Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRONG BÁO CÁO THƯỜNG NIÊN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRONG BÁO CÁO THƯỜNG NIÊN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 0trang

79

Theo tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương, Viện chiến lược ngân hàng –

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhận định các cơ hội và thách thức mà ngành

ngân hàng Việt Nam phải đối mặt do TPP mang lại như sau:

Cơ hội cho hệ thống ngân hàng, cụ thể:

Thứ nhất, các luồng vốn đầu tư quốc tế vào Việt Nam sẽ tăng trưởng

mạnh trong thời gian tới tạo thuận lợi cho hệ thống ngân hàng tăng cường

thanh khoản và gia tăng cơ hợi kinh doanh. Ngồi ra, hệ thớng ngân hàng có

điều kiện tiếp cận với các nguồn vốn ủy thác trên thế giới với chi phí thấp hơn

ngành Ngân hàng “có dịp” lặp lại giai đoạn phát triển thần kỳ như năm 2006

khi Việt Nam gia nhập WTO, nhưng cường độ có thể thấp hơn;

Thứ hai, Hiệp định TPP sẽ tạo triển vọng cho ngành thương mại Việt

Nam đạt mức tăng trưởng mạnh mẽ, mở ra cơ hội cho các ngân hàng thương

mại Việt Nam đồng hành hỗ trợ vốn, dịch vụ cho các doanh nghiệp xuất khẩu

trong tương lai;

Thứ ba, lĩnh vực tài chính – ngân hàng sẽ được mở rộng hơn theo các

cam kết chung. Theo đó, Việt Nam có cơ hội thu hút vốn đầu tư nước ngồi

vào ngành ngân hàng các ngân hàng – mợt ngành cần vốn, công nghệ và năng

lực quản lý điều hành cao. Hơn nữa, các ngân hàng thương mại Việt Nam có

khả năng nới “room” thêm nữa cho các đối tác chiến lược nước ngồi. Việc

tham gia sâu rợng của các nhà đầu tư nước ngoài cũng sẽ tạo điều kiện mở

rộng hợp tác, nâng cao năng lực quản trị và tài chính cho các ngân hàng nội

địa. Đây có thể là cơ sở để phát triển ngành ngân hàng Việt Nam trong tương

lai.

Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội đó thì tác giả Nguyễn Thị Thanh

Hương, Viện chiến lược ngân hàng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhận

định ngành ngân hàng Việt Nam phải vượt qua các thách thức như:



85



do vị thế của Việt Nam sẽ cải thiện nhiều hơn sau khi gia nhập TPP. Theo đó,



80

Thứ nhất, với sự tham gia ngày càng sâu rộng của ngân hàng nước ngoài,

đặc biệt các định chế tài chính đến từ Mỹ, Nhật Bản và Úc thì áp lực cạnh

tranh trong ngành sẽ ngày càng tăng lên. Các ngân hàng nước ngoài với tiềm

lực tài chính và khả năng quản trị chuyên nghiệp sẽ gia tăng sức ép đối với

khối ngân hàng trong nước;

Thứ hai, chiến lược “bán lẻ” của các ngân hàng nước ngoài với những

thế mạnh về sản phẩm dịch vụ, công nghệ, kỹ năng tiếp cận khách hàng

chuyên sâu có thể khiến ngân hàng nội địa mất dần các phân khúc thị trường

Thức ba, việc mở “room” tuy giúp các ngân hàng nội địa có thể tiếp

nhận luồng vớn từ các nhà đầu tư nước ngồi nhiều hơn, nhưng sức ép bị thâu

tóm và chi phối cũng tăng cao.

Đứng trước những cơ hội và thách thức đó, các ngân hàng thương mại cổ

phần phải nhận thức rõ phải hòa mình vào các tiêu ch̉n cơng bớ thơng tin

q́c tế, cung cấp những thông tin tài chính và phi tài chính quan trọng, cần

thiết cho các đối tượng sử dụng thông tin như nhà đầu tư, người gửi tiền, …

để thu hút nhà đầu tư, người gửi tiền trong nước và nước ngồi. Cụ thể, theo

quy định về ngơn ngữ công bố thông tin trong thông tư 155/2015/TT-BTC:

Ngôn ngữ thơng tin cơng bớ trên thị trường chứng khốn là tiếng Việt. Việc

công bố thông tin bằng tiếng Việt và tiếng Anh được áp dụng đối với Sở giao

dịch chứng khoán, Trung tâm lưu ký chứng khoán theo quy định của Sở giao

dịch chứng khoán, Trung tâm lưu ký chứng khoán được Ủy ban Chứng

khoán Nhà nước chấp thuận. Các đối tượng khác được khuyến khích công bố

thông tin bằng tiếng Anh theo hướng dẫn tại Quy chế của Sở giao dịch chứng

khoán, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Trường hợp công bố thông tin bằng

tiếng Việt và tiếng Anh thì nợi dung thơng tin cơng bớ bằng tiếng Anh chỉ có



85



quan trọng, và là vấn đề mà các ngân hàng Việt Nam cần đặc biệt quan tâm;



81

tính tham khảo. Các ngân hàng thương mại cổ phần phải công bố thông tin

trong báo cáo thường niên vừa bằng Tiếng Việt và Tiếng Anh.

