân

bằng tài chính. Trong bài nghiên cứu này, tác giả sử dụng vốn lưu động ròng

như là biến phụ thuộc làm thước đo đánh giá trạng thái tài chính của doanh

nghiệp. Ký hiệu vốn lưu động ròng là NWC.

Chỉ số này được tính bằng cơng thức nguồn vốn dài hạn (nguồn vốn tài

trợ thường xuyên) trừ đi tài sản dài hạn







Biến độc lập:

Liên quan đến biến giải thích, tác giả sử dụng các biến: Tỷ số lợi

nhuận trên tài sản (ROA); Cấu trúc tài chính (LEV); Dòng tiền từ hoạt động

kinh doanh (OCF); Chu kì tiền mặt (CCC); Quy mơ doanh nghiệp (SIZE);

Khả năng thanh tốn nhanh (QR); Cấu trúc tài sản (TANG); Tỉ lệ vốn lưu

động năm trước đó (NWCT_1); Biến động doanh thu (REVVOL).







Mơ hình nghiên cứu đề nghị cho đề tài:

Tác giả thực hiện nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến cân bằng tài

chính dài của các cơng ty sản xuất hàng tiêu dùng được niêm yết trên thị

trường chứng khoán Việt Nam dựa trên một nghiên cứu đã thực hiện ở

Từ các nghiên cứu đi trước, tác giả xây dựng mơ hình nghiên cứu tác

động của các nhân tố đến cân bằng tài chính dài hạn như sau:



60



NWCit=β0+β1(ROAit)+β2(LEVit)+β3(OCFit)+β4(QRit)+β5(NWCT_1it-1)

+β6(CCCit)+β7(TANGit)+ β8(REVVOLit)+ β9(GDPit)+β10(Rit)+ β11(SIZEit)

Trong đó:

ROA: tỷ số lợi nhuận trên tài sản; LEV: Đòn bẩy tài chính; OCF:

Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh; QR: Tỉ số thanh tốn nhanh;

NWC: Vốn lưu động ròng; CCC: Chu k tiền mặt; TANG: Cơ cấu tài

sản công ty; REVVOL: Sự biến động tổng doanh thu công ty; SIZE:

Quy mơ doanh nghiệp; NWCT_1: Vốn lưu động năm trước đó.

3.2.



ĐO LƯỜNG CÁC BIẾN TRONG MƠ HÌNH

Theo lý thuyết về cân bằng tài chính dài hạn, một DN đạt trạng thái



cân bằng tài chính dài hạn khi vốn lưu động ròng qua các năm đạt dương. Vì

vậy, tác giả sử dụng biến phụ thuộc để nghiên cứu là vốn lưu động ròng. Chỉ

số này được tính tốn như sau:





Vốn lưu động ròng (NWC): Chỉ số này được tính bằng cách lấy nguồn vốn

thường xuyên trừ đi giá trị tổng tài sản dài hạn.

Trên cơ sở tính khách quan của nghiên cứu, 11 biến độc lập được lựa

chọn để giải thích cho các biến phụ thuộc là:



61



Bảng 3.1: Các chỉ tiêu đo lường nhân tố ảnh hưởng vốn lưu động ròng

Các biến độc lập

Hiệu quả hoạt động

kinh doanh (ROA)

Cấu trúc tài chính

(LEV)

Dòng tiền từ hoạt động

kinh doanh (OCF)

Tỉ số thanh toán nhanh

(QR)

Vốn lưu động ròng

(NWCT_1)

Chu kỳ tiền mặt (CCC)

Cơ cấu tài sản (TANG)

Sự biến động doanh thu

(REVVOL)

Quy mô công ty (SIZE)



3.3.



Cách xác định

Lợi nhuận sau thuế/ Tổng tài sản

Tổng nợ dài hạn và ngắn hạn /

Tổng tài sản

Lợi nhuận trước thuế và lãi vay +

Khấu hao - Thuế

(Giá trị tài sản lưu động – Giá trị

hàng tồn kho)/ Giá trị nợ phải trả

ngắn hạn

Nguồn vốn thường xuyên – Giá trị

tài sản dài hạn

Số ngày phải thu + Số ngày tồn kho

- Số ngày phải trả

Tỷ lệ tài sản cố định/ Tổng tài sản

(Doanh thu năm nay – Doanh thu

năm trước)/Doanh thu năm trước

Logarit tổng tài sản



Ảnh hưởng kỳ vọng

đến biến phụ thuộc

+

+

+

+

+



CHỌN MẪU NGHIÊN CỨU

Các dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu này đều là dữ liệu thứ cấp



