Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 KHÁI NIỆM, VAI TRÒ CÔNG BỐ THÔNG TIN

1 KHÁI NIỆM, VAI TRÒ CÔNG BỐ THÔNG TIN

Tải bản đầy đủ - 0trang

10

tự nguyện thường xuyên hơn mức quy định để đáp ứng nhu cầu thị trường

[65].





Vai trò của cơng bớ thơng tin



Q trình ln chủn vớn hiệu quả thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển

của một nền kinh tế. Tuy nhiên, sự luân chuyển vốn có hiệu quả hay không

phụ thuộc rất lớn vào hệ thống công bố thông tin minh bạch.

Một trong sáu Nguyên tắc Quản trị công ty của OEDC, Nguyên tắc số V

“Công bố Thông tin và Tính minh bạch”: Hệ thống công bố thông tin tốt nâng

cao tính minh bạch là đặc điểm then chốt của việc giám sát công ty dựa vào

thị trường, và đóng vai trò chủ ́u giúp cở đơng có thể thực hiện qùn sở

hữu của mình mợt cách có hiệu biết; kinh nghiệm ở các q́c gia có thị trường

chứng khốn lớn và năng động cho thấy công bố thông tin cũng có thể là một

công cụ hiệu quả để tác động tới hoạt động của công ty và bảo vệ nhà đầu tư.

Một hệ thống công bố thông tin tốt có thể giúp thu hút vớn và duy trì lòng tin

của thị trường. Ngược lại, công bố thông tin yếu kém và không minh bạch có

thể dẫn đến hành vi phi đạo đức và mất đi tính trung thực của thị trường, gây

thiệt hại lớn không chỉ cho công ty và cổ đông mà cho cả nền kinh tế nói

chung. Cổ đông và nhà đầu tư tiềm năng phải tiếp cận thông tin thường

xuyên, tin cậy và so sách được mợt cách chi tiết đủ để họ đánh giá trình độ

quản lý của Ban Giám đốc và đưa ra quyết định sáng suốt về giá trị, quyền sở

hữu và biểu quyết của cổ phần. Thông tin không đầy đủ và không rõ ràng có

thể cản trở khả năng hoạt động của thị trường, làm tăng chi phí vốn và dẫn tới

việc phân bổ nguồn lực không hiệu quả.

Công bố thông tin có vai trò rất lớn đới với: bên cơng khai thơng tin, bên

sử dụng thơng tin và cho tồn bộ thị trường. Cụ thể, công bố thông tin có vai

trò trong việc thúc đẩy lợi ích lâu dài cho công ty đó là: giảm chi phí sử dụng

vốn và tăng giá trị công ty [66]. Đối với nhà đầu tư là người sử dụng đồng



11

vớn của mình để đầu tư vào các doanh nghiệp nhằm tìm kiếm lợi nhuận song

song với việc chấp nhận một mức rủi ro. Để hạn chế mức rủi ro này thì nhà

đầu tư cần phải có một lượng thông tin kịp thời và tin cậy được cung cấp từ

bên công khai. Công bố thông tin giúp nhà đầu tư có những quyết định đầu tư

đúng đắn, được đối xử công bằng – giảm vấn đề chi phí đại diện và xung đột

lợi ích [66]. Đối với thị trường, việc công bố thông tin kịp thời và tin cậy thúc

đẩy tính thanh khoản và gia tăng tính hiệu quả của thị trường chứng khoán

của thị trường vì nó làm tăng tính trung thực của thị trường, tạo niềm tin cho

các nhà đầu tư và cổ đơng cơng ty [66].