Thông thường, thông tin công bố tự nguyện trong báo cáo thường niên

của các ngân hàng thường chịu sự chi phối của các các Giám đốc điều hành.

Trách nhiệm liên quan đến tính minh bạch trong công bố thông tin cần có sự

ràng buộc pháp lý đối với các Giám đốc điều hành của ngân hàng. Theo kết

quả của nghiên cứu, tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị không điều hành trong các

ngân hàng thương mại cổ phần khá cao với giá trị trung bình gần bằng 1. Tuy

trung bình là 53%. Qua đây cho thấy, vai trò của các thành viên hợi đồng quản trị

khơng điều hành khá lu mờ trong việc chi phối công bố thông tin. Các ngân hàng

thương mại cổ phần cần nâng cao vai trò của thành viên hợi đồng quản trị khơng

điều hành trong cơng tác giám sát và kiểm sốt điều khiển các hoạt động của

công ty và hoạt động quản lý của giám đốc điều hành.

Theo Nguyễn Thị Thu Thảo (2015) [8], các nhân tố ảnh hưởng đến mức

độ công bố thông tin tự nguyện của các doanh nghiệp niêm yết trên

HOSE]nhằm mục tiêu giảm bất cân xứng thông tin giữa nhà quản lý và nhà

đầu tư, trong các hợp đồng giữa ngân hàng và nhà quản lý nên có những quy

định cụ thể về thông tin tự nguyện cần công bố, quy định rõ trách nhiệm pháp

lý mà nhà quản lý có thể gặp phải nếu công bố thông tin không đầy đủ và kịp

thời theo yêu cầu sử dụng. Các mối đe dọa này của cổ đông có thể tác động

vào quyết định công bố thông tin của người quản lý, khiến nhà quản lý công

bố thông tin tự nguyện một cách trung thực, chất lượng hơn17.

Tính đến thời điểm cuối 2015 mới chỉ có 9 ngân hàng thương mại cổ

phần đang niêm yết trên thị trường chứng khốn tập trung, sớ còn lại giao

dịch chứng khốn trên thị trường phi tập trung cần cố gắng thõa mãn các tiêu

17



Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Thảo, 2015



85



nhiên, mức độ công bố thông tin theo kết quả nghiên cứu chỉ mới vượt ngưỡng



82

chuẩn để được niêm yết trên thị trường chứng khoán tập trung nhằm minh

bạch hóa thông tin.

4.2. ĐỐI VỚI CƠ QUAN QUAN LÝ NHÀ NƯỚC

Cơ quan quản lý nhà nước ban hành chế tài xử phạt các ngân hàng không

tuân thủ quy định công bố thông tin đối với Báo cáo thường niên. Trước thực

trạng chậm trễ công bố báo cáo thường niên của hàng loạt ngân hàng thương

mại cổ phần kèm theo mức độ cơng bớ chỉ vượt ngưỡng giá trị trung bình là

53%, các ngân hàng thương mại cổ phần đã quá coi thường, xem nhẹ hoặc

thường niên như đã nêu ở phần đánh giá thực trạng công bố làm cho thông tin

trên thị trường thiếu minh bạch, không cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác

thông tin cho các nhà đầu tư, người gửi tiền,… Từ đó, các đối tượng sử dụng

thông tin sẽ không đủ sơ sở để đưa ra các quyết định, hoặc đưa ra các quyết

định ảnh hưởng đến lợi ích của chính họ trong tương lại mà họ không lường

trước được, hậu quả để lại làm giảm niềm tin của đối tượng sử dụng thông tin

đối với báo cáo thường niên của doanh nghiệp, dòng vớn chảy về nơi được sử

dụng kém hiệu quả và điều này sẽ làm ảnh hưởng đến sự phát triển nền kinh

tế Việt Nam.

