Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ CÂN BẰNG TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT HÀNG TIÊU DÙNG NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ CÂN BẰNG TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT HÀNG TIÊU DÙNG NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 0trang

41



Từ biểu đồ trên, ta nhận thấy ngành hàng tiêu dùng là một ngành

chiếm tỷ lệ vốn hóa khá cao trên thị trường chứng khoán (28.5%), đứng đầu

tiên so với các ngành còn lại.

Theo những thơng tin số liệu mà tác giả tìm hiểu được, ngàng hàng

tiêu dùng của các doanh nghiệp được niêm yết trên thị trường chứng khoán

Việt Nam bao gồm 144 công ty và phân thành các nhóm nhỏ như sau:













Nước giải khát, bia, rượu: Gồm 12 cơng ty

Ơ tơ, linh kiện, lốp xe: 11 cơng ty

Nơng thủy sản, thực phẩm: 38 công ty

Gia dụng, nội thất: 14 công ty

Quần áo, sản phẩm cá nhân, thuốc lá: 66 cơng ty.



Hiện nay, Việt Nam có dân số đơng thứ ba ở khu vực Đông Nam Á,

với gần 70% dân số thuộc độ tuổi lao động (15-60 tuổi). Đặc điểm nhân khẩu

học của Việt Nam tạo ra một cơ hội lý tưởng để gia tăng nhu cầu tiêu dùng

trong nước và được kỳ vọng sẽ tiếp tục kéo dài trong 30 năm tới. Do đó,

ngành hàng tiêu dùng trong hiện tại và tương lai có khả năng tăng trưởng rất

lớn.

AC Nielsen xếp hạng Việt Nam là nước có tốc độ tăng trưởng nhanh

nhất châu Á trong lĩnh vực hàng tiêu dùng năm 2012 với tốc độ 23%, so với

Ấn Độ 18% và Trung Quốc 13%. Nhu cầu tiêu dùng trong nước được kỳ vọng

sẽ tiếp tục được thúc đẩy nhờ tác động kết hợp của các yếu tố nhân khẩu học

thuận lợi, sự độ thị hóa mở rộng, mức gia tăng thu nhập khả dụng và tỷ lệ tiêu

dùng.

Trong khi các sản phẩm tiêu dùng của Việt Nam phải cạnh tranh trên

thị trường trong nước và quốc tế lại cũng đặt ra những thách thức lớn. Các

doanh nghiệp phải tự tìm đến nhiều hoạt động, trong đó có việc nghiên cứu để

sản xuất ra các sản phẩm một cách chuyên nghiệp và đồng bộ từ khâu nghiên

cứu, ứng dụng công nghệ, nhu cầu của thị trường, thị hiếu của người tiêu



42



dùng đến việc kết hợp chặt chẽ giữa các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh

hàng tiêu dùng với các tổ chức đào tạo và nghiên cứu nhằm tạo ra những sản

phẩm có chất lượng cao theo nhu cầu thị trường

Ngoài ra, tầng lớp trung lưu của Việt Nam cũng đã tăng gấp đôi trong

5 năm qua, với thu nhập thuần tăng mạnh. Điều này làm cho nhu cầu về hàng

hóa và dịch vụ ngày càng tăng, đặc biệt là với các sản phẩm có chất lượng

cao.

Đồng thời, đã có sự chuyển biến mạnh mẽ trong tâm lý người tiêu

dùng Việt Nam, từ sử dụng hàng hóa khơng có thương hiệu sang hàng hóa có

thương hiệu. Nhu cầu về các hàng hóa đóng gói và tiện lợi, cũng như các sản

phẩm bổ dưỡng cũng đã tăng đáng kể.