1.2. QUY ĐỊNH PHÁP LÝ VỀ CƠNG BỐ THÔNG TIN TRONG BÁO

CÁO THƯỜNG NIÊN CỦA NGÂN HÀNG

1.2.1. Lập và công bố thông tin trong báo cáo thường niên của các

ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam

Theo quy định tại khoản 3, điều 5, nghị định số 59/2009/NĐ–CP ban

hành ngày 16/07/2009 và có hiệu lực từ ngày 15/09/2009 về tổ chức và hoạt

động của ngân hàng thương mại, Ngân hàng thương mại cổ phần là ngân hàng

thương mại được tở chức dưới hình thức cơng ty cổ phần. Cũng theo nghị

định số 59/2009/NĐ–CP tại mục 3, điều 30, khoản quy định ngân hàng

thương mại cổ phần phải có tối thiểu 100 cổ đông và không hạn chế số lượng

tối đa. Theo quy định tại Nghị định 10/2011/NĐ-CP ngày 26/01/2011 Sửa

đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 141/2006/NĐ- CP ngày 22 tháng

11 năm 2006 về ban hành về Danh mục vốn pháp định của các tở chức tín

dụng thì ngân hàng thương mại cở phần phải có vốn pháp định là 3000 tỷ

đồng và Tổ chức tín dụng được cấp giấy phép thành lập và hoạt động phải có

biện pháp bảo đảm có số vốn điều lệ thực góp hoặc được cấp tối thiểu tương

đương mức vốn pháp định quy định tại Danh mục ban hành kèm theo, chậm

nhất vào ngày 31 tháng 12 năm 2011. Thông qua các quy định tại các văn bản



12

pháp luật như đã trình bày ở trên thì các ngân hàng thương mại cổ phần thỏa

mãn các tiêu chuẩn là công ty đại chúng quy định tại khoản 1 điều 25 Luật

chứng khốn (Cụ thể: Cơng ty đại chúng là công ty cổ phần được ít nhất 100

nhà đầu tư sở hữu, không kể nhà đầu tư chứng khoản chuyên nghiệp và có

vốn góp điều lệ từ 10 tỷ đồng trở lên). Vì vậy, các ngân hàng thương mại cổ

phần ở hiện có ở Việt Nam (giai đoạn từ 2012 – 2015) thuộc đối tượng công

bố thông tin theo quy định tại điều 1(Công ty đại chúng) phải lập báo cáo

thường niên theo phụ lục II ban hành kèm thông Thông tư số 52/2012/TTBTC ngày 5/4/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn về việc công bố thông tin

trên thị trường chứng khốn (thay thế Thơng tư 09/2010/TT-BTC). Bắt đầu từ

ngày 1/1/2016, các ngân hàng thương mại cổ phần thỏa mãn tiêu chuẩn là

công ty đại chúng phải công bố thông tin theo hướng dẫn của của thông tư

155/2015/TT-BTC (thay thế Thông tư 52/2012/TT-BTC). Cụ thể, các ngân

hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam phải lập báo cáo thường niên, bao gồm

thơng tin chung về cơng ty, tình hình hoạt động trong năm, báo cáo và đánh

giá của ban giám đốc, đánh giá của Hội đồng quản trị về hoạt động của Công

ty, quản trị công ty và báo cáo tài chính theo Phụ lục số IV ban hành thông tư

155/2015/TT-BTC. Đồng thời, Công ty đại chúng (cụ thể trong trường hợp

này là các ngân hàng thương mại cổ phẩn) phải công bố thông tin về báo cáo

thường niên chậm nhất là 20 (hai mươi) ngày sau khi công bớ báo cáo tài

chính năm được kiểm tốn nhưng khơng vượt quá 120 ngày, kể từ ngày kết

thúc năm tài chính. Thông tin tài chính trong báo cáo thường niên phải phù

hợp với báo cáo tài chính năm được kiểm toán.

Báo cáo thường niên là tài liệu được sử dụng trong truyền thông tin

thương hiệu, cung cấp lượng thông tin phong phú cho khách hàng về doanh

nghiệp, về hoạt động kinh doanh, lợi nhuận và các hoạt động liên quan của

Doanh nghiệp trong suốt một năm qua cũng như kế hoạch kinh doanh, lợi



13

nhuận, phát triển của doanh nghiệp trong thời gian tới (Theo Thông tư số

52/2012/TT-BTC). Thông tin công bố trong báo cáo thường niên được phân

thành hai loại dựa vào tính ràng buộc pháp lý của thông tin: thông tin bắt buộc

và thông tin tự nguyện.