Đối với các thông tin trên báo cáo tài chính được đảm bảo bởi cơ quan

kiểm tốn đợc lập nhưng thông tin trên báo cáo thường niên chưa có một sự

quy định nào của nhà nước về việc đảm bảo sự chính xác về nợi dung thơng

tin. Vì vậy, nhà nước cần có quy định cụ thể về việc kiểm tra độ chính xác của

Báo cáo thường niên của các ngân hàng thương mại trước khi công bố.

Nhà nước cần có chế tài xử phạt vi phạm cần phải nặng tay hơn, vừa

mang tính cảnh báo, vừa mang tính răn đe và nâng cao ý thức của các ngân

hàng thương mại trong việc công bố các thông tin. Tùy theo mức độ vi phạm

trong việc chậm công bố thông tin, báo cáo có nội dung không chính xác Ủy



85



chưa nhận thức được tầm quan trọng của thông tin công bố trong báo cáo



83

Ban Chứng khoán nhà nước có thể nâng mức phạt tiền hành chính từ

70.000.000 đồng – 100.000.000 đồng lên mức cao hơn.

Bộ Tài Chính cần kết hợp với Ủy Ban Chứng khoán nhà nước đưa ra

những quy định về đánh giá mức độ công bố thông tin trên Báo cáo thường

niên của các ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam, từ đó xếp hạng các

ngân hàng về mức độ công bố thông tin để giúp cho các đối tượng sử dụng

thông tin đánh giá về các ngân hàng đồng thời đó cũng là động cơ thúc đẩy

các ngân hàng thương mại cổ phần nâng cao chất lượng thông tin công bố

Khuyến khích các ngân hàng công bố thông tin tự nguyện. Bộ Tài Chính

cần có cơ chế khen thưởng như các giải thưởng, vinh danh trên các tạp chí

hằng năm đối với các ngân hàng công bố nhiều thông tin tự nguyện.

4.3. NÂNG CAO TRÁCH NHIỆM CỦA TRUYỀN THÔNG TRONG

VIỆC CÔNG BỐ THÔNG TIN

Có rất nhiều nhà đầu tư tham gia thị trường chứng khoán nhưng không

phải nhà đầu tư nào cũng am hiểu, có khả năng phân tích thông tin. Đồng

thời, thông tin mà các nhà đầu tư tiếp cận theo nhiều hình thức, phương tiện

khác nhau. Website của các ngân hàng thương mại cổ phần chính là địa chỉ tin

cậy mà được phần lớn các đối tượng sử dụng thông tin biết đến cũng như khai

thác thông tin từ đây. Tuy nhiên, qua nghiên cứu cho thấy nhiều ngân hàng

vẫn chưa thực sự tô điểm thông tin nói chung và công bố báo cáo thường niên

trên website của chính ngân hàng đó thật sự đầy đủ. Để đảm bảo tính kịp thời

trong việc cung cấp thông tin cho nhà đầu tư, người gửi tiền, … để đưa ra

quyết định trong việc đầu tư, gửi tiền tiết kiệm, … thì các ngân hàng thương

mại cở phần cần chú trọng vào vấn đề công bố thông tin trên website. Đồng

thời, cơ quan nhà nước cần kiểm tra, giám sát thời gian công bố báo cáo

thường niên của các ngân hàng thương mại cổ phần theo quy định.



85



trong báo cáo thường niên của mình .



84

Trùn thơng chính là công cụ nhanh nhất và hiệu quả nhất giúp các nhà

đầu tư có thể tiếp cận với các thông tin trên thị trường chứng khoán. Tuy

nhiên, hiện tại hệ thống truyền thông và quản lý thông tin trên các phương

tiện trùn thơng còn gặp nhiều khó khăn, chưa đảm bảo được tính chân thực

và khách quan của các thông tin mà giới trùn thơng đưa ra. Vì vậy, cơ quan

nhà nước có thẩm quyền cần phải kiểm soát các luồng thông tin trong giới

truyền thông.



85



KẾT LUẬN

Nghiên cứu này đã hệ thớng hố các kiến thức liên quan đến việc công

bố thông tin của các ngân hàng; xây dựng được 79 mục thông tin bắt buộc và

71 mục thông tin tự nguyện làm cơ sở cho việc đo lường mức độ công bố

thông tin trong báo cáo thường niên của các ngân hàng thương mại cổ phần ở

Việt Nam; đồng thời, kết quả của nghiên cứu cung cấp cho độc giả mợt cái

nhìn về thực trạng đáng báo đợng về mức độ công bố thông tin chỉ mới vượt

ngưỡng trung bình của các ngân hàng thương mại cở phần ở Việt Nam; các

ngân hàng thương mại cổ phần lập báo cáo thường niên dường như chỉ mang

tính chất đối phó, chưa chú trọng và đầu tư công sức cũng như chưa nhận thức

được tầm quan trọng của lợi ích từ việc công bố thông tin; nghiên cứu này đã

chỉ ra và lượng hóa các hai nhân tố Quy mô ngân hàng và Thời gian hoạt

động của ngân hàng ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo

thường niên của các ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam. Qua đó, tác

giả đóng góp một số giải pháp nhẳm giúp cho các bên có liên quan đánh giá,



85

đề ra chính sách thích hợp nhằm nâng cao chất lượng công bố thông tin của

các ngân hàng.