66 doanh nghiệp thuộc nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng được niêm yết

trên thị trường chứng khốn Việt Nam, trong đó, bài nghiên cứu chỉ tập trung

vào các công ty niêm yết trên sàn HOSE và HNX, có tình hình tài chính ổn

định, không bị thua lỗ dẫn đến hủy niêm yết do dẫn đến trạng thái kiệt quệ tài

chính. Các biến trong bài đều được tính tốn từ số liệu trên bảng cân đối kế

toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của các công ty được công khai

trên trang web. Tuy nhiên, vốn lưu động ròng tăng chưa chắc cân bằng tài

chính đã an tồn. Nếu vốn lưu động ròng dương và tăng qua nhiều năm thì

phải đánh giá xem doanh nghiệp đã tăng nguồn vốn nào hay là bán tài sản cố

định. Nếu tăng do bán tài sản cố định liên tục thì khơng thể kết luận đó là an



62



tồn về tài chính. Vì thế, ta xác định các doanh nghiệp chạy trong mơ hình

phải hoạt động liên tục, có cơ chế tài chính tốt, khơng suy thối, khơng thanh

lý tài sản tiên tục để loại trừ trường hợp trên.

Phương pháp chọn mẫu:

- Tổng thể nghiên cứu: Theo như chương 2, tác giả đã thống kê tổng

số các doanh nghiệp ngành sản xuất hàng tiêu dùng niêm yết trên thị

trường chứng khoán Việt Nam là 144 doanh nghiệp.

- Phạm vi chọn mẫu: Từ 144 doanh nghiệp, tác giả chọn ra 66 doanh

nghiệp làm mẫu nghiên cứu.

- Thời gian chọn mẫu: Từ năm 2011 đến năm 2014

- Cách thức chọn mẫu: Tác giả liệt kê và đánh số thứ tự 144 công ty

thuộc ngành sản xuất hàng tiêu dùng. Để đảm bảo tính đại diện, tác giả

đã chọn mẫu một cách ngẫu nhiên bằng cách dùng bảng số ngẫu nhiên,

tác giả chọn một điểm xuất phát trong bảng số ngẫn nhiên, sau đó chọn

một lộ trình hàng dọc. Theo lộ trình hàng dọc, tác giả so sánh với số

thứ tự các DN đã được liệt kê sẵn và đưa ra làm mẫu chọn khi số trong

bảng số ngẫu nhiên trùng với số thứ tự.

Sau khi chọn được 66 công ty, tác giả dừng lại công việc chọn mẫu

nghiên cứu. Theo tác giả thì con số 66 cơng ty này đã phù hợp với cỡ mẫu và

cũng đại diện được cho tổng thể nghiên cứu.



63



Bảng 3.2: Bảng phân bổ danh sách cơng ty chọn mẫu theo nhóm ngành nhỏ:

Nhóm ngành



Số cơng ty chọn mẫu



Tỷ lệ trên tổng thể nhóm



Nước, giải khát, bia rượu



7



58%



Ơ tơ, linh kiện, lốp xe



2



20%



Nơng thủy sản, thực phẩm



19



50%



Gia dụng, nội thất



7



50%



Quần áo, sản phẩm cá nhân



31



47%



Nguồn: Tác giả tự tổng hợp



Như vậy, các doanh nghiệp được chọn làm mẫu nghiên cứu được

phân bổ đều vào tất cả các nhóm ngành nhỏ của ngành sản xuất hàng tiêu

dùng. Do đó, mẫu được chọn phản ánh tương đối chính xác những đặc

trưng của tổng thể nghiên cứu. Vì thế, đối tượng nghiên cứu của để tài là

66 doanh nghiệp nhưng kết quả nghiên cứu có thể sử dụng một cách hữu

ích trong việc phân tích cân bằng tài chính dài hạn của các doanh nghiệp

niêm yết trên thị trường chứng khốn Việt Nam.

3.4.



PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU



3.4.1. Mơ tả thống kê

Phân tích mơ tả là bước đầu tiên của bài nghiên cứu này, phân tích này

giúp mơ tả các khía cạnh liên quan đến vốn lưu động ròng và ngân quỹ ròng.

Từ đó, cung cấp thơng tin chi tiết về mỗi biến có liên quan. Thơng tin đó bao

gồm trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị lớn nhất và giá trị nhỏ nhất. Qua đó, ta

có cái nhìn sơ bộ về các biến có trong mơ hình. Nghiên cứu được tiến hành

trong mẫu đã chọn với các thông tin về biến có sẵn.

Bài nghiên cứu sử dụng phần mềm EVIEW để chạy mơ hình phân tích

các biến trong nghiên cứu này.