1.2.2. Công bố thông tin bắt buộc

Công bố thông tin bắt buộc trong báo cáo thường niên là việc ngân hàng

phải công bố thông tin bắt buộc theo những quy định của các văn bản pháp

luật có liên quan như: Đối với các Báo cáo thường niên mà các ngân hàng

thương mại cổ phần lập cho trước năm 2012 theo quy định tại Thông tư

09/2010/TT-BTC; Đối với các Báo cáo thường niên được lập cho các năm

2012 – 2015 theo mẫu phụ lục II đi kèm theo Thông tư số 52/2012/TT-BTC

ngày 5/4/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị

trường chứng khốn; Đới với các Báo cáo thường niên được lập bắt đầu từ

năm 2016 theo mẫu phục lục IV theo Thông tư số 155/2015/TT-BTC ngày

06/10/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị

trường chứng khốn.

1.2.3. Cơng bố thơng tin tự nguyện

Công bố thông tin tự nguyện trong báo cáo thường niên của ngân hàng

là việc ngân hàng công bố thêm thơng tin ngồi những thơng tin bắt ḅc, có

nghĩa là một ngân hàng có thể hoặc không cần phải công bố các thông tin

được cung cấp thêm nhằm thỏa mãn nhu cầu của những người sử dụng thơng

tin bên ngồi doanh nghiệp như các nhà phân tích tài chính, các công ty tư

vấn, các nhà đầu tư là các tổ chức, người gửi tiền vào ngân hàng, …. Ngày

nay, các công bố thông tin tự nguyện thu hút mối quan tâm lớn của người sử

dụng thơng tin vì tính ảnh hưởng của nó, và các ngân hàng hay các doanh

nghiệp cũng ngày càng được khuyến cáo là sẽ thu được nhiều lợi ích hơn khi

công bố thông tin dạng này. Theo Mohammed Hossain (2008) [44], những



14

thông tin tự nguyện thường bao gồm những nhóm thông tin sau: Thông tin

chung giới thiệu về ngân hàng; Chiến lược Công ty; Quản trị cơng ty; Tình

hình tài chính; Quản trị rủi ro cơng ty: công bố rủi ro tín dụng, rủi ro thị

trường, rủi ro lãi suất, rủi ro tiền tệ, rủi ro thanh khoản; Các vấn đề về chính

sách kế toán; Các thống kê phi tài chính quan trọng; Hoạt động xã hợi và các

hoạt đợng khác. Căn cứ vào mơ hình cơ bản chỉ số tự nguyện công bố thông

tin của Meek năm 1995, thông tin tự nguyện được chia thành 3 loại: Thông tin

chiến lược (Strategic information – SI), Thông tin tài chính (Financial

infomation– FI), Thông tin phi tài chính (Noninformation – NFI) [1].

1.2.4. Yêu cầu thông tin cung cấp trong báo cáo thường niên

Trong báo cáo thường niên, các ngân hàng phải thể hiện được sự minh

bạch trong cung cấp thông tin đến nhà đầu tư, người gửi tiền,…; Thể hiện

được trách nhiệm của mình đới với cở đơng hiện hữu và khách hàng (cá nhân,

tổ chức) đồng thời phải thu hút được sự quan tâm của các tổ chức đầu tư, nhà

đầu tư cá nhân mới, công chúng có tiền nhà rỗi.

Theo “Nguyên tắc công bố thông tin” quy định tại thông tư

155/2015/TT-BTC: Việc công bố thông tin phải đầy đủ, chính xác, kịp thời

theo quy định pháp luật.

Theo các nguyên tắc quản trị công ty của OEDC về “Công bố Thông tin

và Tính minh bạch”:

Khuôn khổ quản trị công ty phải đảm bảo việc công bố thông tin kịp thời

và chính xác về mọi vấn đề quan trọng liên quan đến cơng ty, bao gồm tình

hình tài chính, tình hình hoạt động, sở hữu và quản trị công ty.