Một hạn chế của nghiên cứu chỉ mới phân tích các nhân tố bên trong

doanh nghiệp đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo thường niên, chưa

chú trọng vào phân tích các nhân tớ bên ngồi ngân hàng. Đồng thời, nghiên

cứu chỉ mới chú trọng ở việc đo lường mức độ công bố thông tin ở khía cạnh

số lượng mục thông tin mà chưa chú trọng nhiều đến chất lượng các mục tin

mà ngân hàng công bố.

hàng có thể dựa vào kết quả đạt được của nghiên cứu để đo lường phạm vi, chất

lượng công bố theo từng mục tin cụ thể mà nghiên cứu này đã xây dựng.



85



Trong tương lai, các nhà nghiên cứu về lĩnh vực công bố thông tin của ngân



TÀI LIỆU THAM KHAO

Tiếng Việt

[1] TS. Nguyễn Chí Đức, Ths.Hồng Trọng (2012), “CEO và tự ngụn cơng

bớ thơng tin của các doanh nghiệp niêm yết”, Tạp chí Khoa học &

Ứng dụng, 20 (18), tr. 62 – 68

[2] Nguyễn Minh Huy (2015), Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ

công bố thông tin trong báo cáo tài chính của ngân hàng thương mại

tại Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Đại học Đà

Nẵng, Đà Nẵng.

[3] Nghiên cứu của Phan Tôn Nữ Nguyên Hồng (2014), Nghiên cứu các nhân

tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính

của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành vận tải niêm yết trên thị

trường chứng khoán Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh

doanh, Đại học Đà Nẵng, Đà Nẵng.

[4] Dương Thị Diệp Mai (2012), Thông tin bất đối xứng trong hoạt động của

ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế,

Luận văn thạc sĩ Tài chính Ngân hàng, Đại học Kinh Tế, Đà Nẵng.

[5] Nguyễn Đoàn Trang Phương (2010), Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ

công bố thông tin của các công ty niêm yết trên thị trường khốn

Việt Nam, Kỷ ́u Hợi thảo “35 năm phát triển và hội nhập Trường

Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng”, Đại học Đà Nẵng, Đà Nẵng.

[6] Nguyễn Công Phương, Võ Hồng Tâm, Huỳnh Ngọc Quang, Võ Thị Thúy

Trang, Nghiên cứu thực trạng công bố thông tin trong báo cáo tài

chính của các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khốn

Thành phớ Hồ Chí Minh, Đề tài khoa học và công nghệ cấp cơ sở,

Đại học Đà Nẵng, Đà Nẵng.



[7] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Phương (2012), Phân tích các nhân tố

ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính

của các doanh nghiệp niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán thành

phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Đại học

Đà Nẵng, Đà Nẵng.

[8] Nguyễn Thị Thu Thảo (2015), “Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công

bố thông tin tự nguyện của các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE”,

Tạp chí Phát triển Kinh tế, 26(11), tr. 99 – 115.

[9] Lê Trường Vinh, Hoàng Trọng (2008), Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ

minh bạch thông tin của doanh nghiệp niêm yết theo cảm nhận của

nhà đầu tư, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế

Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh.

Tiếng Anh

[10] Ahmed, K., and Nicholls, D. (1994), "The Impact of Non-financial

Company Characteristics on Mandatory Compliance in Developing

Countries: The Case of Bangladesh", The International Journal of

Accounting, 29(1), pp. 60-77.

[11] Akhtaruddin, M. (2005), "Corporate Mandatory Disclosure Practices in

Bangladesh", International Journal of Accounting, 40, pp. 399-422.

[12] Barrett, M. E. (1977), "The Extent of Disclosure in Annual Report of

Large Companies in Seven Countries', The International Journal of

Accounting, 13(2), 1-25.

[13] Baumann, U., and Nier, E (2003), "Market Discipline, Disclosure and

Moral Hazard in Banking", bank of England Working paper.

[14] Berger, A. (1991). Market Discipline in Banking, In Proceedings of a

Conference on Bank Structure and Competition, Federal Reserve

Bank of Chicago, 419-437.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRONG BÁO CÁO THƯỜNG NIÊN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×