Theo Báo cáo Thực phẩm và Đồ uống Việt Nam (quý III/2014) của

Công ty Nghiên cứu thị trường Business Monitor International (Vương quốc

Anh), tiêu thụ thực phẩm và đồ uống tại Việt Nam sẽ tăng trưởng rất ấn tượng

ở mức 2 con số từ nay đến năm 2018. Đơn cử, tổng mức tiêu thụ thực phẩm

năm 2014 được dự báo sẽ tăng 19,2% và tiếp tục tăng 15,5%/năm từ nay đến

năm 2018. Tổng mức tiêu thụ thực phẩm/đầu người năm 2014 được dự báo sẽ

tăng 18,1%, và tỷ lệ này sẽ là 14,7%/năm từ nay đến năm 2018.

Bên cạnh đó, theo các thơng tin được thu thập, ngành hàng tiêu dùng

đang đối mặt với sự gia nhập cạnh tranh của các nhà đầu tư nước ngồi, thơng

tin này u cầu các doanh nghiệp ngành hàng tiêu dùng của Việt Nam cần

phải nâng cao sản xuất, sản phẩm đa dạng, chất lượng cải tiến, giá thành

tương xứng thì mới có thể cạnh tranh tốt với các nhà đầu tư nước ngồi.



43



Theo tìm hiểu về các chỉ tiêu tăng trưởng doanh thu, tài sản, của các

ngành niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, tác giả tóm tắt qua

những biểu đồ để có cái nhìn tổng thể như sau:



Hình 2.2: Tỉ lệ tăng trưởng doanh thu các nhóm ngành năm 2014 so với 2012



Theo biểu đồ cột ở trên, ta thấy ngành hàng tiêu dùng nhanh có một tỷ

lệ tăng trưởng doanh thu vượt bậc so với các ngành khác. Trong khi các ngành

như viễn thơng, dầu khí có tỉ lệ tăng trưởng doanh thu âm thì ngành sản xuất

hàng tiêu dùng lại có tỉ lệ tăng trưởng doanh thu khá cao và vượt trội so với

những ngành còn lại. Đây là một trong những đặc điểm quan trọng của ngành

sản xuất hàng tiêu dùng.

Xem xét về tỉ lệ tăng trưởng tài sản của nhóm ngành sản xuất hàng tiêu

dùng với các nhóm ngành khác ta có biểu đồ sau:



Hình 2.3: Tỷ lệ tăng trưởng tài sản các nhóm ngành niêm yết trên thị trường chứng

khoán Việt Nam 2014 so với 2012



Từ biểu đồ, ta nhận thấy rằng khơng những có tốc độ tăng trưởng

doanh thu khá cao mà ngành sản xuất hàng tiêu dùng còn có tốc độ gia tăng

tài sản cũng rất lớn. Vì là ngành hàng sản xuất, đồng thời tốc độ tiêu thụ hàng

hóa lớn nên ngành sản xuất hàng tiêu dùng phải có sự đầu tư mạnh về tài sản,



44



bao gồm cả tài sản cố định và tài sản ngắn hạn. So với các ngành còn lại,

ngành sản xuất hàng tiêu dùng có tốc độ gia tăng tài sản cao hơn rất nhiều.

Tóm lại, ngành hàng tiêu dùng Việt Nam trong những năm gần đây và

dự đoán tương lai gần có những đặc điểm như sau:

 Phát triển nhanh chóng => Quy mơ của các doanh nghiệp thuộc ngành



hàng tiêu dùng cũng tăng trưởng vượt bậc.

 Tốc độ tăng trưởng về tài sản, về doanh thu cao, lớn hơn rất nhiều so



với các ngành khác niêm yết trên thị trường chứng khốn. Đây là hai

đặc điểm có thể ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành các nhân tố có

tác động đến cân bằng tài chính dài hạn của nhóm ngành này.

 Chịu sự chi phối của thị trường bán lẻ. Đòi hỏi phải có lượng vốn lưu



động lớn để giải quyết nhu cầu kinh doanh của doanh nghiệp.

 Đang dần dần xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh => đòi hỏi các doanh



nghiệp trong thị trường phải đẩy mạnh phát triển, nâng cao chất lượng

và đa dạng mặt hàng.

Những thơng tin phía trên là tình hình chung về tổng thể các DN ngành

sản xuất hàng tiêu dùng. Do giới hạn về số liệu, trong nghiên cứu, tác giả đã

thực hiện chọn mẫu để có thể nhìn nhận một cách khách quan và khoa học.