- Công bố thông tin phải bao gồm, nhưng không hạn chế, các thông tin

quan trọng về: Kết quả tài chính và hoạt động công ty; mục tiêu công ty; sở

hữu cổ phần đa số và quyền biểu quyết; chính sách thù lao cho thành viên Hội

đồng quản trị và cán bợ quản lý cấp cao, bao gồm trình đợ, quy trình tủn



15

chọn, các vị trí đang nắm giữ tại công ty khác và liệu họ có được Hội đồng

Quản trị coi là độc lập hay không; các giao dịch với các bên liên quan; các

yếu tố rủi ro có thể tiên liệu; các vấn đề liên quan đến người lao động và các

bên có quyền lợi liên quan khác; cơ cấu và chính sách quản trị, cụ thể là nội

dung của bất kỳ quy tắc hoặc chính sách quản trị nào và quy trình thực hiện

nó.

- Thơng tin phải được chuẩn bị và công bố phù hợp với tiêu chuẩn chất

lượng cao về công bố thông tin kế toán, tài chính và phi tài chính.

- Kiểm toán hằng năm phải được tiến hành bởi một đơn vị kiểm tốn

đợc lập, đủ năng lực và có chất lượng cao nhằm cung cấp ý kiến đánh giá độc

lập và khách quan cho Hội đồng Quản trị và các cổ đông, đảm bảo rằng các

báo cáo tài chính đã thể hiện mợt cách trung thực tình hình tài chính và hoạt

đợng của công ty về mọi mặt chủ chốt.

- Đơn vị kiểm tốn đợc lập phải chịu trách nhiệm đới với cổ đông và có

trách nhiệm thực hiện công tác kiểm tốn mợt cách chun nghiệp đới với

cơng ty.

- Các kênh phổ biến thông tin phải tạo điều kiện thuận tiếp cận thơng tin

bình đẳng, kịp thời và hiệu quả chi phí cho người sử dụng.

Khuôn khổ quản trị công ty phải được bổ sung bằng các biện pháp thúc

đẩy sự phát triển của các dịch vụ phân tích hay tư vấn do các tở chức phân

tích, mơi giới chứng khốn, định mức tín nhiệm cung cấp. Các phân tích, tư

vấn có liên quan tới quyết định của nhà đầu tư này phải không bị ảnh hưởng

bởi những xung đột lợi ích quan trọng có thể tác động đến tính trung thực của

ý kiến phân tích hoặc tư vấn của họ.

1.3. CÁC NHÂN TỐ ANH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG

TIN TRONG BÁO CÁO THƯỜNG NIÊN CỦA NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

13.1. Lý thuyết giải thích công bố thông tin

a. Lý thuyết đại diện (Agency theory)



16

Trên thực tế, các công ty cổ phần niêm yết, công ty đại chúng có số lượng

chủ sở hữu rất lớn nhưng nếu tất cả các cổ đông đều đứng ra quản lý doanh

nghiệp thì khi doanh nghiệp đưa ra quyết định cần phải có sự thống nhất của tất

cả các cổ đông. Điều này gây ra khó khăn và mất thời gian cho doanh nghiệp

nên các cổ đông doanh nghiệp sẽ ủy quyền cho giám đốc điều hành đứng ra

điều hành công ty. Sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền quản lý làm nảy