64



Kết quả mô tả thống kê cho chúng ta biết những thông tin ban đầu về

các biến được sử dụng trong nghiên cứu như kích cỡ mẫu, giá trị trung bình,

độ lệch chuẩn, giá trị lớn nhất và nhỏ nhất.

3.4.2. Phân tích tương quan và đa cộng tuyến

Phân tích tương quan để đo lường mức độ liên kết tuyến tính giữa các

biến với nhau, giữa các biến độc lập với nhau và giữa biến độc lập và biến

phụ thuộc trong mơ hình. Bước này tạo ra cái nhìn tổng quan về những mối

quan hệ cần nghiên cứu: độ lớn, chiều, ý nghĩa thống kê, từ đó có thể xây

dựng mơ hình hồi quy và có các bước phân tích chuẩn xác hơn.

Hệ số tương quan (r) là một chỉ số thống kê đo lường mối liên hệ

tương quan giữa hai biến số X và Y.

Cho hai biến số x và y từ n mẫu, hệ số tương quan Pearson được ước

lượng tính bằng cơng thức sau đây:

r=

Trong đó: x, y là giá trị của biến x, y

là giá trị trung bình mẫu của biến x, y

Hệ số tương quan (r) có giá trị từ -1 đến 1. Hệ số tương quan (r) bằng 0

(hay gần 0) có nghĩa là hai biến số khơng có liên hệ gì với nhau. Ngược lại,

nếu hệ số tương quan bằng -1 hay 1 có nghĩa là hai biến số đó có một mối

quan hệ tuyệt đối. Nếu giá trị tương quan là âm (r < 0) có nghĩa là khi x tăng

cao thì y lại giảm (và ngược lại khi x giảm và y tăng). Nếu giá trị tương quan

âm (r >0) thì có nghĩa là x và y có mối quan hệ tỉ lệ thuận.

>0.8: x và y tương quan mạnh, tồn tại đa cộng tuyến.

từ 0.4 đến 0.8: x và y tương quan trung bình.

<0.4: x và y tương quan yếu.

Dựa vào hệ số tương quan r, ta có thể thấy được mối quan hệ giữa các

biến, nếu các hệ số tương quan giữa các biến độc lập là cao, thì có khả năng



65



xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến. Đa cộng tuyến có nghĩa là sự tồn tại mối

quan hệ tuyến tính “hồn hảo” hoặc chính xác giữa một số hoặc tất cả các

biến độc lập trong một mô hình hồi quy.

Trong trường hợp mơ hình bị đa cộng tuyến, ta có một số biện pháp

khắc phục như sau:

Loại bỏ biến: Vì đặc tính của đa cộng tuyến là do những mối quan hệ

chặt chẽ của các biến độc lập, vì thế, cách chắc chắn nhất để loại bỏ hoặc

giảm bớt các tác động của tính đa cộng tuyến là bỏ một hoặc nhiều biến độc

lập ra khỏi mô hình.

Tăng kích thước mẫu: Giải pháp này thích hợp cho hiện tượng đa cộng

tuyến do cỡ mẫu nhỏ, vì tăng cỡ mẫu sẽ làm cải thiện độ chính xác của một

ước lượng và do đó, giảm thiểu được những yếu tố phản tác dụng của tính đa

cộng tuyến. Đơi khi chỉ cần tăng thêm một số quan sát là khắc phục được hiện

tượng đa cộng tuyến. Tuy nhiên, việc tăng dữ liệu đơi khi đồng nghĩa với việc

tăng chi phí, nhất là nguồn dữ liệu sơ cấp.

Hạn chế của mô hình tương quan là khơng xác định được sự tương tác

giữa các biến theo chiều nào, nghĩa là không biết được đâu là nguyên nhân và

đâu là kết quả. Do đó, cần phải sử dụng thêm phân tích hồi quy để hiểu chi

tiết hơn về các mối quan hệ này.

3.4.3. Phân tích hồi qui

Phân tích hồi quy dùng để kiểm định lại mối quan hệ giữa các biến có

trong mơ hình. Tác giả sử dụng phân tích hồi qui để ước lượng mối quan hệ

nhân quả giữa biến ngân quỹ ròng với các biến độc lập khác.

Để ước lượng mơ hình hồi qui theo dữ liệu bảng, hiện nay có 3 cách

tiếp cận phổ biến: Ước lượng theo Pooled OLS (Pooled Ordinary Least

Square), ước lượng theo mơ hình các ảnh hưởng cố định Fixed Effects Model)



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÂN BẰNG TÀI CHÍNH DÀI HẠN CỦA DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT HÀNG TIÊU DÙNG TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x