Mẫu được chọn mang tính đại diện cho tổng thể nghiên cứu, người ta sẽ rút ra

được các đặc trưng tổng thể trên cơ sở các đặc trưng của mẫu. Tổng thể

nghiên cứu là các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng

trên thị trường chứng khoán Việt Nam, mẫu nghiên cứu được chọn là 66

doanh nghiệp trong khoảng thời gian từ 2012 đến 2014, đảm bảo tính chất đại



45



diện cho tổng thể nghiên cứu. Việc chọn mẫu cụ thể sẽ được tác giả giải thích

chi tiết ở mục 3.2. Các doanh nghiệp được chọn ở đây đều là các doanh

nghiệp đồng nhất ngành sản xuất kinh doanh: chỉ chuyên về sản xuất kinh

doanh hàng tiêu dùng, các doanh nghiệp đều đang hoạt động tốt và khơng có

dấu hiệu phá sản. Việc sử dụng các số liệu của các doanh nghiệp được chọn

làm mẫu để có thể giúp tác giả đưa ra những con số biết nói, mơ tả tổng quan

hơn về các số liệu thuộc cân bằng tài chính dài hạn của các doanh nghiệp

ngành sản xuất hàng tiêu dùng Việt Nam. Từ đó, tác giả có thể rút ra những

đặc điểm cơ bản về cân bằng tài chính của các doanh nghiệp thuộc ngành này

và đề xuất được mơ hình các nhân tố ảnh hưởng đến cân bằng tài chính dài

hạn của ngành.

Để nghiên cứu sâu hơn về các số liệu liên quan đến cân bằng tài chính

dài hạn, tác giả đã xử lý số liệu thu thập được và đưa ra một số bảng thông tin

về tốc độ gia tăng giá trị vốn chủ sở hữu

Bảng 2.1: Bảng giá trị và tốc độ gia tăng vốn chủ sở hữu từ năm 2011- 2014



Đơn vị tính: triệu đồng

STT

1

2



Chỉ tiêu

Giá trị VSCH

Tốc độ

tăng/giảm



2011

2012

2013

37.416.987 42.613.788 48.143.131



2014

54.955.444



13.9%



14.15%



12.97%



Nguồn: Tác giả tự tổng hợp



Số liệu bảng 2.1 cho thấy tổng vốn chủ sở hữu của DN liên tục tăng

qua các năm với tốc độ khá lớn. Quy mơ vốn gia tăng góp phần cải thiện

năng lực tài chính đối với DN khi mơi trường kinh doanh ngày càng có

nhiều cơ hội và thách thức cũng như sự xuất hiện của các đối thủ cạnh

tranh mới, tạo nên áp lực cạnh tranh kinh doanh ngày càng gay gắt hơn

nữa. Tuy nhiên tốc độ tăng vốn chủ sở hữu giảm từ năm 2012 tới năm



46



2013 bơi thời điểm này, lượng vốn được huy động thông qua thị tường

chứng khoán giảm do sự suy giảm của thị trường chứng khoán, ảnh hưởng

từ các cuộc suy thoái kinh tế. Nhưng, đến năm 2014, tốt độ tăng trưởng

vốn chủ sở hữu lại tăng từ 12,97% lên 14,15% nhờ sự ổn định của kinh tế

vĩ mơ và hàng loạt những chính sách quản lý, tái cấu trúc thị trường chứng

khoán đã đem lại những kết quả khả quan hơn. Với nền tảng này, bước vào

năm 2014, kỳ vọng thị trường có những bước chuyển động tích cực hơn,

tiếp tục khẳng định vai trò của một kênh dẫn vốn quan trọng cho doanh

nghiệp và nền kinh tế. Giá trị nguồn vốn dài hạn hay nguồn vốn thường

xuyên của một doanh nghiệp sẽ bao gồm vốn chủ sở hữu và nợ dài hạn.