sinh vấn đề đại diện. Vấn đề đại diện xảy ra khi các nhà đầu tư dùng vốn của

mình đầu tư vào doanh nghiệp nhưng họ khơng có ý định đứng ra quản lý

doanh nghiệp mà ủy quyền cho các nhà quản lý quản trị doanh nghiệp (Jensen

and Meckling, 1976 [46]). Điều này dẫn đến sự xung đột về lợi ích giữa nhà

quản trị doanh nghiệp với các nhà đầu tư bên ngồi, cở đơng hiện tại của doanh

nghiệp, nguyên nhân là do nhà quản trị có thể tìm cách tới đa hóa lợi ích mình,

nhưng có thể gây tổn hại đến lợi ích nhà đầu tư và cở đơng (Healy và Palepu,

2001 [39]). Vậy, để dung hòa lợi ích giữa người quản lý và chủ sở hữu của

doanh nghiệp thì cở đơng doanh nghiệp cần kiểm sốt dòng thơng tin. Cợng

đồng đầu tư liên tục đấu tranh để đòi các cơng ty đưa ra những thơng tin chính

xác, kịp thời và chi tiết về hoạt động của họ. Các báo cáo tài chính, báo cáo

thường niên với chất lượng cao hơn và sự hiện diện của các thông tin khác cho

nhà đầu tư và các chuyên gia phân tích như các báo cáo tóm lược của công ty

và các thông cáo báo chí sẽ giúp giám sát các công ty tốt hơn và sớm phát hiện

ra bất cứ một động thái nào của các nhà quản lý bướng bỉnh gây tổn hại lợi ích

cho các cổ đông5. Như vậy, vấn đề đại diện sẽ được giảm bớt khi thông tin mà

doanh nghiệp công bố kịp thời và tin cậy.

Lý thuyết đại diện (Jensen & Mecking, 1976 [46]) nghiên cứu mối quan

hệ giữa một bên là chủ sở hữu công ty và một bên là quản lý công ty (trường

hợp chủ sở hữu công ty không đứng trực tiếp quản lý công ty) cho rằng cả hai

5



http://www.saga.vn/thuat-ngu/agency-problem-van-de-dai-dien~420



17

bên đều ḿn đạt lợi ích của mình. Mợt vài ́u tớ ảnh hưởng đến mức độ

công bố thông tin có quan hệ với vấn đề đại diện là quy mô, khả năng sinh lời,

cơ cấu quản lý doanh nghiệp [Trích dẫn từ luận văn của Nguyễn Thị Thanh

Phương, Trang 25]. Ở các doanh nghiệp (bao gồm ngân hàng) có quy mô

càng lớn thì chi phí phát sinh liên quan đến vấn đề đại diện càng lớn. Hay nói

cách khác, theo Rodriguez Perez (2004) [57] chi phí đại diện phụ thuộc vào

quy mô của doanh nghiệp (bao gồm cả ngân hàng thương mại). Vậy để làm

giảm chi phí đại diện, các doanh nghiệp có quy mơ càng lớn thì sẽ cơng bớ

càng nhiều thông tin hơn. Mối quan hệ giữa khả năng sinh lời và chi phí đại

diện thể hiện ở các doanh nghiệp có lợi nhuận càng cao hay khả năng sinh lời

thì sẽ có xu hướng cơng bớ nhiều thơng tin hơn, điều này nhằm thể hiện cho

khả năng điều hành của bên được ủy quyền quản lý (Ginner, 1997) [36]. Cũng

theo lý thuyết này, thành viên hội đồng quản trị không điều hành là cần thiết

để giám sát và kiểm sốt các hành đợng của giám đớc vì họ có thể có những

hành vi cơ hội riêng (Berle và Means, 1932 [15]; Jensen và Meckling, 1976

[46]`). Mangel và Singh (1993) [52] tin rằng Giám đốc không điều hành có

nhiều cơ hợi hơn để kiểm sốt và đới mặt với một mạng lưới phức tạp hơn về

các động cơ, bắt nguồn trực tiếp từ trách nhiệm của mình làm giám đốc và là

chủ sở hữu của công ty.



b. Lý thuyết tín hiệu (Signaling Theory)

Theo Healy và Palepu (2001) [39], mức đợ sở hữu thơng tin về tình hình,

triển vọng phát triển của công ty đối với nhà đầu tư và nội bộ công ty là khác

nhau.Vậy, một điều chắc chắn xảy ra đó là không có sự công bằng trong việc

tiếp cận thông tin hay có sự bất cân xứng thơng tin giữa các đới tượng bên

trong và bên ngồi doanh nghiệp.



18

Theo bài báo “Thông tin bất cân xứng – rủi ro tiềm ẩn” của tác giả

Nguyễn Thúy Anh đăng trên Tạp chí Tia Sáng về vấn đề “Thông tin bất cân

xứng trên thị trường chứng khoán Việt Nam”, tác giả cho rằng: trên thị trường

chứng khoán, hiện tượng bất cân xứng thông tin xảy ra khi: doanh nghiệp che

giấu các thông tin bất lợi, thổi phồng thông tin có lợi, ...; doanh nghiệp cung

cấp thông tin không công bằng đối với các nhà đầu tư; doanh nghiệp sau khi

phát hành cổ phiếu không chú trọng vào đầu tư sản xuất kinh doanh mà chỉ

tập trung vào việc “làm giá” trên thị trường chứng khốn; có sự rò rỉ thơng tin

nội gián; một số nhà đầu tư tạo cung cầu ảo trên thị trường dẫn đến phản ánh

sai lệch giá trị của doanh nghiệp; một số kẻ xấu tung tin đồn thất thiệt cho

doanh nghiệp; các cơ quan truyền thông cung cấp thông tin sai lệch; các trung

gian tài chính cung cấp, xử lý thơng tin khơng chính xác... Tình trạng bất cân

xứng về thông tin sẽ dẫn đến việc các nhà đầu tư đưa ra các quyết định đầu tư

không chính xác, gây cung cầu ảo, thị trường bong bóng và tiềm ẩn nguy cơ

sụp đổ thị trường. Thị trường chứng khoán Việt Nam cũng như bất kỳ thị

trường mới nổi nào trên thế giới, hiện tượng thông tin bất cân xứng xảy ra phổ

biến trên mọi ngành, lĩnh vực.

Theo tác giả Nguyễn Thúy Anh, các nguyên nhân dẫn đến thơng tin bất

cân xứng trên thị trường chứng khốn Việt Nam như sau:

Thứ nhất, ngồi các thơng tin bắt ḅc theo luật định phải cơng bớ thì

các doanh nghiệp không chủ động cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời. Đặc

biệt đối với các công ty có cổ phiếu giao dịch trên thị trường phi chính thức

(OTC), tình trạng phổ biến là nhà đầu tư hầu như mù mờ về tình hình làm ăn,

tình hình hoạt đợng kinh doanh của cơng ty. Các thơng tin tìm được chủ ́u

qua nguồn tin riêng, trên các diễn đàn chứng khoán hoặc tin đồn.

Thứ hai, có hiện tượng rò rỉ thơng tin chưa hoặc khơng được phép cơng

khai. Sự rò rỉ thơng tin phổ biến trong công tác đấu giá cổ phiếu, những thông



19

tin này không được bảo mật chặt chẽ mà được cung cấp một cách riêng lẻ cho

những đối tượng có nhu cầu. Những người nắm được cụ thể, chi tiết về tổng

cầu cổ phiếu của thị trường, các cá nhân tở chức nào tham gia đấu giá sẽ tính

tốn được hợp lý mức giá mà mình bỏ thầu, qua đó chiếm lợi thế so với các

nhà đầu tư khác khơng có thơng tin. Sự rò rỉ thơng tin còn thể hiện ở việc

công bố các thông tin có lợi của công ty. Ví dụ đối với các quyết định của Hội

đồng quản trị như chia cổ tức bằng cổ phiếu thưởng, tăng quy mô vốn, ...

thông thường do các nguồn quan hệ cá nhân, một số nhà đầu tư còn biết trước

khi Trung tâm chứng khốn cơng bớ vài ngày và đã tranh thủ thu mua cổ

phiếu để chờ giá lên. Đến khi các nhà đầu tư còn lại biết được thơng tin thì đã

q ṃn. Chính vì vậy, khơng có gì ngạc nhiên khi đầu tư trên thị trường

chứng khoán Việt Nam đang diễn ra theo hiện tượng "bầy đàn", vì có sự suy

diễn rằng, việc mua hàng loạt hay bán hàng loạt cổ phiếu của một nhóm nhà

đầu tư nào đó là do có thông tin biết trước.