Bảng tiếp theo sẽ đưa ra những thông số về tốc độ tăng giảm của giá trị nợ

dài hạn của các DN ngành sản xuất hàng tiêu dùng được niêm yết trên thị

trường chứng khoán Việt Nam



Bảng 2.2: Giá trị nợ dài hạn và tốc độ tăng giảm qua các năm 2011-2014



Đơn vị tính: Triệu đồng

STT

1

2



Chỉ tiêu

Giá trị nợ dài hạn

Tốc độ tăng giảm



2011

8746530



2012

7402835

-15.4%



2013

2014

7966426

6150071

7.6%

-22.8%

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp



Từ bảng trên, ta thấy rằng giá trị nợ dài hạn giảm mạnh từ năm

2011 qua năm 2012: giảm 15.4%. Qua năm 2013, giá trị nợ dài hạn tăng

7.6% tuy nhiên lại tiếp tục giảm mạnh xuống 22.8% vào năm 2014. Cho

thấy rằng, các DN chủ yếu vay vốn để sử dụng cho vốn lưu động (dùng

các nguồn vay ngắn hạn), và các DN hạn chế để vay đầu tư, mởi rộng sản

xuất kinh doanh (vay dài hạn).

Bảng 2.3: Giá trị tài sản dài hạn và tốc độ tăng giảm qua các năm 2011-2014



Đơn vị tính: Triệu đồng



47



STT

1

2



Chỉ tiêu

Giá trị tài sản dài hạn

Tốc độ tăng giảm



2011

29538214



2012

29538214

19.2%



2013

2014

31170839

31267535

5.5%

3%

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp



Từ bảng trên cho thấy tổng giả trị tài sản dài hạn của các DN giảm

dần qua các năm với tốc độ sụt giảm ngày càng lớn. Điển hình vào năm

2013, tốc độ gia tăng tài sản dài hạn sụt giảm từ 19.2% xuống còn 5.5% và

tốc độ gia tăng tài sản dài hạn này tiếp tục giảm tiếp vào năm 2014 xuống

3%. Điều này cho thấy rằng, mặc dù các DN vẫn đầu tư gia tăng quy mô

bằng cách đầu tư vào tài sản dài hạn, tuy nhiên, cùng với sự khó khăn của

thị trường kinh tế vào năm 2012 – 2013 đã dấn đến sự sụt giảm của tốc độ

gia tăng tài sản.

2.2.



CÂN BẰNG TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH

SẢN XUẤT HÀNG TIÊU DÙNG NIÊM YẾT TRÊN THỊ

TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Từ cái nhìn tổng quát về cấu trúc nguồn vốn dài hạn và tài sản dài hạn



của các doanh nghiệp ngành sản xuất kinh doanh hàng tiêu dùng, tác giả tiếp

tục tổng hợp các thông tin về chỉ tiêu cân bằng tài chính dài hạn của các DN

trên được thể hiện qua chỉ tiêu vốn lưu động ròng.

Giai đoạn 2011- 2014 là giai đoạn chứng kiến nhiều sự biến động của

nền kinh tế Việt Nam nói chung và thị trường chứng khốn Việt Nam nói

riêng. Do đó, cân bằng tài chính ngắn hạn và dài hạn của các DN trong thị

trường cũng có ảnh hưởng biến động do tác động của nền kinh tế đem lại.

Qua các số liệu thu thập từ báo cáo tài chính trong giai đoạn này của 66 công

ty niêm yết trên 2 sàn giao dịch chứng khoán HOSE và HNX ta được kết quả

nghiên cứu dưới đây:



48



Cân bằng tài chính dài hạn của các DN được thể hiện thông qua chỉ số

vốn lưu động ròng. Các doanh nghiệp đạt được trạng thái cân bằng tài chính

dài hạn khi chỉ số vốn lưu động ròng dương qua các năm, và tình hình tài

chính của các DN ổn định, việc gia tăng chỉ số vốn lưu động ròng khơng phải

từ ngun nhân bán tài sản dài hạn do phá sản, thanh lý…

Dựa vào các thông số của các DN từ năm 2012 - 2014, tác giả chỉ tổng

hợp chỉ số vốn lưu động ròng tại thời điểm này và có kết quả như sau:



Nguồn: tác giả tự tổng hợp

Hình 2.4: Tỉ lệ DN có cân bằng tài chính an tồn và khơng an tồn trong danh sách

mẫu điều tra từ năm 2012 đến 2014



Biểu đồ trên thể hiện tỉ lệ các DN có chỉ số vốn lưu động ròng dương

tại năm 2014 và chỉ số này ổn định từ năm 2011 đến 2014. Theo biểu đồ, tỉ lệ

các doanh nghiệp mất cân bằng tài chính dài hạn chiếm một tỷ lệ khá nhỏ:

7/66 DN có chỉ số vốn lưu động ròng âm vào năm 2014. Tuy nhiên, từ năm

2013 đến năm 2014, lượng doanh nghiệp mất cân bằng tài chính đã gia tăng.

Đây có thể là một dấu hiệu thể hiện sự gia tăng về số lượng doanh nghiệp mất

cân bằng tài chính dài hạn trên tồn tổng thể thống kê.

Dưới đây, tác giả phân tích chỉ số vốn lưu động ròngqua các năm đối

với các doanh nghiệp được chọn làm mẫu để phân tích thơng qua biểu đồ sau:



Nguồn: Tác giả tự tổng hợp.



49



Hình 2.5: Tỉ lệ tăng giảm vốn lưu động ròng của các doanh nghiệp trong mẫu điều tra

từ năm 2011 đến 2014



Ta thấy, từ năm 2011 đến năm 2014, các DN sản xuất kinh doanh hàng

tiêu dùng đều có chỉ số vốn lưu động ròng dương và chỉ số này tăng dần qua

các năm. Như vậy, có thể đánh giá sơ qua về tình trạng tài chính của các DN

này khá an tồn. Tuy nhiên, vẫn có nhiều doanh nghiệp có tình hình tài chính

dài hạn mất cân bằng, điển hình là công ty cổ phần xi măng Hà Tiên. Tác giả

tổng hợp được bảng số liệu sau:

Bảng 2.4: Vốn lưu động ròng của cơng ty cổ phần xi măng Hà Tiên (tỷ đồng)

Năm



Năm



Năm



Tài sản ngắn hạn



2011

1.859



2012

1.608



2013

1.673



2



Nợ ngắn hạn



4.616



3.938



4.197



3.852



3



Vốn lưu động ròng



-2.757



-2.33



-2.524



-2.128



4



Khả năng thanh toán hiện hành



0.4



0.41



0.4



0.45



TT



Chỉ số



1



Tháng 9/2014

1.724



Nguồn: tác giả tự tổng hợp



Theo bảng số liệu, công ty đã mất cân bằng tài chính từ năm 2011 và

tình trạng này bị kéo dài đến tháng 9 năm 2014. Vì DN mất cân bằng tài chính

trong dài hạn nên DN có thể sử dụng nhiều biện pháp để có thể cải thiện tình

hình, tuy nhiên, tình trạng này khơng thể nhanh chóng kiểm soát được mà

phải kiểm soát và lấy lại sự thay đổi trong dài hạn.

2.3.



TÌNH HÌNH SỬ DỤNG NỢ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM

YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Như chúng ta đã nghiên cứu, chính quyết định sử dụng nợ là quyết



định làm thay đổi cấu trúc vốn của DN và từ đó, ảnh hưởng đến cân bằng tài

chính dài hạn một cách sâu sắc. Do đó, tác giả muốn tìm hiểu tình hình sử

dụng nợ của các DN được niêm yết trên thị trường chứng khoán để có thể có



50



cái nhìn khách quan hơn về tỷ lệ nợ thực tế tại các DN. Từ đó, tác giả có thể

có cơ sở để nhận định rằng đây là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến

việc mất cân bằng tài chính dài hạn tại hầu hết các DN được niêm yết trên thị

trường chứng khoán Việt Nam, trong đó có các DN ngành sản xuất hàng tiêu

dùng. Chỉ tiêu mà tác giả nghiên cứu chính là tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở

hữu và tỷ lệ nợ trên tổng tài sản.