Thứ ba, doanh nghiệp cung cấp thông tin không công bằng đối với các

nhà đầu tư: ưu tiên cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư chiến lược, các nhà

đầu tư tổ chức mà không công bố rộng rãi. Đến nay, một hiện tượng phổ biến

cho thấy các cuộc đấu giá thì người đấu giá thành cơng chủ ́u là các nhà đầu

tư tổ chức. Loại trừ khả năng các nhà đầu tư tổ chức có kinh nghiệm, kỹ năng

phân tích và "trường vớn" hơn thì người ta cũng nghi ngờ các nhà đầu tư nhận

được nhiều thông tin chất lượng hơn so với các nhà đầu tư cá thể.

Thứ tư là hiện tượng lừa đảo. Đây không phải là hiện tượng phở biến

trên thị trường chứng khốn Việt Nam nhưng rất đáng cảnh báo các nhà đầu

tư nghiệp dư, đặc biệt những người không có kiến thức về chứng khoán và

kinh tế lại có tham vọng làm giàu bằng kinh doanh chứng khoán.

Thứ năm là việc tung tin đồn thất thiệt. Trong thời gian hoạt động vừa

qua của thị trường chứng khốn, có khơng ít tin đồn ảnh hưởng đến uy tín của



20

các công ty niêm yết. Các tin này thường được tung ra trên các diễn đàn

chứng khoán (forum), trên các sàn giao dịch chứng khoán, hoặc được truyền

miệng. Do nhà đầu tư chưa có kinh nghiệm, kỹ năng để kiểm chứng nguồn

thông tin, đồng thời do cơ chế thơng tin của doanh nghiệp còn ́u kém, chậm

chạp nên dẫn đến gây tâm lý hoang mang cho nhà đầu tư, ảnh hưởng đến giá

cả cổ phiếu trên thị trường. Trong khi đó, các quy định của Nhà nước về việc

xử phạt đối với việc tung tin đồn trên thị trường chứng khốn vẫn còn trong

giai đoạn soạn thảo. Cơ chế phát hiện đối với việc tung tin đồn cũng chưa rõ

ràng.

Thứ sáu là các cơ quan truyền thông cung cấp thông tin sai lệch, không

đầy đủ. Đây không phải là hiện tượng phổ biến nhưng khiến cho các nhà đầu

tư chuyên nghiệp không mấy tin cậy vào chất lượng thơng tin của các cơ quan

báo chí. Ngồi ra còn nhiều hiện tượng khác về việc mợt sớ nhà đầu tư làm

giá, tạo cung cầu ảo trên thị trường khiến cho giá cả biến động mạnh. Sự thua

thiệt thuộc về các nhà đầu tư cá nhân, không có nguồn tin nợi bợ, khi ḿn

mua thì khơng thể nào tìm được nguồn mua do các nhà đầu tư lớn đã thâu tóm

tồn bợ, khi ḿn bán thì cũng khơng thể nào bán được do thị trường bão

hòa... Mặc dù đến nay chưa có những nghiên cứu định lượng nhưng có thể

khái qt bức tranh tồn cảnh tình trạng bất cân xứng thơng tin trên thị trường

chứng khốn Việt Nam khá hỗn độn. Điều này phù hợp với đánh giá của các

chun gia về tình trạng thị trường chứng khốn Việt Nam đang phát triển quá

nóng, không phản ánh thực chất giá trị của doanh nghiệp và cung cầu thị

trường.

Theo tác giả Dương Thị Diệp Mai (2012) [4]: Thông tin bất đối xứng

luôn tồn tại trong hệ thống ngân hàng từ cả phía khách hàng và ngân hàng.

Thông tin càng ít bất đối xứng nếu các ngân hàng hiểu rõ hơn về khách hàng.

Điều này chỉ trở thành hiện thực khi có các điều kiện tiên quyết như hệ thống



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 KHÁI NIỆM, VAI TRÒ CÔNG BỐ THÔNG TIN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×