Theo thông tin thu nhận được từ thì tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở

hữu bình quân trọng số theo giá trị sổ sách tổng hợp từ báo cáo tài chính quí

2/2012 của 647 cơng ty phi tài chính niêm yết trên 2 sàn chứng khoán Việt

Nam cao hàng đầu thế giới, lên tới 1.53 lần. Các doanh nghiệp Việt Nam

nhìnchung đã tăng đòn bẩy tài chính từ năm 2007.

Theo số liệu tính đến năm 2014, trong các nhóm ngành nghiên cứu

được thì nhóm ngành vay nợ nhiều nhất chính là cơng ty của ngành xây dựng

và bất động sản với tổng nợ phải trả gấp hơn 2 lần vốn chủ sở hữu, tức 207%.

Các doanh nghiệp niêm yết phi tài chính có tỷ lệ này là 153%, ngành năng

lượng là 144%, ngành hàng tiêu dùng với 80%.Tỷ lệ này tại các tập đoàn,

tổng công ty nhà nước chiếm tới hơn 1,73 lần, cao hơn mức bình quân 1,5 lần

của các doanh nghiệp niêm yết nói chung.

Ơng Ngũn Nam Sơn - thành viên HĐQT, Cơng ty Chứng khốn

Thiên Việt, Giám đốc điều hành Vietnam Capital Partners- trong bài báo về

báo động nợ của doanh nghiệp năm 2012 - cho rằng “Điểm yếu tài chính của

các công ty Việt Nam rất đáng báo động. Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu của

các công ty Việt Nam lên tới 120% so với mức trung bình 45% trong khu vực.

Đây là chỉ số đáng báo động vì chỉ cần trên 60% là doanh nghiệp đã có rủi ro

phá sản nếu thị trường diễn biến xấu”.



51



Nghiên cứu tỷ lệ nợ trên tổng tài sản bình quân của các nhóm ngành

được niêm yết trên thị trường chứng khốn Việt Nam, tác giả tổng hợp thành

biểu đồ như sau:

Hình 2.6: Tỷ lệ nợ trên tổng tài sản bình quân tại các nhóm ngành năm 2014



Từ hình 2.6, ta nhận thấy rằng tỷ lệ nợ trên tổng tài sản bình quân của

các nhóm ngành năm 2014 là khá lớn, trung bình lớn hơn 0.3, trong đó cao

nhất là nhóm nhành tài chính đạt 0.65, thấp nhất là nhóm ngành tiện ích cộng

đồng, dược phẩm và y tế, viễn thông đạt 0.29. Ngành sản xuất hàng tiêu dùng

có tỷ lệ nợ trên tổng tài sản cũng khá cao, đạt 0.41 so với các nhóm ngành còn

lại. Do đó, có thể ngành sản xuất hàng tiêu dùng có rủi ro mất an tồn tài

chính cũng cao hơn so với các nhóm ngành khác.

Trong khi đó, các doanh nghiệp khu vực nơng nghiệp chỉ chiếm 231

ngàn tỉ đồng dư nợ của hệ thống ngân hàng (8.8%) và cá nhân, hộ gia đình chỉ

chiếm 365 ngàn tỉ đồng (13.9%). Tại một số DN, trong cơ cấu nguồn vốn, cứ

một đồng vốn chủ sở hữu thì có đến trên 10 đồng vốn nợ.

Từ những thơng tin thực tế được nêu ra ở trên, ta có thể thấy rằng tình

hình này dẫn đến khả năng thanh tốn nợ khơng được đảm bảo, rủi ro tài

chính của DN hiện ở mức quá cao. Việc hình thành các biện pháp để đảm bảo

cho DN có một tình hình tài chính an tồn hơn trở nên cần thiết và quan trọng.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ CÂN BẰNG TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT HÀNG TIÊU DÙNG NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x